Lộc Tồn (Danh cho ban nao muon biet minh giau hay ko)

Hỏi đáp, luận giải về tử vi
KENT
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1086
Tham gia: 23:02, 18/10/10

Re: Lộc Tồn (Danh cho ban nao muon biet minh giau hay ko)

Gửi bài gửi bởi KENT »

Ai xem giup cung tai va quan dum e voi
Đầu trang

thamlangff
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1551
Tham gia: 14:28, 08/08/19

Re: Lộc Tồn (Danh cho ban nao muon biet minh giau hay ko)

Gửi bài gửi bởi thamlangff »

panda83 đã viết:
16:28, 30/08/16
Luu y cac bac nen hoc & hieu cung xung chieu cung de biet duoc THAN doi sau co giau hay khong nhe'
(Luu y: Xin dung QUOTE toi, vi toi khong the giai la so tu vi cua ban duoc... cac ban can hoc cach giai cho rieng minh)
http://diendan.lyhocdongphuong.org.vn/bai-viet/649-cach-giau-nhung-sao-huu-san/page-2

Cách Giầu Những Sao Hữu Sản

A. Cách Giàu Qua Các Cung

Phú là một cách quan trọng cho đời người. Vì vậy, la số Tử Vi dành rất nhiều cách, cục để nói về phú, qua các cung và rất nhiều sao. Mặt khác, thường khi phải xem cả lá số nhười phối ngẫu, vợ hay chồng, để biết tình trạng giàu nghèo nói chung của gia đình.

Về các cung, có những cung mô tả cách giàu của mình. Có cung chỉ cách giàu tiền, có cung chỉ cách giàu ruộng đất.

1. Cung Phúc đức

Cung này chỉ tài sản của dòng họ, thường là của ông bà, xa hơn là tổ phụ

Cung Phúc tốt là điềm có di sản. Di sản mà lớn lao thì mới bảo đảm được sinh kế dễ thở lúc thiếu niên, giúp cho tuổi trẻ khỏi bị bận tâm về vấn đề sinh nhai. Mặt khác, cung Phúc tốt sẽ giúp con người có của ngay từ lúc mới chào đời. Khéo giữ của thì của đó bành trướng thêm và là yếu tố căn bản cho việc làm giàu. Người giàu nhờ di sản chẳng bao giờ bắt đầu bằng con số không. Tài sản thụ hưởng đó có ảnh hưởng trực tiếp đến tài sản do mình tạo lập về sau vì cung Phúc chiếu thẳng vào cung Tài. Vì vậy người ta nói cung phúc tốt là có của Trời cho.

2. Cung Phụ Mẫu

Cung này chỉ tài sản của cha mẹ. Nếu có nhiều sao tốt, nhất là sao tài thì cha mẹ dư dả, có thể giúp đỡ cho mình một cách đáng kể, nhất là trong giai đoạn lập nghiệp buổi đầu. Sỡ dĩ như thế là vì cung Phụ mẫu bao giờ cũng tiếp giáp cung Mệnh, ngụ ý rằng, đương sự vốn phải sống nhờ cha mẹ, ít nhất là trong buổi thiếu thời. Nếu cung Phụ mẫu tốt thì nếp sống đó hạnh thông, giúp con người bước vào đời bằng một số vốn nào đó chứ không phải bằng hai bàn tay trắng. Mặt khác, liên hệ giữa hai cung Phụ mẫu và Mệnh còn rõ ràng hơn nếu cung Mệnh được nhị hợp với cung Phụ mẫu.

3. Cung Mệnh

Về mặt tài sản, cung này chỉ khả năng thụ hưởng và khả năng tạo sản của mình. Nếu Mệnh tốt, đương số có triển vọng thụ hưởng sản nghiệp thừa tự và nhờ đó bành trướng thêm của cải khác.

Duy cung Mệnh không mấy quan trọng về mặt tạo sản bởi lẽ cung này ứng vào lúc thiếu niên, lúc con người đang tập sự vào nghề, đang đầu tư vào nghề nghiệp sau này, chưa đến lúc thụ hưởng lợi lộc của nghề nghiệp mang lại. Tuổi niên thiếu là tuổi tiền tiêu nhiều hơn là làm ra tiền.

Dù sao, nếu cung Mệnh có sao tốt, thì sự đầu tư có triển vọng đắc lợi về sau, hoặc là sẽ sớm có được của cải trong thời gian đang học nghề.

4. Cung Thân

Cung Thân tượng trưng cho hậu vận, tức từ khoảng 30 tuổi trở đi. Đây mới là giai đoạn tạo sản, là thời kỳ mà nhân đắc dụng và sáng tạo nhất. Nếu Thân tốt thì tạo và hưởng được sản nghiệp, đủ nuôi thân và có thể nuôi gia đình, thân thuộc. Hơn nữa, Thân còn có thể xem là cung Tài thứ hai, vì cung Thân có ý nghĩa đa diên, bao hàm công danh, tài sản, gia đạo v..v..

Trong trường hợp Thân cư Tài, sự tạo sản sẽ tích cực hơn: con người nỗ lực xây dựng của cải, ha, kiếm tiền, bị chi phối nhiều bởi xu hướng làm giàu, thích tiền của, điền sản hơn là quyền tước, công danh. Bấy giờ, nếu cung Tài tốt, đương số dễ thành đại phú.

Trong trường hợp Thân đóng ở cung khác , những hay dở của cung này sẽ có tiếng dội trên của cải. Nếu ở cung Phu Thê, cái hay của cung này nhất định có lợi cho việc tạo của, bằng sức lực, công lao hay di sản của vợ chồng. Nếu cung Di tốt đẹp, thì bấy giờ thời thế sẽ thuận lợi cho việc làm ăn nhất là ở phương xa.

Tóm lại, cung Phúc và cung Phụ là tài sản thiên định cung Thân là tài sản nhân tạo của hiện kiếp và báo hiệu tài sản của hậu kiếp trong đời con cháu . Vì vậy cung Tài mới tiếp giáp và ảnh hưởng vào cung Tử.

5. Cung Tài

Tài ở đây chỉ tiền bạc, bất đọng sản, quí kim, cổ phẩn, trương mục, tiền tích trong tủ, trong ngân hàng, tiền để dành và tiền đầu tư.

Nếu hai cung Mệnh và Thân mô tả nếp sống tổng quát của con người trong hai đoạn tiền vận và hậu vận, thì cung Tài mô tả chi tiết tình trạng tài chính, nhất là trong giai đoạn hậu vận (khả năng kiếm tiền, giữ tiền, mức độ giàu nghèo, nguyên nhân hao phí...). vì tiền bạc thường tích tụ vào lúc con người lập thân, cho nên cung Tài và cung Thân có nhiều liên hệ mật thiết, đặc biệt khi Thân cư Tài.

Một điểm cần lưu ý là ngày nay, cung Tài chứa một nội dung và nhiều hình thái phong phú hơn ngày xưa. Thủa xưa, tài chỉ tiền bạc, vàng mà thôi. Còn ngày nay, nhờ sự phát triển ngành ngân hàng và nới rộng mậu dịch, cung Tài còn chỉ cả trương mục, cổ phần, mà giá trị còn hẳn cao hơn hiệu kim tích trữ.

6. Cung Điền

Theo quan niệm xưa, nặng vè nông nghiệp, chữ Điền TRạch chỉ nhà và đất (ruộng, vườn), do di sản hay do mua sắm. Nhưng ngày nay, nhờ sự bành trướng của kỹ nghệ và tiện nghi vật chất, cung Điền còn chỉ luôn xí nghiệp, sản phẩm biến chế, hoa mầu trên mặt đất và khoáng sản dưới lòng đất, đồng thời chỉ cả máy móc, xe cộ dính liền với các bất động sản đó. Cho nên chữ Điền ngày nay phong phú hơn chữ Điền ngày xưa.

Cung Điền tốt chỉ có nhiều bất động sản và động sản liên hệ. Thông thường cái tốt của Điền phản ánh hoăc ảnh hưởng đến cái tốt ở cung Tài. Lý do là có tiền mới sắm được bất động sản lớn. Tài là yếu tố của Điền, Điền là thể hiện của Tài, theo một hàm số liên hệ nhân quả. Nếu cả hai cung đều tốt thì là phú gia địch quốc.

7. Cung Quan

Cung này bao gồm bổng lộc do chức tước hay nghề nghiệp tạo ra, cho nên bổ túc cho hai cung Tài và Điền. Cung Quan càng có thêm ý nghĩa tài sản nếu Thân cư Quan.

Theo quan niệm xưa, cung này chỉ quan trọng cho phái nam. Duy quan niêm này đang thay đổi vì trong xã hội hiện nay, phụ nữ ngày càng có nhiều địa vị xã hội, có nghề nghiệp và sinh kế riêng, bổ túc cho sinh kế của chồng. Vì vậy, xem số phụ nữ có địa vị, phải để ý thêm cung Quan. Mặt khác, cung Thê của nam số cũng góp phần bổ túc ý nghĩa tài sản của vợ, trong trường hợp người vợ có nghề nghiệp riêng.

8. Cung Di

Phần lớn những nhà giàu có của nhờ gặp thời. Vì thế cung Di góp phần khá quan trọng cho việc lập nghiệp.

Trong trường hợp Thân cư Di mà được cung Di tốt đẹp, ý nghĩa này càng rõ rệt. Đặc biệt là cung này có tài tinh, sao may mắn, sao trợ tài. Bấy giờ, khả năng của đương số sẽ không quan trọng bằng sự hên may của thời vân.

9. Các cung Hạn

Trong lá số, bất cứ cung nào cũng có thể là cug hạn (đại hạn 10 năm, tiểu hạn từng năm một). Các cung hạn ghi nhận những biến cố, những thay đổi về mọi phương diên trong đó có phương diện tài sản. Tuy cung hạn bị đóng cung trong cung Thân, cung Mệnh, cung Tài, song nếu gặp cung hạn tôt, tài vận vẫn có thể khá lên được, dù cung Mệnh, Thân hay Tài, Điền tầm thường.

Trong khi bốn cung Tài, Điền, Quan, Phúc nói lên tình trạng tổng quat thì các cung Hạn đi vào chi tiết của vấn đề tài sản. Cụ thể như cung Hạn cho biết năm đắc tài, năm nào hao của, nguyên nhân của việc thủ đắc hay hao tán v.v...

B. Cách Giàu Qua Các Sao

* Cách giàu phải có các điều kiện sau đây:

- phải có chính tinh miếu, vương địa đóng ở các cung liên hệ đến tài sản, nhất là Tài và Điền. Nếu đó là tài tinh thì càng hay. Nếu có nhiều tài tinh đồng cung ở đấy càng tốt đẹp nữa. Đó là hai trường hợp gọi là thuận vị.

- phải được Âm, Dương sáng sủa chiếu vào hai cung Tài, Điền;

_ phải có phụ tinh tốt, nhất là tài tinh đóng ở hai cung Tài, Điền hay ít ra ở những cung Mệnh, Thân, Phúc, Quan. Nếu tài tinh hay cát tinh đắc địa thì càng tốt thêm;

- phải có sao giữ của đóng ở những cung Tài, Điền, Quan, Di, Mện, Thân;

- phải có sao hưởng của ở những cung tài sản hay ở Mênh, Thân, Phúc, Quan;

- phải có sao di sản ở những cung này;

- phải tránh các hao tinh, sát tinh, hung tinh, hình tinh. Nếu không các loại sao này phải đắc địa hoặc có sao giải đi kèm thì sức phá sẽ giảm nhẹ;

- cát và tài tinh phải tránh hai sao Tuần, Triệt mới bảo toàn hiệu lực cho cát tinh và tài tinh được.

Trong trường hợp cung Tài, Điền không có chính tinh thì phải có những điều kiện dưới đây bổ túc:

- có tứ Không, tam Không hay ít ra nhị Không, tức là các sao Tuần, Triệt, Địa Không và Thiên Không. Bốn sao này một phần tọa thủ, một phần họi chiếu;

- có Thái Âm, Thái Dương sáng sủa chiếu vào cung vô chính diện: đây gọi là trường hợp Nhật Nguyệt chiếu hư vô, mặt trời mặt trăng chiếu vào cõi vô cực;

- nếu khong được Âm Dương chiếu thì tối thiểu cung Tài, Điền vô chính diện phải có chính tinh miếu, vương địa xung chiếu vào.

* Các sao giàu cần được chia làm bốn loại:

- tài tinh, nghĩa là các sao trực tiếp chỉ tiền bạc và điền sản;

- sao trợ tài, nghĩa là các sao giúp đỡ thêm mãnh lực cho các tài tinh;

- sao may mắn nói chung;

- một số sao giữ của, giúp cho sự cầm của được chắc chắn và lâu bền, tránh hao tán, phá sản.

Phải đủ điều kiện kể trên, mới đủ phú cách và phú cách đó mới dồi dào và lâu dai.


1. Những sao tài

Nói chung bất cứ chính tinh nào miếu và vương địa đều lợi cho tài sản. Nếu chính tinh lại là sao tài dưới đây càng hay:

- Vũ khúc miếu và vương địa

Chỉ sự giàu có, dư dả nói chung, thông thường là giàu về tiền bạc. Nhưng, nếu đóng ở cung Điền thì sẽ giàu về nhà đất.

