Tử bình chân thuyên bình chú

Các bài viết học thuật về môn tứ trụ (tử bình, bát tự)
VULONG
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 707
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: Tử bình chân thuyên bình chú

Gửi bài gửi bởi VULONG » 06:50, 24/01/14

Chương 8 : Luận dụng thần
.
Dụng thần của bát tự , chuyên tìm ở nguyệt lệnh , tức là lấy can ngày phối cùng chi tháng nắm lệnh, do sanh khắc bất đồng mà định ra cách cục o Tài quan ấn thực , là dụng thần khéo dùng thuận theo giúp với, sát thương kiếp nhận , là dụng thần dùng khắc chế ngược lại với ngày can o
Đáng thuận mà được thuận , đáng nghịch mà gặp nghịch , phối hợp thì nên , đều là quý cách Dụng thần là tìm trong bát tự xem có thần nào dùng được o Thần có : tài , quan , thực , ấn, thiên tài , thiên quan, thiên ấn , thương quan , kiếp nhận vậy o Xem kỹ lẽ vượng nhược hỉ kị trong bát tự , hoặc phò hoặc chế, tức lấy thần phò trợ hay ức chế ngày can để mà dùng , gọi là dụng thần, cũng là then chốt của bát tự vậy o
Chọn sai dụng thần thì đoán mệnh sai , nên nói đoán mệnh trước tiên lấy dụng thần là quan trọng nhất o
Phép chọn dụng thần , trước tiên tìm ở chi tháng nắm lệnh nếu như đang được vượng khí ở chi tháng o
Như không dùng được nguyệt lệnh , mới tìm tới trong các can chi năm ngày giờ o
Phép tìm dụng tuy khác nhau , mấu chốt là ở chổ có được nguyệt lệnh không o Như nguyệt lệnh lộc kiếp ấn thụ, nhật nguyên thịnh vượng , không thể dùng kiếp ấn , tất riêng tìm thần khắc hay tiết khí làm dụng, tuy dụng thần không ở nguyệt lệnh , nhưng mấu chốt để tìm lại ở tại nguyệt lệnh o
Nhược tứ trụ nhiều thần khắc tiết , nhật nguyên chuyển nhược , tất kiếp ấn ở nguyệt lệnh , cứ y thế mà dùng o
Sách có câu dụng thần chuyên tìm ở nguyệt lệnh , lấy nhật nguyên so với địa chi nguyệt lệnh, xem kỹ vượng suy cường nhược mà định dụng thần vậy o
Phép chọn dụng thần tuy bất nhất , tóm tắt lại , có thể chia làm 5 loại sau :

1 - Phò trợ hay ức chế
Ức chế nhật nguyên cường , phò trợ nhật nguyên nhược, lấy phò hay ức làm dụng vậy.
Thần của nguyệt lệnh quá cường tất ức chế, quá nhược tất phò trợ, lấy phò hay ức nguyệt lệnh làm dụng vậy.

2 - Bệnh dược
Lấy phò làm hỉ , tất thương tổn phò trợ là bệnh ; lấy ức làm hỉ, tất khắc mất ức là bệnh. Trừ bỏ thần bệnh ấy , tức là thuốc chữa. Như vậy gọi là chọn dụng thần chữa bịnh.
3 - Điều hoà khí hậu

Kim thủy sanh mùa đông , mộc hỏa sanh mùa hạ, khí hậu hoặc quá lạnh hay quá nóng , đều kíp nên điều hòa khí hậu. Vậy gọi là lấy điều hậu làm dụng thần vậy.
4 - Chuyên vượng

Khí thế tứ trụ thiên lệch cả về 1 phương không thể đảo ngược được, chỉ còn cách thuận theo khí thế ấy, hoặc tòng hoặc hóa, gặp chuyên vượng 1 phương thành cách cục như vậy.
5 - Thông quan

2 thần tranh nhau, mạnh yếu như nhau, không thể phân hơn thua, nên lấy điều hòa cả 2 bên làm điều tốt đẹp, vì vậy lấy thông quan làm dụng vậy.
Phép chọn dụng thần đều không ngoài 5 loại trên , đều theo nguyệt lệnh mà suy định ra
Đến như gọi là thiện ác chẳng liên quan gì đến cát hung. Là hỉ thì kiêu thương thất sát cũng đều là cát thần. Phạm kị thì chánh quan tài ấn , cũng là ác vật , không nên chấp nhất mà luận, nên cốt ở có hợp được không thôi.
Nhân vì dụng thần trọng yếu vậy , nên phàm ngũ hành nghi kị , can chi tính tình, đến sanh vượng tử tuyệt hội hợp hình xung giải cứu , thảy đều đắc dụng , ráng nên chú ý, tuy chỉ là lý luận , nhưng là căn bản , người học nên chú ý kỹ.