Vũ Khúc không phân biệt nguyên nhân việc có của: bằng buôn bán, bằng quan tước, bằng kỹ nghệ, bằng ngân hàng, kinh tế v.v..Thiết tưởng ta không nên xác định cụ thể nghề nghiệp nào của Vũ Khúc, chỉ có thể nói rằng sao này liên hệ rất nhiều đến kinh tế, tài chính. Nếu làm việc công thì là quan coi kho, phụ trách ngân khố cho chính phủ hay phủ trách kinh tế quốc gia (thuế vụ, ngân hàng ngoại thương, nội thương). Ngày nay vì ngành xí nghiệp tư phát triển mạnh cho nên Vũ Khúc chỉ cả tư chức làm việc trong ngành kinh tế, tài chính (quản trị xí nghiệp, ngân hàng tư, xuất nhập cảng, thương gia, kỹ nghệ gia, xuất nhập cảng, hối đoái, nghiên cứu kinh tế tài chính v.v..)

Vũ Khúc sáng sủa báo hiệu một thế lực tài phiệt lớn, tức là người nhờ đồng tiền mà có thế lực, đặc biệt là khi đi đôi với Thiên Phủ, Lộc Tồn hay Hóa Lộc.

- Thiên phủ

Chỉ cái kho lớn của trời đât, nghĩa bóng là tài nguyên quốc gia, tất cả những gì sinh lợi cho nhà nước, bất luận lãnh vực nào (thuế má, kinh doanh, thương mại, ngân hàng, ngân khố, quan thuế, coi kho, thủ quỹ, phát lương, tồn trữ sản phẩm...). Đây là một tài tinh quan trọng tương tự như Vũ Khúc.

Nếu cả hai sao đồng cung và đặc biệt có thêm Hóa Lộc, Thiên Mã hay Lộc Tồn thì tài sản càng dồi dào, miễn là không bị sát, hung, hao tinh xâm phạm. Giữa Vũ và Phủ, rất khó phân biệt sao nào mạnh hơn. Có người cho rằng Phủ là đệ nhị chính tinh, đứng sau Tử Vi, thế tất phải mạnh hơn Vũ...Có quan niệm thì cho rằng Phủ là sao tầm thường và không chế nổi hung tinh hạng nhẹ như Kinh, Đà, Linh, Hỏa nên kém hơn Vũ.

- Thái âm, Thái dương sáng sủa

Biểu tượng cho hai nguyên lý âm, dương của trời đất. Nhật, Nguyệt có nghĩa bóng là phước của trời đất dành cho mình. Về phương diện tài sản, phước đó cụ thể bằng sự giàu có.

Nếu dựa vào nguyên nghĩa nói trên mà suy luận thì sự thịnh vượng của Âm Dương bắt nguồn từ việc đắc thời, từ vận hội tốt đẹp của đất nước, phù hợp với năng khiếu làm giàu của mình, trong thời bình hoặc trong thời loạn. Điều này được thể hiện qua việc hai sao này thường hội chiếu lẫn nhau. Nếu cả hai sao này gia tăng tài lộc dồi dào, đặc biệt cho những người có giờ sinh tương hợp. Nếu đồng cung thì phải có thêm Hóa Kỵ hay Tuần ha Triệt mới hay.

Ngoài ra, có thể nói sự thịnh vượng đó do cha mẹ để phúc lại vì Thái Âm tượng trưng cho mẹ, Thái Dương cho cha. Nếu cả hai sao cùng sáng thì cha mẹ giàu có, thường để lại di sản cho con cháu. Nếu không giàu thì ít ra cũng thọ.

Riêng Thái Âm trực tiếp có nghĩa điền sản. Đây là sao điển hình cho ai hành nghề bất động sản (chủ điền, chủ phố, chủ đồn điền, xí nghiệp, mua bán nhà đất ...). Cho nên, nếu đóng ở Điền thì rất hợp vị. Vì vậy, người ta cho rằng, về mặt của cải, Thái Âm lợi hơn Thái Dương. Ngay cả trong trường hợp Âm, Dương đồng cung (ở Sửu hay Mùi), nếu được Tuần, Triệt án ngữ (hay có Hóa Kỵ đồng đi kèm) thì Âm vẫn thịnh hơn Dương vì Sửu và Mùi là 2 cung Âm.

Riêng Thái Dương đi với Thiên Lương ở Mão với Cự Môn ở Dần, hoặc Thái Âm đi với Thiên Đồng ở Tý cũng rất giàu có.

Việc cung Tài giáp được Âm, Dương sáng sủa cũng chỉ dấu hiệu của sự dư dả. Về mặt nghề nghiệp, đó là nghề dính dáng đến tiền bạc.

- Tử vi

Tử Vi là đế tinh, có ý nghĩa tốt toàn diện, cả về mặt tài sản. Nhưng, Tử Vi không phải là sao tài đúng nghĩa. Đóng ở cung Tài, Điền vẫn lợi lộc, nhất là ở Dần, Thân, Tị, Hợi. Tại bốn vị trí này, Tử Vi hội với Thiên Phủ là tài tinh, nhất là ở hai cung Dần và Thân, Tử Vi và Thiên Phủ đồng cung cho nên hiệu lực về tài chính cũng thêm nhiều.

Nếu Tử Vi ở Ngọ thì rất rực rỡ, tài lực càng sung mãn.

- Cự môn, Thiên cơ đồng cung

Hai vị trí đồng cung của Cự, Cơ là Mão và Dậu, song ở Mão đẹp hơn ở Dậu. Hai sao kết hợp thì tạo được tài lộc dồi dào, nhờ tài năng cạnh tranh, óc tính toán, đa mưu, biết người biết việc, biết phương pháp, mánh khóe, chiến lược kinh doanh, biết tường tận môi trường tài chính, rất thích hợp cho các ngành nghiên cứu về kinh tài. Cự, Cơ là sao của các nhà đại kinh doanh, tư bản lớn, làm ăn trên các môi trường lớn, các gút kinh tế hoặc của các chiến lược gia kinh tế. Đi chung với tài tinh khác như Hóa Lộc, Song Hao, ý nghĩa trên càng chắc chắn.

Riêng Cự Môn đơn thủ ở Tý Ngọ cũng giàu có tự lập từ tay trắng rồi bộc phát lẹ làng, nhất là trong lúc loạn, cạnh tranh.

- Thiên cơ, Thiên lương đồng cung

Thế đồng cung của hai sao này chỉ có ở hai cung Thìn và Tuất. Tại đây Cơ, Lương chỉ sự giàu có dễ dàng. Thiên Cơ chỉ mưu trí, xảo thuật kiếm tiền, Thiên Lương chỉ cơ hội tốt đẹp và may mắn, đồng thời cũng chỉ thiện tính của nhà buôn bán, kinh doanh.

Nếu Lương chỉ đơn thủ ở Tý, Ngọ thì cũng giàu có. Đồng cung với Thái Dương ở Mão, với Thiên Đồng ở Dần Thân thì cũng đắc phú như vậy.

Cách giàu của các sao đi chung với Thiên Lương đều lương thiện, có tinh thần xã hội, cứu độ, tạo công ăn việc làm cho kẻ khác.

- Vũ khúc, Tham lang đồng cung

Hai sao này kết hợp điển hình cho ngành kinh doanh thương mại. Tham lang chỉ sự hám lợi, mưu tìm cái lợi tối đa. Vũ Khúc chỉ tiền bạc. Cả hai sao kết hợp là người tham tiền, ham lợi, đặc điểm của doanh thương. Vì có sự hiện diện của Tham Lang, nên sự buôn bán này không lương thiện, thành thật bằng Cơ, Lương.

Ngoài ra, vì cùng là bắc đẩu tinh hết cho nên Vũ, Tham đắc tài lúc hậu vận.

Riêng Tham Lang đơn ở Thìn, Tuất cũng rất giàu, nhất là về già. Cách giàu này rất nhanh, có tính cách hoạch phát. Hình chất khả hữu là sự kinh doanh táo bạo, tốc chiến tốc thắng, phù hợp với đặc tính của Tham Lang. Duy Tham Lang là sao tham lam, trục lợi, cho nên cách doanh thác này không mấy chính đáng. Hình thái đầu cơ tích trữ, cầm giá, kìm giá, thao túng thị trường, độc quyền mại bản có thể rất thông dụng

- Thiên đồng miếu địa

Sao này không phải là phú tinh mà là phúc stinh. Vì phúc tinh bao hàm cả lĩnh vực tiền bạc cho nên Thiên Đồng đắc địa cũng là đắc phú: đó là trường hợp Thiên Đồng ở Mão, chỉ người tay trắng lập nghiệp, chắc chắn nhờ may mắn, phúc đức. Duy cách giàu của Thiên Đồng phải nhọc sức, đi đây đi đó buôn bán mới có của, kiểu như các nhà môi giới, các đại diện thương mại, các người giao hàng, trình dược viên, quảng cáo lưu động, tùy viên thương mại ở nước ngoài hoặc ở xa trụ sở kinh doanh.

Đồng đi chung với Thiên Lương ở Dần Thân cũng rất thịnh vượng và lương thiện, thông thường kinh doanh trên các nghề nghiệp hợp pháp và có khuynh hướng bố thí, hào sảng, có của, làm ra của đông thời cũng làm cho ngươi khác có của theo.

- Thiên tướng

Tướng không phải là tài tinh, nhưng nếu ở Tỵ, Hợi, Sửu, Mùi hoặc đồng cung với Liêm Trinh ở Tý, Ngọ, với Tử Vi ở Thìn, Tuất thì cũng làm giàu dễ dàng mà lại lâu bền, chắc chắn và chính trực.

- Phá quân miếu địa

Cũng không phải là sao tài, nhưng nếu miếu địa ở Tý, Ngọ thì cũng phong phú. Tuy nhiên, cách giàu của Phá Quân, dù có nhanh chóng dễ dàng nhờ mạo hiểm, liều lĩnh, bạo dạn, nhưng đồng thời cũng có nhiều bất trắc vì tính mạo hiểm. Dù sao, Phá Quân vẫn giữ bản chất hao tán, cho nên cái giàu rất mong manh. Cũng vì đó cho nên Phá Quân dù kết hợp với chính tinh nào cũng không chắc duy trì lâu dài sự giàu có.

- Thất sát miếu địa

Cũng không phải là tài tinh, nên chỉ có của khi nào miếu địa ở Dần Thân và Tý Ngọ. Duy cái giàu của Thất Sát rất bất thường, thường là chậm, chỉ phát sau giai đoạn lập thân, phát lúc bất ngờ, cho nên có tính cách hoạch tài.

Đi chung với Tử Vi thì kiếm tiền dễ, nhanh vì Thất Sat hỗ trợ cho Tư Vi, trong khi Phá Quân làm suy bại Tử Vi.

Nói tóm lại, cách giàu phải có tài tinh chinh cống và miếu địa. Những phúc tinh, quyền tinh, võ tinh chỉ có ý nghĩa giàu khi nào miếu địa. Những sao giàu kể trên đây có thêm trung tinh trợ lực mới mạnh thêm. Lẽ dĩ nhiên, các sao trên phải tránh các sao phá tán của cách nghèo.

Đối với trung tính, cũng có loại sao tài, cũng có loại sao may mắn, loại sao giữ của.

- Lộc tồn

- Là một tài tinh quan trọng, báo hiệu dư ăn dư để, khả dĩ gọi là giàu có. Tồn có hai ý nghĩa, tích cực và tiêu cực.

Về mặt tiêu cực. Tồn chỉ "lộc ăn", nghĩa là có nhiều cơ hội được tiền bạc, điền sản, lợi lộc nói chung. Sự lợi lộc này thường do hai nguyên nhân:

- di sản tổ phụ, cha mẹ: người có Tồn ở Phúc, Mệnh thường được hưởng ít nhiều của cải của thân tộc;

- do người khác biếu xén, tặng, giúp đỡ.

Với hai khía cạnh này, Tồn đắc lợi từ kẻ khác. Tuy nhiên, đây chỉ là khía cạnh tiêu cực.

Về mặt tích cực, sao này chỉ người tháo vác, có tài tổ chức, có tính toán và quyền biến theo hoàn cảnh, những đức tính cần thiết cho việc tạo của cho người biết làm của cải sinh lợi. Nói khác đi, đó là năng khiếu buôn bán, tính chất của nhà buôn, đó là khả năng của các ủy viên tổ chức, của giám đốc thương mại, của trưởng cơ quan tài chính, kinh tế. Trong lĩnh vực tư, Tồn rất thích hợp với thương gia, nhất là nhà kinh doanh lớn, hiểu biết và lợi dụng được thị trường. Nếu không hành nghề buôn bán, thì ý nghĩa tiêu cực sẽ nội bật hơn.

Mức độ ảnh hưởng của Lộc Tồn nhiều ít tùy theo tuổi. Theo cụ Thiên Lương, một nhà lý số đương thời, nguyên tắc chính để hưởng thiên lộc của sao này là cung Mệnh phải tọa thủ hay tam chiếu với cung có Lộc Tồn trấn đóng. * Đây là một lý đương nhiên. Duy cụ Thiên Lương đã có công chi tiết hóa và lượng giá mức độ, hoàn cảnh hưởng thụ. Theo cụ:

° Mệnh có Lộc tồn tọa thủ hay tam chiếu thì hưởng lộc.

° Nếu tọa thủ thì hưởng nhiều, tam chiếu thì hưởng ít hơn thế tọa thủ

° Nếu nhị hợp thì ít hơn nữa.

° Điều đáng chú ý là theo cụ Thiên Lương. Lộc Tồn ở thế xung chiếu Mệnh lại không được kể.

- Hóa lộc

Nói chung, sao này đồng nghĩa với Lộc Tồn. Tuy nhiên, Hóa Lộc ngay thẳng, thành thật, không mưu cơ như Lộc Tồn. Hóa Lộc làm giàu một cách chính đáng, cạnh tranh ngay thẳng hơn, óc con buôn tương đối vừa phải, không mấy hám tài, tham lợi như Lộc Tồn.

Dường như cái giàu của Hóa Lộc dẽ dàng hơn, không đua chen, lăn lộn nhiều với sinh kế, phần ý nghĩa tích cực của Lộc Tồn ứng dụng nhiều cho Hóa Lộc. Trong khi Lộc Tồn tha thiết giữ của thì Hóa Lộc tương đối hào sảng, biết hưởng thụ chứ không phải chỉ biết lo chắt mót: đây là người có tiền, chịu ăn chơi và chịu chi tiêu. Tâm lý của Hóa Lộc không chặt chẽ xài kỹ như Lộc Tồn. Hóa Lộc có thể là một Mạnh Thường Quân dám bố thí, hiến của trong khi Lộc Tồn hãy còn tính toán hơn thiệt, nếu không nói là ích kỷ. Vì vậy, Hóa Lộc cầm của kém hơn Lộc Tồn, dù cả hai sao đều dư ăn dư để.

Ở vị thế hội chiếu, hai sao này đảm bảo giàu có. Tuy nhiên nếu đồng cung lại kém vì Tồn thuộc Thổ. Lộc thuộc Mộc, hai hành xung khắc, có thể lụy vì tiền, có lẽ vì quá tham kiếm tiền.

Hóa Lộc hay Lộc Tồn kết hợp với Thiên Mã càng thêm giàu có.

- Thiên mã

Đắc địa ở Dần, Tỵ và phần nào ở Thân, Thiên Mã cũng có ý nghĩa tài lộc, phần lớn nhờ tháo vác, lanh lợi, khôn ngoan, xoay trở khéo, quán xuyến, chịu khó, chí thú làm ăn, tương ứng với các đức tinh của ngựa hay, chạy nhanh và bền. Duy cái giàu của Thiên Mã do tự lực, tay làm hàm nhai, cho nên cực. Mặt khác, đó cũng là cái giàu ở tha phương, càng làm ăn xa càng có lợi.

Mã chỉ dễ làm giàu khi nào hội tụ nhiều cách tốt như Mã Tử Phủ, Mã Nhật Nguyệt sáng, Mã Lộc Tồn, Mã Hóa Lộc, Mã Tràng Sinh, Mã Khốc Khách, Mã và Lưu Mã. Các cách này chỉ sự may mắn, đắc thời, hợp cảnh. Ngoài ra, hành của Mã còn phải phù hợp với hành của Bản Mệnh thì mới phát tài dễ dàng. Ví dụ Mã ở Dần với người mạng Mộc, ở Tỵ với người mạng Hỏa, ở Thân với người mạng Kim, ở Hợi với người mạng Thủy. Nếu Mã gặp Hình, hay Tuyệt, hay Tuần Triệt hoặc Mã ở Hợi (trừ khi mạng Thủy) thì bất lợi, hung hiểm hoặc chật vật.

Mã đắc địa ở cung Điền có ý nghĩa là có nhà cửa, ruộng đất, xí nghiệp ở nơi xa. Nếu có thêm Tả Hữu thì có nghĩa là song mã, tam mã, ngụ ý có thêm nhiều điền lộc: có thể có hai nhà, hoặc một nhà và một miếng đất hay một xí nghiệp, trong đó có một nhà ở xa.

Về phương diện nghề nghiệp, nghề của Thiên Mã hợp vơi ngành vận tải hàng hoá hay hành khách, hoặc môi giới, giao dịch với bên ngoài, ký hợp đồng ở xa, với người ngoại quốc hoặc lập văn phòng đại diện thương mại xứ người. Nếu là nghề công thì đây có thể là tùy viên sứ quán về kinh tế, thương mại.

- Đại hao, Tiểu hao ở Mão và Dậu

Hai sao này là hao tinh, nghĩa là hao tán tài sản. Nhưng, chỉ riêng ở Mão và Dậu, Đại và Tiểu lại giàu có. Thuộc hành hỏa (có người cho là hành Thủy), nhị Hao ở Mão đắc lợi là vì cung Mão thuộc Mộc phù sinh cho sao Hỏa. Do đó, nếu Đại Hao ở Mão, Tiểu Hao ở Dậu thì tốt hơn Đại ở Dậu, Tiểu ở Mão.

Tại hai cung này, nhị Hao rất thịnh về tiền bạc: đó là người thông minh, lanh lợi, biết xoay trở làm ăn, có chí làm giàu lớn, dám bỏ tiền ra kinh doanh đại sự, dám gánh bất trắc của thời cuộc để mưu lợi tối đa. Óc mạo hiểm của nhị Hao ở Mão Dậu rất lớn, được thời thì trở thành đại phú, gặp vận xui thì có thể sạt nghiệp. Đại, Tiểu Hao không chắt mót giữ tiền mà luân chuyển vốn liếng làm ăn rất linh hoạt, tiêu pha lớn trong việc kinh doanh cũng như trong việc ăn chơi. Tính tình nhị Hao còn hào phóng hơn Hóa Lộc rất nhiều.

Mặt khác, do đặc tính linh động, nhị Hao ám chỉ người có nhiều ngành buôn bán, kinh doanh một lần trên nhiều cơ sở thương mại, đầu tư vào nhiều lãnh vực khác nhau, dễ chuyển ngành thương mại từ địa hạt này sang địa hạt khác. Do đó, nhị Hao tượng trưng cho những nhà đại tư bản có cả dây chuyền xí nghiệp hoạt động có tổ chức và liện hoàn. Xí nghiệp có ở nhiều chỗ, phải lưu động đi kiểm soát, đôn đốc, xuất ngoại rất thường để tìm thị trường thương mại. Nền kinh tế nhà nước có phồn thịnh hay không hẳn là do những nhà kinh doanh loại này. Nếu tài sản của Lộc Tồn tương đối bất động, thì tài sản của nhị Hao lại luân lưu. Nếu dùng ví dụ để mô tả, thì Lộc Tồn đọng vốn trong việc kinh doanh bất động sản (như cho vay bạc lấy lời, cất cửa nhà cho thuê, tạo điền sản cho mướn lấy địa tô...) còn nhị Hao thì chế biến sản phẩm, phân phối hàng hóa, vận tải hành khách hay hàng hóa bằng đường bộ, đường thủy (nếu có Lưu Hà) hay hàng không (nếu có phi Liêm).

- Long trì, Phượng các

Hai sao này không rõ rệt lắm về cách giàu. Long Phượng là hai sao tốt một cách tổng quát (đẹp về nhan sắc, hay về văn học nghệ thuật, đoan trang về phẩm hạnh, may mắn về hôn nhân, sang cả về phương diện tiện nghi vật chất). Ý nghĩa tài sản chỉ là một khía cạnh trong số các ý nghĩa tốt dẹp đa diện đó.

Về tài sản, Long Trì ở cung Điền chỉ cái nhà khang trang, đài các, có canht trí xinh xắn, có thể có ao hồ, non bộ. Đây có thể chỉ là cách phong lưu, tư sản chứ khong hẳn là tư bản, giàu có. Mặt khác, Long Phượng đi với Mộ có nghĩa là được hưởng di sản.

Về mặt nghề nghiệp, Long Phượng có thể là kiến trúc sư, thầu khoán, những người sống bằng nghề buôn bán bất dộng sản, đặc biệt là khi tọa thủ ở Điền hay đồng cung với Thái Âm.

- Tam thai, Bát tọa

Chỉ khi nào hai sao này đóng ở Tài và Điền thì ý nghĩa tài sản mới rõ ràng. Mặt khác, nếu bộ sao này gặp Mộ ở bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì tài sản càng nhiều thêm. Hai sao Thai, Tọa ở Tài, Điền tốt đẹp thường chỉ sự hạnh thông về tiền bạc, sự may mắn trong việc tạo sản, không phải đấu tranh chật vật: tiền bạc tương đối dễ kiếm, hoặc có người bao bọc nuôi dưỡng, kiểu như trời sinh voi trời sinh cỏ. Cho dù kế sinh nhai có thanh đạm, đương số cũng không vì thế tự cho là khốn khổ. Tâm lý của Thai Tọa về mặt của cải rất lạ lùng: đó là sự vô tư trước tiền của, dù là giàu hay nghèo. Vì vậy, Thai Tọa thiếu óc đầu tư, đầu cơ trục lợi của người buôn.

- Thiên khốc, Thiên hư ở Tý, Ngọ

chỉ riêng hai vi trí này, Khốc Hư chỉ sự giàu có trong hậu vận, lúc về già. Người xưa gọi là "tiền bần hậu phú".

Ở những cung khác, Khốc Hư chỉ sự lo âu triền miên về tiền bạc. Trong các vị trí này, Khốc Hư là hai sao phản nghĩa với Thai Tọa.

- Tử ở Tài, Điền

Tử chỉ sự kín đáo, bí mật. Đóng ở Tài, Điền, đương số có tài sản chôn giấu hoặc nhờ người thân tín đứng tên. Riêng ở cung Điền tốt, sao Tử có thể có nghĩa quặng mỏ, quí kim, dầu hỏa...ở dưới lòng đất của mình, hoặc một trương mục vô ký danh ở ngân hàng. Về mặt nghề nghiệp, đây có thể là nhà khai thác khoáng sản, nếu sao Tử ở Tài, Điền và đi chung với các sao tài khác.

Tất cả tài tinh kể trên càng qui tụ nhiều vào các cung tài sản thì càng giàu, hoặc nếu giáp các cung tài sản thì cũng khá. Dĩ nhiên phải tránh các sao tán tài, các hung sát tinh, hao bại tinh và Tuần Triệt. Nếu gặp các sao này, tài sản sẽ chậm có, tiêu tán, hoặc phải cực nhọc mới thủ đắc được. Ngược lại, nếu tài tinh được phù trợ bởi các sao trợ tài thì sự giàu có càng dễ dàng, phong phú và lâu bền hơn.

2. Những sao trợ tài

- Những sao này không trực tiếp có nghĩa giàu có, phải đi chung với tài tinh thì tài lực mới hưng vượng được.

- Tả phù, Hữu bật

Tả, Hữu tượng trưng cho sự phò tá, sự giúp đỡ, sự cộng sức chung vốn của người đời. Đi chung với các sao tài, Tả Hữu có nghĩa là được bằng hữu giúp đỡ trong việc làm ăn, kiếm tiền dễ dàng nhờ những cộng sự viên đắc lực. Hai sao này chỉ những cổ đông, những người góp vốn hùn hạp, môi giới, trong thương hội, hợp tác xã. Cung Tài có Tả Hữu thì không có kinh doanh riêng rẽ trái lại được sự hợp doanh, hợp tư, chung của góp công, chia lời.

Đứng về mặt cơ sở thương mại, có Tả Hữu thì công ty sẽ có cơ sở rộng lớn hơn, có chi nhánh, có đại diện thương mại ở nhiều chỗ: đó là những xí nghiệp lớn.

Nếu tọa thủ tai một cung Điền tốt đẹp, Tả Hữu ngụ ý có hai nhà hoặc nhà, một đất hay xí nghiệp làm ăn. Còn ở cung Tài, đương số vừa có tiền để ở nhà, vừa có trương mục ở ngân hàng.

Nếu không bị sát tinh xâm phạm thì sự hợp tác chân thành tích cực và lương thiện. Trái lại, nếu có sát tinh, ám tinh đi kèm thì sự hợp tác có nghi kỵ, cạnh tranh, gian lận, lường gạt, hoặc giả có sự hợp tác để làm ăn ám muội và táo bạo kiểu như buôn lậu phi pháp, có thể đi đến sự thanh toán, giành giựt, phá sản, bị họa vì tiền bạc, vì quản lý kém phân minh.

- Thiên quan, Thiên phúc

Ý nghĩa tương tự như Tả, Hữu: có sự giúp đỡ của quí nhân trong việc làm ăn. Hai sao này vốn là cát tinh cho nên sự hợp tác có tính cách lương thiện, chân thành bất vụ lợi, tín nghĩa.

Mặt khác, Quan và Phúc cũng có nghĩa hay giúp đỡ kẻ khác, hay dùng tài sản làm việc phước thiện, làm việc văn hóa...

- Tràng sinh, Đế vượng

Sinh và Vượng chỉ sự phong phú, thừa thãi, đi với tài tinh, sẽ làm cho của cải thêm nhiều. Có thể ví hai sao này như hai hệ số, làm gia tăng tài lộc, mặc dù không tạo ra tài lộc: Sinh và Vượng chỉ số nhiều, chỉ lượng. Nói khác đi, cung Taì có sao tài đồng cung với Sinh hay Vượng thì tiền bạc có sinh lợi, vốn để ra lời hoặc vốn được tích lũy thêm mãi. Ngoài ra, Sinh Vượng còn có nghĩa như một tổ hợp thương mại chứ không phải một sự kinh thương đơn lẻ.