( Nhất ) phù ức

( 1 ) Lấy phò hay chế nhật nguyên làm dụng o Phò có 2 loại : ấn sanh hoặc kiếp trợ o
Ức cũng có 2 loại : quan sát khắc , thực thương tiết o
55 - Đinh hợi Bính ngọ Nhâm dần Kỷ dậu
Tài vượng thân nhược, nguyệt lệnh kỷ thổ quan tinh thấu ra, tài quan cả 2 đều vượng mà thân nhược, nên dụng ấn mà không dùng quan, lấy ấn phò trợ nhật nguyên làm dụng thần o Là trụ của bộ trưởng ngoại giao Ngũ Triêu Xu o
 
56 - Đinh mão Quý sửu Bính thân Mậu týQuý thủy quan tinh trong sửu thấu ra , thêm tý thân hội cục trợ giúp, thủy vượng hỏa nhược,
dùng kiếp giúp thân làm dụng thần o Là trụ của Thái Kiết Dân tiên sanh o
57 - Quý tị Đinh tị Đinh mão Bính ngọ
Nhật nguyên quá vượng, lấy quý thủy trên trụ năm ức chế nhật nguyên làm dụng, hành quan sát vận đại phát o Là trụ của bộ trưởng giao thông Chu Gia Hoa o

58 - Bính ngọ Nhâm thìn Nhâm thân Ất tịCũng nhật nguyên quá vượng , ất mộc dư khí trong thìn thấu can, tiết khí bớt nhật nguyên cho đẹp làm dụng , cũng là ý ức chế bớt vậy o
Là trụ của bộ trưởng tài chánh đời trước Vương Khắc Mẫn o
Phò trợ hay ức chế nguyệt lệnh làm dụng
59 - Mậu thìn Giáp dần Đinh mão Mậu thân
Dần mão thìn khí đông phương hội đủ thêm thấu giáp , dụng thần quá cường. Lấy tài tổn ấn làm dụng , là trụ của chủ tịch chánh phủ quốc dân Lâm Sâm o
60 - Kỷ mão Đinh sửu Quý sửu Ất mão
Nguyệt lệnh thất sát thấu can , lấy thực thần chế sát làm dụng, cũng là lấy dụng thần ức chế cái mạnh thái quá o
Là trụ của viện trưỏng hành chánh đời trước Đàm Duyên ? o
 
61 - Mậu tuất Kỷ mùi Bính tý Canh dần

Bính hỏa sanh tháng 6 , lửa còn chút sáng , giờ gặp dần mộc , tý thủy quan tinh sanh ấn, nhật nguyên tưởng nhược mà thành không nhược o
Nguyệt lệnh kỷ thổ thương quan thấu ra , bát tự liên tiếp 4 thổ , tiết khí thái quá, lấy tài tiết thương làm dụng , cũng là để ức chế cái mạnh thái quá o Là trụ của Lý quân ở Hợp phì o
 
62 - Ất hợi Quý mùi Kỷ hợi Tân vịKỷ thổ nhật nguyên , thông căn nguyệt lệnh , ất mộc trên trụ năm nhược, nên lấy dụng thần phò trợ cái quá nhược o
Là trụ của tổng trưởng giao thông đời trước Tằng Dục Tuyển o
63 - Kỷ tị Ất hợi Nhâm tý Ất tị
Kỷ trên trụ năm bị ất khắc, tị gặp hợi xung , bỏ không dùng , thân vượng khí hàn o
Tị hỏa trụ giờ nhược, lấy thương quan sanh tài làm dụng, cũng là lấy dụng thần phò trợ cái nhược o Là trụ của tổng lý nội các đời trước Chu Tự o


 ( Nhị ) bệnh dược

64 - Mậu tuất Giáp tý Kỷ tị Mậu thìn
Nguyệt lệnh thiên tài đương lệnh , tỉ kiếp tranh tài là bệnh, lấy giáp mộc quan tinh chế kiếp làm dụng , lấy khắc chế kiếp để hộ tài vậy o
Là trụ của Lý quân ở Hợp phì (Chú ý trụ này kiêm lấy bính hỏa trong tị. Tháng 11 khí hàn , được hỏa sưởi ấm thì phát lành , tức là ý điều hoà khí hậu vậy ) o
65 - Nhâm tuất Kỷ dậu Đinh sửu Giáp thìn
Nguyệt lệnh tài vượng sanh quan , kỷ thổ thực thần tổn quan là bệnh, lấy giáp mộc để loại thực thần, là trụ của Lưu Trừng Như ở Cửu giang