- Ân quang, Thiên quý

Ở cung Tài, Điền Quang Quý chỉ di sản, nhiều hay ít còn tùy số lượng tài tinh thủ hay chiếu. Nếu có nhiều sao đi kèm, di sản đó có thể quan trọng.

Mặt khác, Quang Quý còn có nghĩa là những cổ đông bỏ vốn, thường là người thân thuộc, tín nhiệm: thương hội vì vậy nên có tính cách gia tộc.

Ngược lại, nếu gặp cả Không, Kiếp hội chiếu, di sản đó có thể tiêu cực (có nợ nần của cha mẹ để lại) hoặc không được hưởng di sản, hoặc phải bị hao tán nhiều.

- Đào, Hồng, Hóa, Lộc

Lộc đi với Đào hay Hồng là cách làm giàu nhờ phái đẹp, vợ hay nhân tình có của. Sự may mắn thường do phái nữ mang đến. Đối với phái nữ, thì do phái nam cung cấp.

- Hóa quyền

Đóng ở cung Tài tốt đẹp, Hóa Quyền không hẳn có nghĩa quyền quí, mà có thể có nghĩa như một thế lực tài phiệt nếu Quyền đi cùng với tài tinh rực rỡ.

Đóng ở cung Điền, Hóa Quyền là bổng lộc do nhà nước ban cấp, dưới hình thức hiện vật, như được cấp đất khai khẩn, được ở nhà chính phủ, được sử dụng công xa, nói chung là những tiện nghi vật chất do quyền tước mà có. Đây chỉ là những ý nghĩa khả hữu mà thôi, không nhất thiết phải có như vậy, bởi lẽ Hóa Quyền chủ về quan lộc hơn là điền sản. Những lợi lộc trên chỉ rõ rệt đối với những lá số có quí cách, có quyền cách, nghĩa là những lá số làm quan to, văn hay võ.

_ Thiên khôi, Thiên việt

Đây không phải là sao tài đúng nghĩa, cho dù Khôi, Việt có đóng ở Tài hay Điền. Hai sao này chủ yếu chỉ khoa giáp, bằng cấp.

Nhưng, Khôi Việt là những sao trợ tài vì làm sáng lạng thêm cho Tài Điền, nếu hai cung này xấu. Nếu thêm tài tinh thì của cải nhiều thêm. Sự hội tụ của nhiều tài tinh với Khôi Việt báo hiệu một thế lực tài phiệt có thể nói là xuất chúng, chính cũng vì Khôi Việt chỉ sự độc nhất trong lãnh vực nhất định nào đó. Trong trường hợp này, đương sự có thể là Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị, Chủ Tịch Hợp Tác Xã hay một xí nghiệp kinh tế tài chính, công hay tư. Bằng không thì là sở hữu chủ, chủ nhân.

Nếu hai cung Tài và Điền tương đối xấu thì sự hiện diện của Khôi Việt tại đó sẽ làm vượng cho hai cung: đương số không đến nỗi nghèo túng, có thể đủ ăn, đủ mặc.


3. Những bộ sao may mắn

những bộ sao này, chỉ sự hên may trong vận hội, trong đó có sự hên may về tài sản. Tuy nhiê, cần lưu ý rằng những bộ sao dưới đây phải đóng ở hai cung Tài và Điền mới có ý nghĩa may mắn về tài sản. Nếu đóng ở cung khác, may mắn chỉ xảy ra khi vận hội đến mà thôi.

- Thanh long, Hóa kỵ

Nếu đồng cung, Long Kỵ là cách rồng gặp mây. Nếu chỉ hội chiếu thì vận hội kém hơn.

- Thanh long, Lưu hà

Đây là cách rồng gặp nước, chỉ hoàn cảnh thuận lợi cho việc thủ đắc tài sản, cụ thể như trúng mối, sự thuận tiện trong việc làm ăn, mua bán. Ở cung Điền, bộ sao này đi với tài tinh, còn có nghĩa là có tàu bè, ngư thuyền, sinh sống bằng nghề hàng hải, ngư nghiệp...

- Bạch hổ, Phi liêm

Đồng cung, phi Hổ có nghĩa là hổ mọc cánh, chỉ một điềm lành cho việc tạo của. Về mặt nghề nghiệp, đây có thể là ngành chuyển vận hàng không.

- Long, Phượng, Hổ, Cái

Cách này gọi là Tứ Linh gồm 4 sao Long Trì, Phượng Các, Bạch Hổ, Hoa Cái, cũng rất đẹp cho tài lộc.

Riêng Long Phượng còn có nghĩa là được hưởng di sản, cụ thể là nhà cửa.

- Mã, Khốc, Khách - Mã, Sinh

Thiên Mã, Thiên Khốc và Điếu Khách hội tụ được gọi là cách ngựa hay có nài giỏi, chỉ dịp may về tài sản (mua xe). Mã và Tràng Sinh cũng đồng nghĩa.

Ngoài ra, những bộ sao tốt khác của Mã cũng mang lại may mắn (như Mã Tử Phủ, May Nhật Nguyêt, Mã Lộc, Mã Tồn...)

- Thiên hỷ, hỷ thần

Được gọi là song Hỷ, báo hiệu điềm, tin vui về tài sản trong một vận kỳ nào đó nếu đi chung với tài tinh.

Rất khó xác định bộ sao nào mạnh, bộ sao nào yếu. Sự liệt kê nói trên không theo thứ tự quan trọng nào. Sự hay còn tùy thuộc số lượng và vị trí tài tinh khác. Nếu vào một hạn nào đó, có tài tinh đi liền với những cách may nói trên thì tài sản sẽ hưng vượng theo trong giai đoạn đó.

- Địa không, Địa kiếp đắc địa

Tuy là hung, sát tinh, nhưng nếu đắc địa ở Tỵ, Hợi, Dần, Thân thì giúp bộc phát mau lẹ. Đi với các sao lộc thì tài sản đến một cách nhanh chóng, bất thần, cụ thể như trúng số lớn, cờ bạc được. Tuy nhiên, vì bản chất là hung sát tinh, Kiếp Không có thể đi liền với nhưng rủi ro, bất trắc vì vấn đề tiền bạc. Thong thường, tiền bạc của Không Kiếp đắc địa thường là hoạch tài, của phù vân, không mấy chính đáng, được thủ đắc bằng những phương thức táo bạo, có thể nói là ám muội, kiểu như buôn lậu, cờ bạc, tham nhũng, đầu cơ, được biếu xén một cách ít minh bạch.

Đóng ở cung Điền, Không Kiếp chỉ sự mua vào bán ra bất động, việc thay đổi nhà cửa tương đối mau chóng, ứng hợp với nghề trung gian bất động sản

- Thiên trù

Sao này chỉ sự ăn nhậu, có lộc ăn. Đóng ở Điền, Tài có lợi nhiều về lộc, thường là quà biếu hoặc được chiêu đãi, nhậu nhẹt. Nếu lá số có cách giàu rõ rệt thì món quà này có thể lớn theo khuôn khổ tương xứng. Ngược lại, có thể, có thể chỉ là vật mọn, có giá trị tiêu dùng hơn là để dành sinh lợi.

4. Những sao giữ của

Cái giàu cần phải lâu bền mới tốt. Ngoai ra, cung phải có thêm ít nhiều tính chất hào sảng thì mới đáng kính. Sự giàu có lâu bền là nhờ các sao như:

- Cô thần, Quả tú

- Đẩu quân

- Hỏa tinh, Linh tinh

- Lộc tồn

- Vũ khúc hãm địa

Các sao trên chỉ nhiều cách thức cầm của, nhiều hình thái giữ của, hơn kém nhau về mức độ và tùy theo sự hội tụ nhiều hay ít. Dù sao, các sao đó đều có nghĩa là ăn xài kỹ lưỡng, biết tiết kiệm, chặt chẽ trong việc ăn tiêu, tính toán cân nhắc, so đo hơn thiêt lúc ăn tiêu thậm chí đi đến chỗ bủn xỉn, hà tiện ích kỷ, không dám tiêu dùng. Càng hội tụ nhiều, tính hà tiện càng mạnh.

Thành thử, có lẽ chỉ cần hội một hoặc hai sao là vừa đủ. Nếu qui tụ quá nhiều, có thể không giầu có gì lắm, vì tính hà tiện thường bắt nguồn ở sự thiếu thốn. Mặt khác, nếu hội nhiều thì khuynh hướng tích trữ tiền của không sinh lợi tức. Việc cầm của là một đức tính. Nhưng nếu quá thái trở thành khả ố, đê tiện, chỉ biết có tiền bạc, coi nhẹ các giá trị khác. Đó là trường hợp các nhà giàu mà keo kiệt, chẳng những với mình mà cả với con cháu, vợ chồng. Mức độ vừa phải tùy thuộc vào mỗi cá nhân. Có lá số chỉ có một sao Đẩu Quân mà kẻ đó hà tiện nặng, có lá số phải có cả Cô, Quả, Đẩu Quân, Lộc Tồn thì mới ích kỷ, biển lận. Vì vậy, không thể xác định rõ rệt mức độ vừa đủ của các sao giữ của.

Ngoài ra, cũng cần lưu ý rằng sự giữ của không hẳn có nghĩa là giàu có: có người nghèo mà hà tiện, cũng như có nhiều người giàu mà biển lận. Nhưng, cách giàu phải có chút đỉnh sao giữ của và tránh các sao hoang phí đến một mức vừa phải. Lẽ trung dung vốn là tiêu chuẩn xử thế lý tưởng của người xưa, vẫn xem thái quá và bất cập là không tốt, trong bất kỳ lãnh vực nào.

Sau cùng, tài tinh, trợ tài tinh và sao giữ của phải toàn hảo, tránh các sao phá tán mới bảo đảm tài lộc một cách toàn vẹn được. Các sao phá tán sẽ được trình bày trong cách nghèo.

Có điều cần lưu ý rằng không bắt buộc phải có sự hiện diện của các sao giữ của thì mới giàu. Thông thường, sự hội tụ của nhiều tài tinh, tự nó có nghĩa là tụ của tức là giữ của, không cần đến sao giữ của chinh tông kể trên.

Việt Huy
(Trích trong - Thuật Tử Vi của Tác giả Nguyễn Phát Lộc)
Đầu trang

mỹ châu
Mới gia nhập
Mới gia nhập
Bài viết: 38
Tham gia: 10:49, 24/01/20

Re: Lộc Tồn (Danh cho ban nao muon biet minh giau hay ko)

Gửi bài gửi bởi mỹ châu »

Hi, bác Panda xem giúp e bao giờ e giàu có và giàu có từ đâu với ạ. Hiện e ko có tích luỹ. E có sao Lộc tồn và Lưu Hà cung Tài Bạch. Lá số của e đây ạ!
Hình ảnh
Đầu trang

Nmtuan93
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 538
Tham gia: 00:38, 14/08/19

Re: Lộc Tồn (Danh cho ban nao muon biet minh giau hay ko)

Gửi bài gửi bởi Nmtuan93 »

Mình song lộc đồng cung tại tý sao chủ tinh phá quân và con triệt cắm ở đó luôn :)) , Tý nằm cung quan lộc và thân ở đó luôn.
Song lộc nhưng tiền làm gì có đồng nào :haha:
Đầu trang

Trutri
Nhất đẳng
Nhất đẳng
Bài viết: 138
Tham gia: 07:06, 03/10/18

Re: Lộc Tồn (Danh cho ban nao muon biet minh giau hay ko)

Gửi bài gửi bởi Trutri »

xulaplen đã viết:
08:05, 30/08/16
Vừa hay mình cũng có Lộc mã ở cung Thiên di.Không biết chủ topic có thể phân tích về lộc mã này được không?
Ng ta đăng lên nhưng xem dc hay ko thì chưa biết, đăng dài lan man... mỗi việc kéo khung chữ chữ mà mình còn thấy mệt.
Đầu trang

thamlangff
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1551
Tham gia: 14:28, 08/08/19

Re: Lộc Tồn (Danh cho ban nao muon biet minh giau hay ko)

Gửi bài gửi bởi thamlangff »

panda83 đã viết:
18:29, 29/08/16
https://trannhatthanh.wordpress.com/tag/loc-ton/

Đặc điểm về vị trí

Lộc Tồn không an ở Tứ Mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi), luôn luôn đồng cung với Bác Sĩ (thuộc tam hợp Bác Sĩ, Tướng Quân, Bệnh Phù), có Quốc Ấn tam chiếu, bị Kình Đà giáp và không bao giờ gặp bộ Song Hao

Tướng Quân và Bệnh Phù luôn có Lộc Tồn tam hợp, và Phi Liêm thì có Lộc Tồn xung chiếu

Dương Nam Âm Nữ
Tuổi Ất Tướng Quân tại Mùi bị Triệt, tuổi Đinh Phi Liêm có Thanh Long Lưu Hà tam hợp, tuổi Mậu Tướng Quân có Quan Phúc đồng cung xung chiếu, tuổi Kỷ Phi Liêm có Khôi thủ Việt Triệt chiếu, tuổi Canh Phi Liêm có Việt Thiên Trù thủ và Khôi Phúc Triệt tam hợp, tuổi Tân Phi Liêm đồng cung với Lưu Hà có Thanh Long tam hợp, tuổi Nhâm Phi Liêm có Việt đồng cung, Thiên Trù tam hợp và tuổi Quí Phi Liêm có Thiên Quan đồng cung, Trù, Thanh Long Lưu Hà tam hợp

Âm Nam Dương Nữ
Tuổi Bính Phi Liêm có Khôi thủ, Thanh Long Lưu Hà tam hợp, tuổi Đinh thì Bệnh Phù có Thanh Long Lưu Hà đồng cung xung chiếu, Phi Liêm có Thanh Long Lưu Hà tam hợp, tuổi Mậu Tướng Quân, Khôi, Quốc Ấn đồng cung bị Triệt, có Việt xung, Phi Liêm có Việt, Quan, Phúc tam hợp, tuổi Kỷ Khôi thủ, Việt bị Triệt chiếu, tuổi Canh Phi Liêm đồng cung với Việt Trù, có Khôi Phúc Triệt tam hợp, Bệnh Phù có Khôi Phúc Triệt xung chiếu, tuổi Tân Tướng Quân đồng cung với Quốc Ấn Thiên Phúc bị Triệt, Phi Liêm đồng cung với Lưu Hà có Thanh Long tam hợp, tuổi Nhâm Phi Liêm đồng cung với Việt, có Trù tam hợp, tuổi Quí Phi Liêm đồng cung với Thiên Quan, có Thanh Long Lưu Hà, Thiên Trù tam hợp

Tướng Quân bị Triệt
Dương Nam Âm Nữ tuổi Ất thì có Tướng Quân tại Mùi bị Triệt. Âm Nam Dương Nữ thì tuổi Mậu và Tân thì Tướng Quân bị Triệt: tuổi Mậu Tướng Quân, Khôi, Quốc Ấn đồng cung tại Sửu bị Triệt, tuổi Tân Tướng Quân đồng cung với Quốc Ấn Thiên Phúc tại Tỵ bị Triệt

Thanh Long Lưu Hà
Ba tuổi Đinh (Phi tại Tí) Tân (Phi tại Mão) Quí (Phi tại Ngọ) thì Phi Liêm bao giờ cũng có bộ Thanh Long Lưu Hà và Dương Nam Âm Nữ tuổi Bính thì Phi (tại Hợi) có Âm Nam Dương Nữ tuổi Đinh thì Bệnh Phù (tạ Tuất) có Thanh Long Lưu Hà đồng cung xung chiếu. Cụ thể:
Dương Nam Âm Nữ
Tuổi Đinh Phi Liêm có Thanh Long Lưu Hà tam hợp,
Tuổi Tân Phi Liêm đồng cung với Lưu Hà có Thanh Long tam hợp,
Tuổi Quí Phi Liêm đồng cung với Thiên Quan, có Thanh Long Lưu Hà, Thiên Trù tam hợp

Tuổi Bính Phi Liêm có Khôi thủ, Thanh Long Lưu Hà tam hợp
Tuổi Đinh Phi Liêm có Thanh Long Lưu Hà tam hợp
Tuổi Tân Phi Liêm đồng cung với Lưu Hà có Thanh Long tam hợp
Tuổi Quí Phi Liêm đồng cung với Thiên Quan, có Thanh Long Lưu Hà, Thiên Trù tam hợp

Lộc Tồn tại Dần, Mão không có gì
Lộc Tồn tại Tỵ
Tuổi Bính có bộ Quan, Khôi Việt
Tuổi Mậu có bộ Lưu Hà, Khôi
Lộc Tồn tại Ngọ
Tuổi Đinh có bộ Lưu Hà, Khôi Phúc
Lộc Tồn tại Thân có bộ Lưu Hà, Việt, Trù
Lộc Tồn tại Dậu có bộ Quan Phúc Lưu Hà
Lộc Tồn tại Hợi có bộ Lưu Hà Khôi Việt
Lộc Tồn tại Tí có Lộc Tồn, Triệt – Thiên Quan xung

Lộc Tồn và Lưu Hà
Chỉ tại vị trí Tí, Dần, Mão, Tỵ tuổi Bính, Ngọ tuổi Đinh thì Lộc Tồn mới không gặp Lưu Hà thủ chiếu

Lộc Tồn và Quan Phúc
Chỉ có Lộc Tồn cư Dậu mới có bộ Quan Phúc (Quan thủ, Phúc tam hợp)

Lộc Tồn và Thiên Trù
Chỉ có Lộc Tồn cư Thân mới có Thiên Trù xung chiếu

Lộc Tồn với Khôi Việt
Lộc Tồn tại Tỵ Hợi Ngọ Thân mới có khả năng có Khôi, Việt và Phi Liêm Dần Tí có bộ Khôi Việt và rất dễ bị Triệt xâm phạm
Cụ thể
Lộc Tồn tại Hợi và Lộc Tồn tại Tỵ tuổi Bính bị Triệt thì có bộ Khôi Việt chiếu. Tại Hợi thì Khôi Mão bị Triệt
Lộc Tồn tại Tỵ tuổi Mậu có Khôi Triệt chiếu, tại Ngọ tuổi Kỷ có Khôi xung, tại Thân có Việt xung
Phi Liêm tại Tí (tuổi Kỷ) có Khôi thủ, Việt tam hợp. Âm Nam Dương Nữ thì Việt bị Triệt. Phi Liêm tại Dần (tuổi Canh) có Việt thủ, Khôi Triệt tam hợp

Lộc Tồn với Thiên Mã
Lộc Tồn tại Dần Thân (tuổi Giáp, Canh) mới có và luôn luôn có bộ Lộc Mã đồng cung hoặc xung chiếu (giao trì) nhau mà thôi
Cụ thể tuổi Giáp Thân, Tí, Thìn và Canh Dần, Ngọ, Tuất thì có Lộc Mã đồng cung, tuổi Giáp Dần Ngọ Tuất và Canh Thân Tí Thìn thì có Lộc Mã giao trì. Bộ Lộc Mã giao trì tại vị trí Lộc Tồn thì tốt hơn Lộc Mã đồng cung vì có bộ Tuế Phù Hổ trong khi Lộc Mã đồng cung thì có bộ Tang Tuế Điếu

Lộc Tồn với Song Hao
Lộc Tồn và Đại hay Tiểu Hao thì không bao giờ tam hợp xung chiếu với nhau vì cách nhau 2 cung nhưng khi ở Dần Thân Tỵ Hợi thì nhị hợp

Lộc Tồn với bộ Mã Hao
Bộ Mã Hao luôn luôn có tại Dần Thân và chỉ có Lộc Tồn tại Tỵ Hợi (tuổi Bính Mậu Nhâm) mới có bộ Mã Hao

Lộc Tồn và Triệt
Lộc Tồn cư Tí luôn bị Triệt và cư Tỵ cho tuổi Đinh thì bị Triệt

Lộc Tồn và Tuần
Các tuổi Giáp Thìn, Ất Tỵ, Bính Thân, Đinh Hợi, Mậu Tuất, Kỷ Sửu, Canh Thìn, Tân Tỵ, Nhâm Thân, Quí Hợi thì Lộc Tồn bị Tuần. Tuổi Bính Thân và Quí Hợi thì Lộc Tồn bị cả Tuần Triệt đồng cung

Ngũ Hành
Lộc Tồn là Bắc Đẩu tinh Dương Thổ đới Thủy (TTL), Dương Thổ (VVT)

Đắc hãm
Miếu vượng tại Tí Ngọ, Dần Thân, Mão Dậu (VVT)

Ý nghĩa
Là quí tinh, chủ quyền tước danh chức, (có Tướng Ấn hội họp), tài lộc, phúc thọ(TTL, VVT) văn chương thi phú (VVT)

Thủ Mệnh thì:
Thông minh, hiếu học, tài cao, học rộng, lỗi lạc (có Bác Sĩ Quốc Ấn)
Nghiêm cẩn, đôn trọng
Nhân hậu, từ thiện, đạo đức
Có mưu trí, cơ biến, bén nhạy (VVT)
Có tài tổ chức (VVT)
Không gặp sao sáng sủa hoặc đơn thủ thì là người quá tính toán về tiền bạc mà trở thành keo kiệt, bủn xỉn, ăn ở bần tiện (do có Kình Đà giáp)
Đoan chính, không lăng nhăng. Giải trừ được tính dâm đãng hoa nguyệt của Đào Hồng khi đồng cung (chú ý Tướng Quân luôn có Lộc Tồn tam hợp nhưng Tướng Quân kỵ gặp dâm tinh như Thai, Hồng, Đào, Xương Khúc chủ sự xui xẻo về trinh tiết)

Lộc Tồn bao giờ cũng giáp Kình Đà nên khi luận đoán Lộc Tồn cần chú ý đến các sao hội họp, đặc biệt là sao đồng cung với Lộc Tồn. Nếu trong cung Lộc Tồn có hung sát tinh như Không Kiếp, Hỏa Linh hãm thì là cách ăn xin vì Kình Đà sẽ hội cùng hung sát tinh mà gây họa, ngược lại nếu trong cung có cát tinh như Khoa, Quyền, Hóa Lộc thì lại là cách xuất thế vinh hoa, cách dôi kim tích ngọc (vàng chôn ngọc cất) vì Kình Đà trở hành hai vệ sĩ giữ của cho chủ
Tọa thủ gặp nhiều sao tốt đẹp sáng sủa hội họp (nhất là Tử Phủ, Xương Khúc, Khôi Việt, Mã, Khoa Quyền Lộc)thì là người thông minh, học rộng, có tính nhân hậu từ thiện, có tài tổ chức, có nhiều sáng kiến, biết ứng biến, suốt đời được nhiều người kính trọng và sống lâu
Tọa thủ gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội họp (nhất là Không Kiếp, Kỵ, Tuế, Hao) thì là người biển lận, ích kỷ, gian trá, quỉ quyệt, thường sớm khác cha mẹ hay phải sớm lìa bỏ gia đình lang thang nơi phương xa, suốt đời không được xứng ý toại lòng vì công danh trắc trở, tài lộc thiếu thốn, nếu có nhiều tiền của thì hay bị mất cắp, lừa đảo, khó tránh được những tai họa khủng khiếp, rất dễ bị tù tội, tuổi thọ cũng bị chiết giảm

Lộc Tồn Nam Mệnh ca
Nam nhân có Lộc Tồn thì tính quả quyết, làm việc gì cùng thành, nếu là quan chức mà có thêm Xương Khúc hội họp thì y lộc, nhà cao của rộng mãi mãi, vinh hiển:
Nhân sinh nhược ngộ Lộc Tồn tinh,
Tính cách cương cường bách sự thành
Quan viên thiên hề Xương Khúc hội,
Thao thao y lộc hiển môn đình (VTL)
Nam nhân có Lộc Tồn thủ mà gặp Đà Hỏa thì phúc không toàn vẹn, gặp Thiên Cơ, Kiếp, Không, Kỵ thì nên đi tu thì được thanh nhàn. Chú ý câu phú trên nói Lộc Tồn gặp Đà La thì không bao giờ có được:
Lộc Tồn thủ Mệnh mạc phùng xung,
Đà Hỏa giao gia phúc bất toàn
Thiên Cơ, Kiếp, Không, Kỵ tương hội,
Không môn tăng đạo đắc thanh nhàn (VTL)
Theo TTL Lộc Tồn thủ Mệnh gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp , nhất là Tử Phủ Xương Khúc Khôi Việt thì hưởng phú quí trọn đời, có uy danh lừng lẫy và sống lâu, nhưng nếu gặp nhiều sao xấu xa mờ ám hội hop. nhất là Không Kiếp Hao Kỵ Tuế thì suốt đời túng thiếu, buồn phiền về vợ con, thường sớm ly tổ, lại hay mắc tai họa và không thể sống lâu được (chú ý Hao không bao giờ tam hợp xung chiếu với Lộc Tồn)