( Tam ) điều hậu

65 - Nhâm thìn Quý sửu Tân sửu Giáp ngọ
Kim hàn thủy lạnh , thổ kết thành băng, lấy ngọ trên trụ giờ làm dụng , cũng là điều hòa khí hậu o
Là trụ của Thanh vương Tương Ỷ o
66 - Tân hợi Kỷ hợi Nhâm ngọ Tân hợi
Tuy kỷ thổ quan tinh thấu can, nhưng nếu không có đinh hỏa trong ngọ , tất quan tinh không có dụng , cũng là điều hậu o
Là trụ của Trương Thối Hán đi về phương nam o
Bệnh dược là dụng , như nguyên cục không có thần chữa bệnh , tất đợi vận điền chổ khuyết đó, thì mới phát triển , cũng là điều hậu vậy o Cách cục chuyển biến không riêng gì ví dụ này o

( Tứ ) chuyên vượng

67 -Nhâm dần Đinh mùi Kỷ mão Ất hợi
Đinh nhâm dần hợi mão mùi , khí thiên mộc , tòng theo thế mộc vượng làm dụng o
Là trụ của tổng trường ngoại giao đời trước Ngũ Đình Phương , là cách tòng sát o
68 - Đinh tị Đinh mùi Đinh mão Quý mão
Tuy quý thủy thất sát thấu ra , nhờ có mão mộc hóa , cũng nên thuận theo thế vượng o
Là trụ của Thích Dương tri phủ giờ nhà Thanh o
69 - Ất sửu Kỷ mão Ất hợi Quý mùi
Xuân mộc thành cục , tứ trụ không kim , là cách khúc trực nhân thọ, là trụ của chấp chánh Đòan Kì Thụy o
70 - Mậu dần Ất mão Đinh mùi Nhâm dần
Đinh nhâm tương hợp , tháng giờ mão dần , hóa khí thành cách , hóa thần hỉ hành vượng địa ,
vượng hết mức , cũng mừng nếu gặp tiết khí bớt o
Là cách đinh nhâm hóa mộc , là trụ của Tôn Nhạc o
 