Lộc Tồn Nữ Mệnh ca
Nữ Mệnh có Lộc Tồn Tử Phủ hội họp thì trăm việc hanh thông, nếu Lộc Tốn gặp Đồng, Liêm (sáng sủa) thì là bậc phu nhân giàu có sang trọng. Theo VVT thì Lộc Tồn thủ tại Thân Mệnh thì là người tú lệ, trinh liệt, đảm đang, có tài quán xuyến, đại sự chẳng khác chi nam giới, gặp Tủ Phủ đồng cung thì vạn sự đều an vượng, như ý toại lòng, nếu gặp Phủ Tướng tam hợp củng chiếu thì không đại phú cũng quí hiển, nếu gặp Liêm Trinh hoặc Thiên Đồng thì là bậc quyền quí phu nhân. Mệnh có Lộc Tồn tại Dần Thân được Phủ và Thiên Tướng đóng tại Quan và Tài thì đắc cách Phủ Tướng triều viên, phú quí song toàn. Theo Thái Thứ Lang thì Lộc Tồn thủ Nữ Mệnh gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội họp thì rất đoan chính, được hưởng giàu sang trọn đời và rất vượng phu ích tử, nhưng nếu gặp nhiều sao xấu xa hội họp thì tuy không có tính dâm đãng nhưng suốt đời chẳng được mấy khi xứng ý toại lòng và hay buồn khổ về chồng con:
Nữ Mệnh nhược ngộ Lộc Tồn tinh
Tử Phủ gia lâm, bách sự ninh (trăm việc hanh thông)
Cánh ngộ Đồng, Liêm (sáng sủa) tương tấu hợp
Tất nhiên chủ định thị phu nhân (AB465)
Nữ Mệnh có Lộc Tồn gặp Không, Kiếp, Linh, Hỏa thì tất yếu có tai nạn, nếu không có cát tinh hội họp cứu giải thì vợ chồng sinh ly, không sống lâu bền được:
Lộc Tồn nhập Mệnh hãm cung lai
Không, Kiếp, Linh, Hỏa tất vi tai (tất yếu có tai nạn)
Nhược vô cát diệu lai tương tấu (nếu không có cát tinh hội họp)
Phu phụ phân ly, vĩnh bất giai (bất hài, QXT, VTL) (vợ chồng sinh ly, không sống lâu bền được) (AB466)
Hợp cách của Lộc Tồn
Đẹp nhất là gặp Mã đồng cung hay xung chiếu, Hóa Lộc chiếu, Khôi Việt, Xương Khúc, Tử Phủ chủ về phú quí (Mã, Tử Phủ), uy quyền hiển hách (Khôi Việt, Xương Khúc), gia tăng tuổi thọ
Bộ Lộc Tồn gặp Tả Hữu hoặc Thiên Mã không gặp sát tinh xâm phạm thì sẽ gia tăng tính tốt đẹp của Lộc Tồn, nhất là tiền tài
Bộ Lộc Tồn Xương Khúc không gặp sát tinh xâm phạm thì sẽ gia tăng tính chất tốt đẹp, nhất là công danh
Lộc Tồn hội với các tài tinh như Vũ Khúc, Thiên Phủ, Thái Âm (chủ điền sản) sáng sủa hoặc Hóa Lộc thì sẽ gia tăng tính chất giàu có
Đồng cung với Khoa, Quyền hay Hóa Lộc thì phú quí, văn chương khoa giáp hiển đạt (VVT)
Đồng cung với một trong ba sao của bộ Khoa Quyền Lộc hoặc Hóa Lộc thủ, Lộc Tồn chiếu thì tốt đẹp, toàn mỹ hơn nhiều (VVT)
Gặp Thiên Quan, Thiên Phúc, ân Quang, Thiên Quí, Riêu Y thì nên chuyên về y dược, rất nổi tiếng (TTL)
Ngoài cách văn tinh của Lộc Tồn Tí Ngọ, tùy theo Lộc Tồn đơn thủ, đồng cung hay hội chiếu với sao của bộ Khoa Quyền Lộc để quyết đoán tính tình nghề nghiệp

Phá cách của Lộc Tồn
Tối kỵ gặp Không Kiếp (nếu thêm Thái Tuế thì càng xấu), kỵ gặp Tuần Triệt (kỵ Triệt hơn Tuần) và Hóa Kỵ , Hỏa Linh hãm địa hoặc Cự Môn đồng cung, nhất là Cự Môn tại Tỵ Hợi
Lộc Tồn thủ Mệnh không bằng chiếu Mệnh vì giáp Kình Đà. Lộc Tồn thủ tại Phu, Thê, Tử Tức, Huynh Đệ cũng không tốt vì chủ cô đơn, hình khắc hoặc là thủ tại cung Vô Chính Diệu cũng thường là không tốt trừ khi đồng cung với nhiều sao sáng sủa
Lộc Tồn đồng cung với Hóa Lộc thì không tốt, chủ về tai họa, đa số là do tiền tài gây ra

Mệnh sáng sủa có Lộc Tồn thủ thì hưởng giàu sang, được ăn ngon, mặc đẹp, hưởng của cải do tiền nhân để lại:
Lộc Tồn hậu trọng, đa y, thực (1, TTL)
Lộc Tồn tại viên (tọa thủ), chỉ tứ tổ nghiệp (2, TTL)
Mã vào Mệnh đa tài mẫn tiệp, Tồn (Lộc Tồn) vào viên tổ nghiệp thường nhờ (có Lộc Tồn thì thừa hưởng tổ nghiệp) (B113)
Mệnh minh (sáng sủa) có Lộc thì giầu, Trong cung tọa thủ, sang giầu chung thân (B161)
Lộc Tồn giàu có về sau, Trường Sinh, Đế Vượng là người thiện lương

Mệnh sáng sủa tốt đẹp, có Lộc Tồn chiếu thì quí hiển. Chú ý theo TVT thì Lộc Tồn phải ở các cung Dần Thân Mão Dậu chiếu Mệnh thì mới gọi là triều viên, còn nếu ở Tí Ngọ Tỵ Hợi thì khi chiếu Mệnh không được gọi là triều viên, tuy nhiên cũng tốt
Lộc Tồn triều viên (chiếu), thân vinh phú quí hiển (3, TTL)

Mệnh có Lộc Tồn thủ không gặp sát tinh hội họp thì hưởng giàu sang:
Lộc Tồn thủ Mệnh bốn vì, Như vô Sát tấu, đoán đầy như y (B176)

Mệnh Thân hay Thiên Di có Lộc Tồn tại Tí Ngọ thì rất có lợi, giàu sang, kiếm tiền dễ dàng, có nhiều của cải tiền bạc. Chú ý Lộc Tồn tại cung Tí luôn luôn bị Triệt. Chú ý rằng Lộc Tồn cư Di tại Tí Ngọ thì Mệnh luôn luôn có bộ Thanh Long Lưu Hà đồng cung chiếu Mệnh hoặc Thanh Long Lưu Hà tam hợp chiếu Mệnh (tuổi Đinh Quí), nếu không thì có bộ Khôi Việt thủ chiếu Mệnh (tuổi Kỷ)
Lộc Tồn Tí Ngọ vị, Mệnh, Thân, Thiên Di phùng (đóng tại Mệnh, Thân, Di), lợi lộc nghi (TTL)
Lộc Tồn Tí Ngọ vị Thiên Di, Thân Mệnh phùng chi lợi lộc nghi (11)

Tuổi Giáp có Lộc Tồn tại Dần rât tốt đẹp:
Nào ai Lục Giáp sinh nhân, Lộc Tồn tọa thủ Dần cung phải thời

Lộc Tồn kết hợp với các phụ tinh
Lộc Tồn tam hợp, xung chiếu, nhị hợp với Hóa Lộc thì rất tốt, tiền bạc xúc tích nhưng nếu đồng cung với Hóa Lộc thì lại kém đi, giảm thiểu sự tốt đẹp, chủ vì tham tài mà mang họa vào thân. Theo VVT thì Lộc Tồn tại Tí Ngọ xung chiếu với Hóa Lộc và Văn Tinh thì là đệ nhất văn chương cách, chủ thông minh thanh hiển nhưng nếu gặp Không thì học hành khó thành và rất kỵ gặp hung sát tinh. Đồng cung với Hóa Lộc tại Tỵ Hợi thì suốt đời tính toán tiền bạc nhưng giàu sang. hội với Hóa Lộc tại Dần Thân là các dôi kim tích ngọc
.
Mệnh có Lộc Tồn, Hóa Lộc đồng cung gặp sao sáng sủa thì có óc độc đoán, chuyên quyền, như Lã Hậu Mệnh an tại Dần có cách này. Tuổi Giáp Mệnh Liêm Trinh tại Dần, tuổi Ất Mệnh Cự Cơ tại Mão, Tuổi Bính Mệnh Thiên Đồng tại Tỵ bị Triệt, tuổi Đinh Mệnh Đồng Âm cư Ngọ, tuổi Mậu Mệnh Liêm Tham tại Tỵ, tuổi Kỷ Mệnh Vũ Phủ tại Ngọ, tuổi Canh Mệnh Cự Dương tại Thân, tuổi Tân Mệnh Cự Cơ tại Dậu, tuổi Nhâm mệnh Thiên Lương tại Hợi và tuổi Quí Mệnh Phá Quân tại Tí bị Triệt đều có Song Lộc thủ đồng cung:
Song Lộc (Lộc Tồn, Hóa Lộc) thủ Mệnh, Lã Hậu chuyên quyền (17, TTL)
Song Lộc thủ Mệnh, chuyên quyền, Lộc đảo, Mã đảo hết phiền lại lo (AB331)

Lã Hậu kiêm việc triều chính vì cung Mệnh tại Dần có Lộc Tồn Hóa Lộc gặp Thiên Mã. TVT giải rằng Lộc Tồn gặp Thiên Mã tọa thủ đồng cung nên lời giải không chính xác
Lã Hậu chuyên quyền, lưỡng trùng Thiên Lộc, Thiên Mã (16)
Mệnh bà Lã Hậu chuyên quyền, Song Lộc ngộ Mã thủ liền một cung
Kìa như phụ nữ chuyên quyền, Lưỡng trùng Lộc Mã, Mệnh viên rõ ràng (B169)
Chuyên quyền kìa Lã Hậu bà, Song Lộc ngộ Mã thủ tòa Mệnh viên
Mệnh bà Lã Hậu chuyên quyền, Lưỡng phùng Lộc, Mã thủ viên rõ ràng (B159)

Kia như Song Lộc Tuần phùng,
Hân nhiên nhập Tướng Bột Công Hán triều (B169)

Mệnh có Lộc Tồn, Hóa Lộc hội họp thì cả đời phú quí, có tài văn võ hơn người như Thái Công:
Song Lộc trùng phùng (hội họp), chung thân phú quí (15, TTL)
Song Lộc lưỡng ngộ, Thái Công chi vũ lược siêu quần (B79)

Mệnh có Lộc Tồn và Hóa Lộc hội họp thì như Phu Tử có tài về văn chương
Hoạt Lộc trùng phùng Phu Tử văn chương quán thế (B79)

Mệnh có Lộc Tồn hay Hóa Lộc: một Lộc tọa thủ, một nhị hợp (gọi là Minh Lộc Ám Lộc hay Uyên Ương Lộc hội) thì hưởng giàu sang và có quyền chức lớn, như gấm được thêm hoa. Chú ý tuổi Giáp Mệnh tại Dần có Đồng Lương và tại Hợi có Liêm Tham, tuổi Ất Mệnh tại Mão có Liêm Phá và tại Tuất có Cơ Lương, tuổi Bính Mệnh tại Tỵ có Liêm Tham bị Triệt và Mệnh tại Thân có Đồng Lương, tuổi Đinh Mệnh tại Ngọ có Vũ Phủ và Mệnh tại Mùi có Nhật Nguyệt, tuổi Mậu Mệnh tại Tỵ có Thiên Đồng và Mệnh tại Thân có Tham Lang, tuổi Kỷ Mệnh tại Ngọ có Đồng Âm và Mệnh tại Mùi có Vũ Tham, tuổi Canh Mệnh tại Tỵ có Thái Dương và Mệnh tại Thân có Tử Phủ, tuổi Tân Mệnh tại Thìn có Cự Môn bị Triệt và Mệnh tại Dậu có Tử Tham, tuổi Nhâm Mệnh tại Dần có Đồng lương bị Triệt và Mệnh tại Hợi có Liêm Tham, tuổi Quí Mệnh tại Tí có Thiên Cơ gặp Triệt và Mệnh tại Sửu có Tử Phá bị Triệt thì có cách Minh Lộc ám Lộc
Minh Lộc Ám Lộc (còn gọi là Uyên Ương Lộc hội), vị chí công khanh (Cẩm thượng thiêm hoa) (4, TTL)
Lộc (Lộc Tồn, Hóa Lộc) một thủ, một vào lục hợp (một nhị hơp), Giầu lại sang như gấm thêm hoa (B161)
Minh Lộc Ám Lộc đây mà, Ấy cách cẩm thượng thiêm hoa rành rành (B176)
Ví như Lục Giáp sinh nhân, Mệnh tinh tại Hợi, Lộc tinh đông trần (B176)
Lộc Tồn thủ ở cung Dần, Ấy Dần Hợi hợp nên thân cách này (B176)
Uyên ương Lộc hội tốt vời, Công danh hiển hách, một đời giầu sang(AB331)
Tuất Thìn vốn hãm Cự Môn, Tuổi Tân Hóa Lộc, Lộc Tồn cũng yêu (chú ý Cự Môn ahãm tại Thìn nhưng tuổi Tân có Hóa Lộc thủ, Lộc Tôn nhị hợp) (B162)

Mệnh có một Lộc tam hợp chiếu, một xung chiếu thì gọi là Hợp Lộc củng Lộc, hoạnh phát về võ nghiệp, văn võ kiêm toàn, danh tiếng lừng lẫy, vinh hiển.Theo TVT một Lộc tọa thủ, một xung chiếu thì không đúng:
Hợp Lộc củng Lộc định vị cư kích chi thần (hay định vị văn võ toàn tài) (12, 13)
Hợp Lộc củng Lộc Quan, Tài, Đại thần bích cự đáng tài nam nhi (B175)
Hoặc cư Mệnh, hoặc Thiên Di, Song Lộc thủ chiếu, ấy thì giầu sang (B175)

Lộc Tồn gặp Thiên Mã đồng cung hay xung chiếu thì rất tốt, chủ buôn bán phát tài, tiền vào như nước, nếu Mã tam chiếu thì kém hơn:
Mệnh có Lộc Tồn Thiên Mã hội họp thì văn chương lỗi lạc đanh thép, nữ nhân thì tính tình đoan trang, vượng phu ích tử. Chú ý câu phú này không đề cập là phải đồng cung, nhưng TVT cho rằng Thiên Mã phải đồng cung:
Thiên Lộc Thiên Mã kinh nhân giáp đệ (18)
Mệnh Thân an tọa Tứ Sinh, Canh phùng Lộc, Mã thủ thành Mệnh viên
Tam phương củng chiếu đều yên, Kinh nhân giáp đệ, danh trên bảng rồng (B166)
Lộc Mã thủ chiếu Mệnh cung, Vượng phu ích tử vốn giòng đoan trang

Mệnh hoặc Di có Thiên Mã thủ, Lộc Tồn xung chiếu hoặc có Lộc thủ, Thiên Mã xung chiếu thì buôn bán phát đạt mà trở nên giàu có, dễ kiếm tiền và được nhiều người thương mến. Lộc Mã đồng cung cũng có nghĩa như vậy:
Lộc Mã tối hỉ giao trì, chúng nhân sủng ái (10, TTL)
Tài buôn bán nhiều bề giỏi dắn, Mã Mệnh cung, Tồn (Lộc Tồn) tại Thiên Di
Cách Lộc Mã Thiên Di dễ được, Số sinh tài có sức ghê thay (B115)
Lộc Tồn Thiên Mã đồng gia (đồng cung), có người buôn một bán ba nên giàu (24)
Lộc Tồn Thiên Mã đồng (cùng) gia, Có người buôn một, bán ba nên giầu (B43)
Đồng cung Tồn (Lộc Tồn) Mã gặp nhau, Ấy Chiết Tiễn Mã, ngàn dâu thẳng đường (chạy đường xa)
Văn hơn (văn chương hơn người) là Việt Khoa Khôi, Ngồi ở trên người, Lộc Mã đồng cung (Lộc Mã đồng cung thì ăn trên ở trước, hơn người) (B156)
Lợi tìm Lộc Mã đã quen, Tấu Thư Thiên Phúc Phật Tiên mê lòng

Đẩu (Đẩu Quân) gặp Tồn (Lộc Tồn) khá tiền tài
Khốc, Hư lạc hãm miệt mài gian truân

Xương Khúc đắc địa và gặp Lộc Tồn đồng cung thì có nhiều tài năng xuất chúng
Xương Khúc Lộc Tồn do vi kỳ thị (32, TTL)

Lộc Tồn cùng các cách đẹp của Lộc Tồn (như Lộc Mã) gặp Không, Kiếp, Tuần Triệt hoặc Hóa Kỵ thì trở thành phá cách, chủ bị họa vì tiền, phá sản:

Mệnh có Khôi Việt Xương Khúc Lộc Tồn không gặp sát tinh hay Hóa Kỵ, Thiên Hình thì phú quí cực độ:
Khôi, Việt, Xương, Khúc, Lộc Tồn. Hình Sát vô xung, đại phú quí (TTL)

Lộc gặp Không, Kiếp đồng cung là phá cách, trở thành nghèo khổ:
Lộc ngộ Không Kiếp đồng qui, Cũng là vô dụng, hóa vi cơ hàn
Lộc ngộ Không Kiếp đồng qui, Cũng là vô dụng, hóa vi cơ hàn (B165)

Mệnh có Lộc Tồn tọa thủ, Mã xung chiếu hay có Mã thủ, Lộc Tồn xung chiếu nếu gặp Kiếp Không Tuế hội họp thì mờ ám xấu xa, suốt đời chẳng mấy khi được xứng ý tọai lòng, công danh trắc trở, hay phải lo lắng về sinh kế và khó tránh tai họa. Theo Nguyễn Mạnh Bảo thì Lộc Mã gặp Tuần Triệt hoặc Tuyệt Bại thì sợ gặp Không Kiếp Thái Tuế, nếu giàu thì chết sớm, nghèo thì sống lâu:
Lộc đảo, Mã đảo, kị Kiếp Không Thái Tuế (10, TTL)
Song Lộc thủ Mệnh, chuyên quyền, Lộc đảo, Mã đảo hết phiền lại lo (AB331)
Mã, Lộc hãm Không Vong Tuyệt Bại, Sợ Kiếp Không hợp Thái Tuế xung
Giầu tổn thọ, khó duyên sinh, Phù Thân giúp Mệnh hạn hành khác nhau (B158)
Lộc Mã ngộ Bại, Tuyệt hương (ở Bại Địa, Tuyệt Địa) Tuế ngộ Không Kiếp là phương không lành (B171)
Nhưng có câu phú cho rằng Mệnh tại Bại Địa hay Tuyệt địa gặp Lộc Tồn thì giải được:
Mệnh cung Bại, Tuyệt nhược phùng, Bằng như Thiên Lộc có công phù trì

Lộc Tồn gặp Tuần hay Triệt thì trở nên xấu, cơ nghiệp bị tan tành TVT cho rằng tọa thủ tại Mệnh, Điền hay Tài:
Tuần Triệt bất khả ngộ Lộc Tồn, tư cơ phá hoại (B71, 10)

Lộc Mã gặp Không Kiếp, Thái Tuế hội họp thì hoặc Triệt là phá cách, không tốt
Kiếp Không Thái Tuế suy vi, Lộc Mã ngộ Triệt ích gì nữa mong

Cung Tài Bạch hay Điền Trạch có Lộc Tồn thủ thì có vàng ngọc, nghĩa là giàu có. Chú ý rằng Lộc Tồn tại Điền thì Mệnh sẽ có Tiểu Hao hoặc Đại Hao thủ:
Lộc Tồn thủ ư Tài (Tài Bạch) Trạch (Điền Trạch), tích ngọc đôi kim (19)
Lộc Tồn thủ Điền Trạch cung, Đôi kim tích ngọc, phú ông ai bì (B181)

Cung Huynh Đệ có Lộc Tồn thủ gặp Triệt thi trưởng nam ly hượng. Chú ý Lộc Tồn tại cung Tí luôn bị Triệt:
Lộc Tồn ngộ Triệt cư Huynh Đệ, nam trưởng bôn ba ngoại xứ (20)

Cung Huynh Đệ có Lộc Tồn và Thái Âm hãm địa cư đồng cung thì có anh em cùng cha khác mẹ hay cùng mẹ khác cha
Thiên Lộc nhi ngộ Thái Âm ư nhàn cung dị bào huynh đệ (22)

Phu Thê có Song Lộc thì vợ chồng đều thuộc gia đình giàu có:
Song Lộc hội cung Phu Thê,
Vợ chồng phối hợp vốn giòng giàu sang

Cung Thê có Thái Âm phùng Khúc Lộc Ân Mã Đồng thì lấy vợ giàu có. Thiết tưởng Thái Âm cần sáng sủa nghĩa là rơi vào trường hợp Thái Âm tại Thân, Dậu, Tuất, Tí
Vợ giàu của cải vô ngần, Thái Âm phùng Khúc Lộc Ân Mã Đồng (Thiên Đồng) (18)

Lộc Tồn tại Nô kiếm tiền khó khăn, xuôi ngược vất vả mới có:
Lộc cư Nô Bộc bực mình, Đông Tây xuôi ngược mới sinh tiền tài
Lộc Tồn (nhất là Lộc Mã) thích hợp cho cách Tử Phủ Vũ Tướng vì Lộc Tồn gặp Tử Phủ đồng cung hay hội chiếu đều rất tốt và gặp Vũ Khúc cũng rất hay. Lộc Tồn cũng hợp với Cơ, Đồng, Lương sáng sủa (như Đồng Lương Dần Thân, Cơ Âm tại Thân, Cơ Lương Thìn Tuất) và rất kỵ gặp Cự Môn. Theo VVT thì Lộc Tồn có Hóa Lộc ở tam hợp chiếu về Tử Vi là Song Lộc phụng nghinh cách, vua có tôi hiền và tại miếu địa triều Tử Vi là cách quân thần khánh hội

Bộ Lộc Mã gặp Tử Vi rất tốt đẹp, nhất là Tử Phủ Dần Thân gặp Lộc Mã:
Lộc Tồn, Tử (Tử Vi) cùng Thiên Mã hội, Ngộ phi thường, mừng buổi phong lưu (QXT)
Lộc Mã được ngồi cùng Tử Phủ, Ở Dần Thân phúc hậu chung thân(AB)

Tử Vi Lộc Tồn đồng cung, có Tả Hữu chiếu thì quí hiển tột bực không thể dùng lời mà nói.
Tử Lộc (Tử Vi Lộc Tồn) đồng cung, Phụ Bật (Tả Hữu) chiếu, quí bất khả ngôn (23, TTL)

Mệnh hoặc Tài sáng sủa tốt đẹp có Tử Phủ chiếu hoặc Tử Phủ gặp Lộc thì cả đời phúc hậu và vinh hiển. Theo TVT thì gặp Hóa Lộc đồng cung nhưng câu phú này nên áp dung cho Lộc Tồn thủ, Phủ Tướng chiếu:
Tử Phủ triều viên hoặc Lộc phùng, chung thân phúc hậu chí Tam Công (41)
Tài (cung Tài) Thiên Lộc (Lộc Tồn) ba phương Phủ, Tướng, Lại triều viên, cách vượng quan gia (B154)
Phúc hậu ấy Lộc Tồn tị thủ,
Được tam phương Tướng, Phủ càng vinh. (B101)
Hơn thì Tân, Ất, Giáp, Canh,
Mậu, Nhâm, Quí, Kỷ, Bính, Đinh, vừa vừa (Lộc Tồn thủ Mệnh thì phúc hậu, gặp thêm Tướng Phủ chiếu thì càng vinh hiển. Các tuổi Giáp Ất Canh Tân thì tốt nhất, các tuổi khác thì cũng khá) (B102)

Mệnh có Thiên Phủ gặp Xương Khúc Lộc Tồn thì rất giàu có
Thiên Phủ Xương Khúc, Lộc Tồn, cự vạn chi tứ (15, TTL)

Phủ, Tướng hoặc Lương gặp cát tinh Lộc Tồn Xương Khúc hoặc Lộc Tồn Tả Hữu hội họp thì vinh hiển:
Quần thần khánh hội cách rất hay, Phủ Tướng Lương hợp cùng bộ cát tinh
Lộc Tồn, Xương Khúc bên mình, Hoặc là Tả Hữu hiển vinh anh tài (AB)

Lưỡng Lộc Ngọ Dần nhi phùng Tử Vũ Âm Nam phú đa danh thọ (14)
Giải: TVT cho rằng Âm Nam Mệnh Tử Vi hay Vũ Khúc tại cung Ngọ hay Dần có Lộc Tồn và Hóa Lộc tọa thủ đồng cung hay xung chiếu thì giàu có, tiếng tăm và sống lâu, hưởng phúc thọ. Cần coi lại câu phú này vì khi là âm nam thì chỉ có tuổi Đinh Kỷ thì tại vị trí cung Ngọ mới có Lộc Tồn thủ còn Lộc Tồn cư Dần thì là tuổi Giáp nghĩa là tuổi Dương không thể áp dụng. Câu này nên dược giải thích như sau: Âm Nam Mệnh Tử Vi tại cung Ngọ có Lộc Tồn thủ tại Ngọ và Hóa Lộc đóng tại Dần thì giàu có, tiếng tăm và sống lâu, hưởng phúc thọ. Chú ý tuổi Đinh Thiên Lương cư Ngọ có Lộc Tồn thủ, có Hóa Lộc đồng cung với Cơ Âm gặp Triệt, tuổi Kỷ Tử Vi cư Ngọ có Lộc Tồn tại Ngọ và Hóa Lộc đồng cung với Vũ Tướng tại Dần. Câu phú trên áp dung cho tuổi Kỷ Mệnh tại Ngọ có Tử Vi

TTL cho rằng Nam nhân tuổi Đinh Kỷ Mệnh an tại Tí Ngọ có Hóa Lộc hay Lộc Tồn tọa thủ gặp Tử Vũ hội họp thì hưởng phú quí và sống lâu. Nếu có một Lộc thủ, một chiếu thì thật là toàn mỹ
Lưỡng Lộc Ngọ Dần nhi phùng Tử Vũ, Đinh Kỷ Âm Nam phú đa danh thọ (TTL)

Mệnh Vũ Khúc tọa thủ có Lộc Mã hội họp thì kiếm tiền dễ dàng ở nơi xa quê hương. TTL cho rằng Vũ cần đắc, vượng, miếu. Lộc ở đây là Lộc Tồn và chỉ có cung Dần Thân mới có cách Lộc Mã đồng cung hay xung chiếu mà thôi nên cách này chỉ có Vũ Tướng Dần Thân, Vũ Khúc Thìn Tuất mới có khả năng gặp
Vũ Khúc Lộc Mã giao trì (Lộc Mã xung chiếu nhau), phát tài viễn bộ (viễn quận) (24, TTL)

Mệnh có Thái Âm hay Vũ Khúc (miếu vượng đắc) gặp Lộc Tồn đồng cung, Tả Hữu hội họp thì giàu có
Thái Âm, Vũ Khúc, Lộc Tồn đồng (đồng cung), Tả Hữu tương phùng phú quí ông (giàu có) (11, TTL)