( Ngũ ) thông quan

71 - Đinh dậu Bính ngọ Đinh dậu Kỷ dậu
Hỏa kim đấu nhau , lấy thổ thông quan là phú cách , không có thổ tất không thể dụng kim vậy o Là trụ của Cối kê sư giang Vạn Bình Quân o
72 - Quý hợi Canh thân Giáp dần Ất hợi
Kim mộc đấu nhau , lấy thủy thông quan , lấy sát ấn tương sanh làm dụng o Là trụ của Lục Kiến Chương o
Pháp thông quan rất đỗi trọng yếu , như nguyên cục không có thần thông quan, may gặp vận trình điền chổ khuyết đó thì cũng phát triển o
Dụng thần là như vậy , như có hỉ thần và kị thần , lại gặp vận hành nơi thông quan , điều hòa khí thành tốt o
Như tài ấn đều thanh, lấy quan sát vận làm tốt đẹp, tháng kiếp dùng tài cách, lấy thực thương vận làm tốt đẹp. Tức là thông quan vậy o
Như thế khéo thuận dụng thì, tất tài mừng gặp được thực thần sanh, tài sanh quan có thể hộ tài, quan hỉ thấu tài tương sanh , sanh ấn khả để hộ quan ; ấn hỉ quan sát tương sanh , kiếp tài có thể hộ ấn, thực hỉ thân vượng tương sanh , sanh tài có thể hộ thực o
Như nghịch dụng thì, tất thất sát hỉ thực thần chế phục , kị tài ấn tư phò, thương quan mừng có ấn đeo được chế phục , sanh tài có thể hóa thương, dương nhận mừng được quan sát chế phục, kị không gặp được quan sát, tháng kiếp hỉ thấu quan chế phục , lợi dùng tài thấu thực để hóa kiếp o Cách dùng thuận nghịch là vậy o
Tài mừng gặp thực thần tương sanh , ví như giáp lấy kỷ thổ làm tài , lấy bính làm thực thần ,
tài lấy thực thần làm gốc, tài kỷ thổ mừng gặp bính hỏa tương sanh vậy o
Sanh quan để hộ tài như, giáp lấy giáp ất làm tỉ kiếp, canh tân làm quan sát , có tỉ kiếp thì chia cướp tài tinh, tài sanh quan sát nhờ quan sát có thể khắc chế bớt tỉ kiếp, đó là sanh quan tức để hộ tài vậy o
Quan hỉ thấu tài để tương sanh , như giáp lấy tân làm quan , lấy kỷ thổ làm tài, quan lấy tài làm gốc , tân mừng gặp kỷ thổ chi tương sanh vậy o
Sanh ấn để hộ quan như , giáp lấy nhâm quý làm ấn , canh tân làm quan , quan sanh ấn ; đinh hỏa là thương, đinh hỏa khắc chế quan tinh , mừng có nhâm quý ấn chế thương để hộ quan, nên nói sanh ấn để hộ quan vậy o
Ấn mừng gặp quan sát tương sanh, kiếp tài hộ ấn, giáp lấy nhâm quý làm ấn, mậu kỷ làm tài, kị tài phá ấn, có tỉ kiếp chia tài, tức vì thế hộ ấn vậy.
Thực thần do ta sanh giả ra , hỉ thân vượng tương sanh o
Sanh tài để hộ thực là, ví như giáp lấy bính hỏa làm thực, kỷ thổ làm tài , nhâm quý làm ấn, thực thần kị bị ấn chế, có tài phá ấn, tức vì thế hộ thực vậy (thượng lấy giáp là lệ, loại thôi) o
Tài quan ấn lấy phối hợp âm dương theo chiều thuận , thực thần lấy đồng tính tương sanh theo chiều thuận, theo đường chánh mà phò trợ hay ức chế , vì thế nên khéo thuận dụng vậy o
Thất sát tức là , khắc mà cùng tính (như dương kim khắc dương mộc, âm kim khắc âm mộc ), tính cường bạo o Thân sát tương quân , nên được chế phục o
Tài có thể tiết bớt thực để sanh sát , ấn có thể chế thực để hộ sát , nên nói sát kị tài ấn tư phò là vậy o
Thương quan tức là , tương sanh mà khác tính, nhật nguyên nhược , mừng có ấn chế phục thương quan , nhật nguyên cường , hỉ thương quan sanh tài, tài có thể tiết bớt khí của thương quan chi , tức vì thế hóa thương vậy o
Dương nhận hỉ quan sát là như , nhật nguyên gặp ngôi vượng , chỉ đối với 5 can dương , nên gọi là dương nhận o
Cực vượng không có ức chế , tất đầy quá thì phải bị đổ , nên nói mừng gặp quan sát chế phục Nguyệt kiếp là , nguyệt lệnh lộc kiếp , nhật nguyên đắc giờ lệnh khí , tối hỉ quan vượng o
Nên dùng tài , tức là nên lấy thực thương làm chìa khóa , lấy thực hóa kiếp , chuyển sang sanh tài o
Dùng sát tất thân sát đều đình , nên dùng thực chế o
Các phép ấy đều là lấy phò trợ hay ức chế tháng thìn lệnh làm dụng , chẳng thiện nên phải nghịch dụng vậy.

Đời nay chẳng biết chuyên chú đề cương , xem hỉ kị hết thảy đều quy về nguyệt lệnh , rồi mới xem can chi tứ trụ, thậm chí thấy chánh quan bội ấn , chính là quan ấn song toàn , lại đi luận như ấn thụ dùng quan vậy, thấy tài thấu thực thần, chẳng lấy tài gặp thực sanh , mà cho là thực thần sanh tài , lại luận như thực thần sanh tài, thấy thiên ấn thấu thực , chẳng lấy tiết thân làm đẹp , lại cho là kiêu thần đoạt thực , nên dùng tài chế, lại đi luận như thực thần gặp kiêu, thấy sát gặp thực chế mà lại lộ ấn thì , chẳng chịu lấy khử thực hộ sát , mà cho là sát ấn tương sanh, lại đi luận như ấn thụ gặp sát, đến như sát cách gặp nhận , chẳng lấy nhận giúp thân chế sát , mà cho là lấy thất sát chế nhận lại đi luận như dương nhận lộ sát o Đó đều do chẳng thông nguyệt lệnh mà luận bậy vậy.

Chánh quan bội ấn tức là nguyệt lệnh chánh quan , hoặc dùng ấn hóa quan, hoặc gặp phải thực thương cản trở quan nên phải lấy ấn chế thực thương để hộ quan vậy o
Ấn thụ dùng quan tức là nguyệt lệnh ấn thụ , nhật nguyên nhờ ấn tư sanh mà vượng , can thấu 1 quan , mà quan có tài sanh , là quan thanh ấn chánh , quan ấn song toàn , tuy đều có quan ấn , nhưng đeo ấn nên kị tài phá ấn o
Ấn thụ dùng quan cũng mừng gặp tài sanh quan , nhưng phép dùng tiệt nhiên bất đồng vậy o
Tài thấu thực tức là nguyệt lệnh là tài , thêm can thấu thực thần , nhờ đó mà hóa kiếp hộ tài.