Theo VVT thì Thiên Tướng gặp Lộc Mã Binh Hình Ấn thì quí hiển, làm đến công hầu:
Tướng (Thiên Tướng) Ấn chính vị Công Hầu, Binh, Hình, Lộc, Mã hội chầu Mệnh viên (AB)

Dương Lương cư Mão gặp Xương Lộc hội thì quí hiển. Không rõ Lộc là Lộc Tồn hay Hóa Lộc nhưng thiết tưởng là Lộc Tồn hay Hóa Lộc đều tốt cả:
Thái Dương cư Mão, Lương Xương Lộc hội,
Tuổi Tuất Thìn cách tối vinh xương
Chính là Nhật xuất phù tang,
Giữ ngôi Tể Tướng quyền sang nhất triều (AB320)

Đồng Lương thủ đồng cung gặp Khôi Quyền Linh Kỵ Song Lộc kinh doanh rất giỏi, làm giàu dễ dàng. Chú ý chỉ có tuổi Đinh Đồng Lương cư Dần mới gặp Song Lộc Quyền Khoa và Khôi nhị hợp trong đó Đồng Lương Thiên Quan Quốc Ấn Hóa Quyền bị Triệt:
Đồng Lương viên ngộ Khôi Quyền tăng phùng Linh Kỵ giao lai Song Lộc doanh thương dị phát phú (19, TTL)

Mệnh, Tài Bạch có Cơ, Lương hội họp cùng Lộc Mã thì rất giàu có. TVT cho rằng ở Điền cũng vậy:
Của cải ví Thach Sùng kim cốc (có nhiều tài sản như Thạch Sùng), Ở Điền Tài Lộc Mã Cơ Lương (B111)
Cơ Lương Lộc Mã đồng cung, Phú kham địch quốc của dùng hết đâu
Cơ Lương phùng Lộc Mã, phú kham địch quốc (rất giàu có) (14)

Cự gặp Lộc Tồn đồng cung thì rất xấu, nếu ở cung Tử thì không có con nối dõi
Cự phùng Tồn tú (Cự gặp Lộc Tồn đồng cung) cát xứ toàn hung, ưu nhập Tử cung, vô nhi tòng lão (38)

Mệnh có Cự Nhật Dần Thân thì như mặt trời treo lơ lững trên cao chiếu xuống rất tốt đẹp, nhưng nếu gặp Lộc Tồn đồng cung thì suốt đời chẳng được xứng ý toại lòng. Mệnh có Cự Nhật Dần Thân nếu gặp Quyền Phượng thì hưởng phu phụ song toàn
Chú ý rằng tuổi Giáp thì Cự Nhật tại Dần đồng cung với Lộc Tồn Hóa Kỵ nên không còn tốt đẹp, còn tuối Canh thì Cự Nhật đồng cung với Lộc Tồn Hóa Lộc, chính Lộc Tồn Hóa Lộc đồng cung đã làm phá cách mặc dù tại đây có tam hóa liên châu
Cự Nhật Dần Thân, thiên môn nhật lãng, kỵ ngộ Lộc Tồn, ái giao Quyền Phượng (8, TTL)
Cự Nhật đồng thủ Dần Thân,
Ba đời vinh hiển cháu con sang giầu (HC 73)
Gặp Quyền Phượng thế hay rất hiếm,
Gặp Lộc Tồn lại kém lắm thay (HC 73)

TTL cho rằng Cự Cơ Mão Dậu gặp Lộc Tồn đồng cung thì ăn nói hồ đồ không thận trọng, và Mệnh có Cự Môn gặp Lộc Tồn thì cũng giải như trên
Cự, Cơ nhi ngộ Lộc tồn, ngữ bất chính ngôn (21, TTL)

Cự Môn tại Tỵ Hợi kỵ gặp Lộc Tồn đồng cung, nếu gặp Quyền Lộc thì có chí lớn nhưng không gặp thời, như dùng kiếm ném lên sao Ngưu, nên an phận thủ thường thì hơn. Chú ý câu này thì đúng với trường hợp tuổi Đinh Cự Môn tại Tỵ đồng cung với Lộc Tồn, Thiên Quan, Thiên Trù gặp Triệt, Hóa Lộc Việt Khôi Quyền Quốc Ấn chiếu, Cự Môn tại Hợi có Khôi thủ, Quyền Lộc Lưu Hà tam chiếu, Lộc Tồn, Thiên Quan, Thiên Trù đồng cung với Nhật gặp Triệt xung chiếu:
Cự Môn Tỵ Hợi kỵ ngộ Lộc Tồn (đồng cung) nhi phùng Quyền Lộc kiếm sạ đẩu ngưu (30)

Cự Môn Hợi Tí gặp Hóa Lộc Hóa Quyền thì quí hiển nhưng nếu gặp Lộc Tồn thì là người có chí lớn nhưng không gặp thời
Hợi Tí: Cự Lộc Quyền rất quí,
Gặp Lộc Tồn biến thể ra hư
Mang bao cao vọng mịt mờ,
Như theo mây ám như chờ bóng xa (HC)

Cung Phúc tại Hợi có Lộc Tồn, Cự Môn, Tham Liêm, Kiếp Mã Hình hội họp với Tang Tuế Tả Khoa Ấn Lộc thì giàu có nhưng không có con nối giõi, lại là người khó lòng làm việc thiện. Nhưng nếu phúc VCD có Tam Không (Tuần Triệt án ngữ hay Thiên Địa Không hội họp) không găp bại tinh thì nên đi tu và là người hiền lành thì tốt và suốt đời được xứng ý toại lòng
Phúc cư Càn địa (tại Hợi) hiềm cư Tồn (Lộc Tồn) Cự (Cự Môn) Tham Liêm Kiếp Mã Hình giao lai Tang Tuế Tả Khoa Ấn Lộc vinh thân, vô tử, nan tác thiện lương, hạnh kiến Tam Không đồng tọa can ư bất kiến chính tinh (không có chính tinh tọa thủ), bại diệu dĩ thân thoát tục thiên nhân hạnh phát hỷ hài vĩnh cửu (23)

Mệnh có Phá Quân hay Tham Lang gặp Lộc Mã trai thì chơi bời hoang đàng, đàn bà thì dâm dật, nhưng lại kiếm tiền dễ dàng
Phá Quân, Tham Lang phùng Lộc Mã Nam đa lãng đãng Nữ đa dâm (19 TTL)

Nhật tại Tỵ cung, Nhật mỹ huy thiên (Nhật tại cung Tỵ thì rất sáng sủa tốt đẹp ví như mặt trời ở trên cao tỏa ánh sáng xuống), kiêm lai Lộc Mã Tràng (Tràng Sinh) Tồn (Lộc Tồn) Phụ Bật thế sự thanh bình vi đại phú (thời bình thì rất giàu có), nhược kiêm Tướng Ấn Binh Hình vô lai Tuần Triệt (không bị Tuần Triệt xâm phạm) loạn thế công thành (lập chiến công trong thời loạn) (39, TTL) (chú ý TTL không ghi Lôc, Tồn
Giải: Nhật tại cung Tỵ thì rất sáng sủa tốt đẹp ví như mặt trời ở trên cao tỏa ánh sáng xuống, gặp được Lộc Mã Tràng Sinh, Lộc Tồn (chú ý TTL không đề cập đến Lộc Tồn), Tả Hữu thì rất giàu có trong thời bình, nếu gặp Tướng Ấn Binh Hình và không bị Tuần Triệt xâm phạm thì lập chiến công trong thời loạn

Nhật Mộc (Mộc Dục) Mã tại Tỵ cung,
Trường Sinh Phụ Bật hợp cùng: phú vinh (HC 55)
Bằng gặp Tướng Ấn: binh hùng,
Phải thời loạn thế mới thành công to (HC)

Sát phùng Tồn, Tử giải qua,
Một sao Kỵ đóng, ắt là tối tăm (QXT)
Sát gặp Tồn, Tử đoán ra,
Lại sao Kỵ đóng ắt là tối tăm
Lộc Tồn tại hạn:
Lộc Tồn nhập hạn ca
Lộc Tồn chủ hạn tối vi lương
Tác sự cầu mưu, tận cát tường
Sĩ lộc phùng chi, đa chuyển chức
Thứ nhân ngộ thử định tiền lương (túc tiền lương, VTL)

Lộc tồn thủ hạn thọ diên trường,
Tác sự doanh mưu, vạn sự xương
Cánh hữu Khoa, Quyền kiêm Tả Hữu,
Định tri thử hạn phú sương sương (hạn vinh hoa phú quí, VTL)

Lộc Tồn, Lộc chủ đa phú túc
Hôn nhân giá thú thiêm tự tục (thêm giòng giống) (sinh con đẻ cái, VTL)
Cánh kiêm Khoa, Lộc hựu đồng cung
Tất chủ vinh hoa hưởng hạnh phúc

Lộc Tồn giao trì hạn bộ phùng
Tối phạ Kiếp, Không tương ngộ đồng
Cánh kiêm Thái Tuế ác tinh xung
Hạn đáo kỳ niên, nhập mộ trung (QXT) (Lộc Mã giao trì tại hạn tối kỵ Thiên Không Địa Kiếp và Thái Tuế xung dễ chết, VTL)

Vận năm Lộc Mã cùng lưu,
Dương Đà Kỵ Nhật mắt đau khá phòng (Hạn gặp thì đề phòng đau mắt) (B110)

Các câu phú cần xét lại
Lộc phùng xung Phá, cát dã thành hung (TTL)
Mệnh có Lộc (Lộc Tồn), ngộ Phá Không, Cát vượng phản biến, vi hung tức thời(AB331)
Giải: Lộc Tồn tọa thủ gặp Phá Quân xung chiếu nên mờ ám xấu xa. Có cách này thì tiền tài thiéu thốn, suốt đời phải lo lắng về sinh kế và hay mắc tai họa. Chú ý Mệnh có Thiên Tướng thì có Phá Quân xung chiếu. Như vậy thì Thiên tướng đồng cung với Lộc Tồn thì xấu. Câu phú này cần xét lại, có lẽ câu phú này là: Lộc phùng xung phá, cát dã thành hung nghĩa là Lộc Tồn gặp các sao xấu như Không Kiếp phá hoại thì trở thành xấu xa

Mệnh phùng Lộc, cư Không Thân xứ, mãn kiếp tao phùng thiểu khiếm (21)
Giải: TVT giải rằng Mệnh có Lộc Tồn tọa thủ, cung Thân có Thiên không hoặc Địa Không tọa thủ tất đời chỉ phong luu hoặc đủ ăn chứ không thể giàu có được. Cần coi lại câu phú này

Thiên Di Cơ Mã cùng ngồi,
Đông trì Tây vụ pha phôi cõi ngoài
Thiên Di bày Mã, Binh ngồi,
Đông trì Tây vụ pha phôi cõi ngoài (QXT)
Thiên Di Lộc Mã cùng ngồi,
Đông trì Tây vụ pha phôi quê người (VT)

Tử Lộc đồng cung, Nhật Nguyệt chiếu, quí bất khả ngôn (24)
Giải: cần xét lại câu phú này, câu này không có nghĩa bởi vì Tử Vi không bao giờ có Nhật Nguyệt chiếu. Nếu hiểu rằng Tử Vi gặp Lộc Tồn đồng cung hoặc một cung có Nhật Nguyệt chiếu thì quí hiển cũng không ổn vì không đề cập đến đắc hãm của Nhật Nguyệt

Hao gặp Hóa Lộc thì không tốt. Lộc đây phải hiểu là Hóa Lộc vì Lộc Tồn không bao giờ tam hợp xung chiếu với Lộc Tồn:
Hao cư Lộc vị vô duyên,
Tham cư vượng địa chuột miền Đông Sơn (B181)

Sửu Mùi Nhật Nguyệt Lộc Khoa,
Mệnh Quan phương bá (làm bá chủ một cõi) thực là vẻ vang (B156)
Lộc tại đây nên hiểu là Hóa Lộc

Thái Âm hội Tả Hữu, Lộc Tồn, Vũ Khúc,
Cách riêng cho những bậc phú ông (AB)

Vũ, Cơ, Lộc, Mã, Long, Loan,
Trai ban binh tước, gái bàn thư cưu (Hạn gặp, con trai thì có công danh, gái thì có người đến hỏi cưới)

Vũ, Cơ, Lộc, Mã, Hỉ, Hồng,
Hôn nhân vận ấy đèo bồng thất gia

Vũ Cô Lộc Mã Quả (Quả Tú) Loan (Hồng Loan), hôn nhân thuở ấy mới tròn thất gia
Giải: hạn có Vũ Khúc Lộc Mã Hồng Cô Quả thì lập gia đình

Lộc Tồn thủ Mệnh mạc phùng xung,
Đà Hỏa giao gia phúc bất toàn
Thiên Cơ, Kiếp, Không, Kỵ tương hội,
Không môn tăng đạo đắc thanh nhàn (VTL)
Chú ý câu phú trên nói Lộc Tồn gặp Đà La thì không bao giờ có được

Lộc Cơ lanh lợi, tài cao (lanh lợi và có tài năng)
Dễ lành dễ dữ (khi thì hiền lành, khi thì dữ dằn) Tham vào Mã viên (Tham Lang ở cung Ngọ) (B153)
Không rõ là Lộc Tồn hay Hóa Lộc
Đầu trang

Trả lời bài viết

Quay về “Luận giải Tử vi”