Thực thần sanh tàitức là nguyệt lệnh là thực thần , gặp tài tất khí thực thần lưu thông , kị gặp kiếp o
Thiên ấn thấu thực tức là nguyệt lệnh thiên ấn tư sanh nhật nguyên , thực thần tiết thân làm đẹp, kị gặp tài tinh o

Thực thần gặp kiêutức là nguyệt lệnh thực thần , 1 chi gặp kiêu , là kiêu thần đoạt thực, nên dùng tài chế kiêu để hộ thực o
Sát gặp thực chế được ấn lộ tức là nguyệt lệnh gặp sát , bị chi thực thần chế thái quá , lộ ấn thì khử thực hộ sát.

Ấn thụ gặp sát tức là nguyệt lệnh ấn thụ mà ấn khinh , mừng gặp sát để sanh ấn , vậy là sát ấn tương sanh o
Sát cách gặp nhận tức là nguyệt lệnh thất sát , nhật nguyên tất suy , may là ngày gặp nhận , lấy nhận giúp thân để chống lại sát vậy o
Dương nhận lộ sát tức là nguyệt lệnh dương nhận , nhật nguyên tất vượng , lấy thất sát để chế nhận , là sát nhận cách vậy.


Thảy đều do chưa từng nhận rõ nguyệt lệnh , nên lộn ngôi chủ khách , tuy sai 1 ly , mà đi 1 dặm vậy. Nay đã rõ những chổ trên kế hợp xem kỹ thêm ngày chủ vượng hay suy , chớ nên câu chấp. Cũng có khi nguyệt lệnh không có dụng thần thì làm sao ? Như mộc sanh dần mão, tháng ngày như nhau, chẳng thể lấy vốn là thân làm dụng , tất xem tứ trụ có tài quan sát thực thấu can hay hội chi , lấy riêng ra mà dùng. Đều lấy nguyệt lệnh là chủ , rồi mới tìm dụng , gặp cách gặp lộc tháng kiếp, không dụng tức là dụng thần vậy o
Cách gặp lộc tháng kiếp , không hẳn thân phải vượng , nếu vượng thì hỉ khắc tiết , lấy tài quan sát thực là dụng, nếu nhược thì hỉ phò trợ , tức lấy ấn kiếp làm dụng o
Như vậy dụng thần tuy không có ở nguyệt lệnh , nhưng mấu chốt chọn lấy dụng thần , tất tại nguyệt lệnh, gọi là khí nguyệt lệnh đương vượng nắm quyền hành trước tiên , rồi mới phối thêm các thần khác vậy o



VULONG
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 707
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: Tử bình chân thuyên bình chú

Gửi bài gửi bởi VULONG » 06:54, 24/01/14

Chương 9 : Luận dụng thần thành bại cứu ứng

Dụng thần chuyên tìm ở nguyệt lệnh , phối với tứ trụ , tất có thành bại.

Vì sao thành ?
Như quan gặp tài ấn , lại không bị hình xung phá hại , quan cách thành vậy o
Tài sanh quan vượng , hoặc tài gặp thực sanh mà thân cường đới tỉ, hoặc tài cách thấu ấn mà vị trí thỏa đáng , cả hai đều không tương khắc , thì tài cách thành vậy o
Ấn khinh gặp sát , hoặc quan ấn song toàn , hoặc thân ấn đều vượng thì dùng thực thương để tiết khí, hoặc ấn nhiều gặp tài mà tài thấu căn khinh , ấn cách thành vậy o
Thực thần sanh tài , hoặc thực đới sát mà không có tài , bỏ thực theo sát may thấu ấn , thực cách thành vậy o
Thân cường thất sát gặp chế , sát cách thành vậy o
Thương quan sanh tài , hoặc thương quan bội ấn mà thương quan vượng và ấn có căn , hoặc thương quan vượng, thân nhược mà thấu sát ấn , hoặc thương quan đới sát mà không có tài , thương quan cách thành vậy o
Dương nhận thấu quan sát mà lộ tài ấn , lại không gặp thương quan , dương nhận cách thành vậy o
Gặp lộc tháng kiếp , thấu quan mà gặp tài ấn , thấu tài mà gặp thực thương, thấu sát mà được chế phục , gặp lộc tháng kiếp cách thành vậy o

Dụng thần đã định xong , thì phải xem kỹ lẽ thành bại cứu ứng o
Quan gặp tài ấn tức là nguyệt lệnh chánh quan , thân vượng quan khinh mà tứ trụ có tài sanh quan, thân nhược quan trọng mà tứ trụ có ấn hóa quan, hay có chánh quan kiêm đới tài ấn, thành ra tài với ấn đều chẳng ngại ( xem tiết quan luận : chánh quan ấn ) , tất quan cách thành vậy o
Hình xung phá hại , lấy xung là trọng , xung tức là khắc vậy o
Như lấy mộc là quan , tất xung quan tất là kim là thương quan , nên nói lấy xung là trọng o
Hình phá hại nên cân nhắc kỹ , chưa chắc đã là phá cách vậy (xem trụ Hồ Hán Dân chương cách cục cao đê) o
Tài vượng sanh quan tức là nguyệt lệnh tinh vượng , tứ trụ có quan , tất tài vượng tự sanh quan, hoặc nguyệt lệnh tài tinh mà thấu thực thần , thân cường tất thực thần tiết tú , chuyển thành sanh tài, tài vốn kị tỉ kiếp, có thực thần tất chẳng kị nữa , nên tài có thực thần thì hóa tỉ kiếp vậy o
Hoặc thấu ấn mà vị trí thỏa đáng tức là tài ấn cả hai đều không tương khắc vậy ( xem tiết tài cách bội ấn ). Như can năm thấu ấn , can giờ thấu tài , ở giữa cách nhau có tỉ kiếp , tất chẳng ngại, nếu ở giữa cách nhau quan tinh tất là tài vượng sanh quan , cũng chẳng ngại, như vậy là tài cách thành vậy o
Ấn khinh gặp sát , hoặc quan ấn song toàn tức là nguyệt lệnh ấn thụ mà khinh, lấy sát sanh ấn , vậy là sát ấn tương sanh ; lấy quan sanh ấn , vậy là quan ấn song toàn. Nhưng thân cường ấn vượng , tất không thể dùng ấn , mà rất mừng thực thương tiết khí nhật nguyên cho đẹp o
Nhược ấn quá nhiều , tất nên lấy tổn ấn làm dụng (vì như thổ nhiều kim vùi , thủy nhiều mộc trôi ngũ hành sanh khắc chế hóa nghi kị), tất nên bớt chổ dư , bù chổ thiếu , đó chính là dụng thần vậy o
Vì vậy như tài thấu căn khinh , gặp vận sanh tài địa , giúp cái thiếu thành ra tốt đẹp vậy o
Nhược tứ trụ tài không có căn , tất ấn tuy nhiều , cũng không thể dùng tài phá ấn, nguyên cục tài tinh quá vượng , ấn thụ bị thương , tất nên trở ngược lại lấy tỉ kiếp bỏ tài phò ấn làm tốt vậy o
Như vậy là tùy theo cục mà chọn lấy tài hay không , không thể chấp nhất vậy o
Nguyệt lệnh thực thần , tứ trụ thấy tài , là thực thần sanh tài , chính là cách vậy o
Nếu tứ trụ thấu sát, tất thực thần chế sát làm dụng, kị tài a dua theo sát, nên lại nói không có tài mới tốt o
Nếu như sát vượng mà thấu ấn , tất bỏ thực mà theo sát , nên lấy ấn hóa sát làm dụng, chỉ vì bỏ thực mà theo sát, nên tuy nguyệt lệnh thực thần, không thể lấy thực thần cách mà luận nữa o
Tứ trụ như thấy kiêu ấn đoạt thực , tất bỏ thực mà theo sát là chánh , ấy là cũng thành cách vậy o
Nguyệt lệnh thiên quan mà thân cường , tất lấy thực thần chế sát làm tốt đẹp , sát cách thành vậy o
Như thân cường sát nhược , hoặc sát cường thân nhược , đều không thể lấy chế phục làm dụng, tất thân sát đều vượng , mới thành cách o
Nguyệt lệnh thương quan , thân cường lấy tài làm dụng , tức là thương quan sanh tài, thân nhược lấy ấn làm dụng , tức là thương quan bội ấn o
Thương quan vượng , ấn có căn , lấy vận sanh ấn địa làm tốt đẹp o Ấy là 2 cách chánh vậy o
Như thương quan vượng mà thân nhược , nếu thấu sát ấn , tất nên lấy ấn chế thương , hóa sát tư thân làm dụng o
Tuy nguyệt lệnh thương quan , nhưng cốt yếu là tại ấn o
Thương quan đới sát mà không có tài , cũng giống như thực thần đới sát vậy o
Lấy thương quan đè sát , tức là chế phục , kị tài a dua theo sát , nên nói không có tài mới thành cách vậy o

Nguyệt lệnh dương nhận , lấy quan sát chế nhận , cách cục tối mỹ o Nhận vượng sát cường , uy quyền hiển hách, ấn tư nhận , tài sanh sát , nên nói gặp lấy cả tài ấn là cát , không nên ngại hĩ o
Nhận vượng thì , tuy cũng có thể dùng thực thương tiết tú , nhưng vì chuyên dùng quan sát chế, nên lại không thể dùng thực thương , nên nói không có thương quan mới thành cách vậy o
Gặp lộc tháng kiếp , thấu quan mà gặp tài ấn , tức cũng như quan cách, thấu tài mà gặp thực thương , tức cũng như tài cách ; thấu sát mà bị chế phục , tức cũng như sát cách o
Lộc kiếp vốn là thân không thể dùng , phải theo lẽ phò trợ ức chế mà dùng , tức cũng như các cách trên vậy o

Tại sao bại ?
Quan gặp thương khắc hình xung, quan cách bại vậy, tài khinh tỉ trọng, hay tài thấu thất sát, tài cách bại vậy, ấn khinh gặp tài, hoặc thân cường ấn trọng lại thấu sát, ấn cách bại vậy, thực thần gặp kiêu , hoặc thực sanh tài lộ sát , thực thần cách bại vậy, thất sát gặp tài không có chế phục , thất sát cách bại vậy, thương quan không phải là kim thủy mà gặp quan , hoặc thương sanh tài rồi tài sanh tiếp sát, hoặc thương bội ấn mà thương khinh thân vượng , thương quan cách bại vậy, dương nhận không có quan sát , nhận cách bại vậy.
Gặp lộc tháng kiếp , không có tài quan , thấu sát ấn , gặp lộc tháng kiếp cách bại vậy o
Bại tức là điều cấm kị của cách bị phạm vậy o Nguyệt lệnh dụng thần , tất nên sanh vượng o
Chánh quan gặp thương , tất quan tinh bị chế , xung quan tinh , không phải thương thì là nhận , đều là phá cách o
Tài khinh tỉ trọng , tất tài bị phân đoạt, tài thấu thất sát , tài không còn của ta nữa mà a dua theo sát , trở thành giúp cái khắc ta , là kị của tài cách vậy o
Ấn khinh gặp tài , tất ấn bị tài phá ; Hoặc như thân cường ấn trọng , cần lấy thực thần tiết bớt vượng khí của thân, nhưng không gặp thực thần lại thấu sát , tất sát sanh ấn , ấn lại sanh thân , là cấm kị của ấn cách vậy o
Thực thần gặp kiêu ấn , tất thực bị kiêu ấn cướp đoạt hĩ, Thực thần sanh tài vốn là cách tốt, lộ sát tất tài chuyển ra sanh sát , đều là phá cách vậy o
Thất sát lấy chế làm dụng , có tài sanh mà không bị chế , tất thất sát thả sức tung hoành nên thân nguy hĩ o
Thương gặp quan là kị o Duy thương là kim thủy, kim hàn thủy lãnh, điều hậu là cấp bách, có thể gặp quan, còn ngoài ra , gặp quan đều không thể dùng thương o
Thương quan sanh tài , cũng như thực thần sanh tài , đới sát tất tài chuyển ra sanh sát , là cấm kị của cách vậy o
Thân vượng dùng thương , vốn không dùng bội ấn, Thương khinh gặp ấn , tất thương bị ấn sở, tú khí không thể phát ra, nên nói là bại cách vậy. Dương nhận lấy quan sát chế nhận là dụng, như không quan sát , tất nhận vượng không bị ức chế bớt hĩ o
Gặp lộc tháng kiếp , ngày chủ tất vượng , hỉ tài sanh quan , không tài quan mà thấu sát ấn , tất sát sanh ấn, chuyển thành tinh thân , vượng không có cực , đều là phá cách vậy o Thành cách phá cách , khuôn phép có nhiều, cũng có khi nhân hội hợp biến hóa mà ra thành bại vậy , xem thêm tiết dụng thần biến hóa o

Trong thành có bại , tất là đới kị ; trong bại có thành , toàn nhờ cứu ứng o

Đới kị là sao ?
Như chánh quan gặp tài mà lại gặp thương ; Quan thấu nhi mà lại bị hợp, Tài vượng sanh quan mà lại bị thương hay bị hợp ; Ấn thấu thực vốn có thể tiết khí , mà lại gặp tài lộ, Thấu sát vốn có thể sanh ấn , mà lại thấu tài , khử ấn giữ lại sát ; Thực thần đới sát ấn mà lại gặp tài, Thất sát có thực chế mà lại gặp ấn ; Thương quan sanh tài mà tài lại bị hợp. Bội ấn mà ấn lại bị thương , thấu tài mà lại gặp sát , thảy đều là đới kị vậy o

Đới kị là tứ trụ có thần thương dụng phá cách , tức là cảm bệnh ; cứu ứng tức là , thuốc khử bỏ bệnh vậy o
Chánh quan gặp tài , tài sanh quan vượng , cách thành ; tứ trụ lại thấu thương , tất quan tinh bị thương phá cách o
Nguyệt lệnh chánh quan
, can đầu thấu ra , mừng thành cách , mà lại bị hợp, như giáp lấy tân làm quan , sanh tháng dậu , thấu ra tân kim , chánh quan cách thành hĩ, như lại thấu bính, bính tân tương hợp , quan tinh bất thanh thành ra phá cách hĩ o
Tài vượng sanh quan tức là nguyệt lệnh tài tinh , sanh quan là dụng , cũng giống như chánh quan gặp tài, gặp thương tất quan bị thương , gặp hợp tất tài bị hợp mất , quan cô không có người giúp , đều là phá cách o
Ấn thấu thực để tiết khí tức là nguyệt lệnh ấn thụ , nhật nguyên sanh vượng, thấu thực để tiết thân cho đẹp , ấn cách thành vậy ; như lại gặp tài lộ , tất tài tổn ấn là bệnh , phá cách hĩ o
Thấu sát sanh ấn , sát gặp ấn hóa , ấn được sát sanh , thành cách vậy, nếu như lại thấu tài , tấc tài phá ấn mà a dua theo sát thành ra phá cách vậy o
Thực thần đới sát ấn tức là nguyệt lệnh thực thần mà không có tài , bỏ thực mà theo sát ấn, chính là uy quyền hiển hách ; hoặc lấy ấn tư thân , ấy thực chế sát đều chẳng ngại , cũng là thành cách. Nếu như lại gặp tài , thực sanh tài , tài đến a dua theo sát phá ấn , cách cục bỏ xó hĩ o
Thất sát gặp thực chế tức là lấy thực chế sát là dụng , nếu như lại gặp ấn đoạt thực là bại cách o
Thương quan sanh tài tức là thân vượng thì lấy tài tiết thương quan làm đẹp, tài bị hợp tất khí thế chẳng lưu thông , nên cách thương quan sanh tài bị phá o
Thương quan bội ấn tức là thân nhược lấy ấn tư thân lại gặp tài, tất ấn bị tài thương , cách thương bội ấn bị phá o
Dương nhận cách mừng có quan sát chế nhận , thấu quan lại gặp thương quan , thấu sát mà sát bị hợp , hiệu dụng chế nhận không còn o
Gặp lộc tháng kiếp cũng giống như dương nhận o Dùng quan thì mừng gặp tài sanh, gặp thương thì quan không thể chế kiếp , dùng tài hỉ thực thương hóa , dụng sát nên có thực thương chế. Như không gặp thực thương mà còn gặp sát thấu, tất tài a dua theo sát thương thân , phạm cấm kỵ của cách cục o

Trong thành mà bại, cũng biến hóa vạn đoan , đó chỉ bất quá là đại khái thôi o
Như tài vượng sanh quan là cách tốt đẹp , nhưng thân nhược thấu quan , tức là phá cách.
Thương quan gặp quan là cách xấu , thấu tài mà ngôi vị phối trí hợp lý tất thương quan sanh tài lại sanh quan phản cách thành giải , muôn vàn biến hóa , không thể nói hết , học kỹ sẽ diệu ngộ được o
Trong thành mà bại, hoặc trong bại mà thành , mệnh mỗi người mỗi khác , không thể nhất nhất liệt ra hết o

Xem thêm các ví dụ sau o Trụ của nam tầm Lưu Trừng o
73 - Nhâm tuất Kỷ dậu Đinh sửu Giáp thìn

Canh Tuất / Tân Hợi / Nhâm Tý / Quý Sửu…..
Nguyệt lệnh tài tinh sanh quan, thành cách, nhưng can thấu kỷ thổ, quan tinh bị thương, trong thành mà bại o
Can giờ thấu giáp ấn , mà tài ấn đều không ngại , ấn thụ chế thực , cách cục lại thành vậy, quan tinh trên trụ năm bị phá nên chẳng quý ; Đinh kỷ đồng cung , tài tinh có tình , giàu nhất Chiết tây o
Hành quan sát vận có ấn hóa , trong bại lại thành vậy o

Trụ của chủ nhân tờ Thân báo Sử Lượng Tài tạo o
74 - Kỷ mão Bính tý Canh dần Tân tị

Tân hợi / Canh Tuất / Kỷ Dậu / Mậu Thân / Đinh Mùi
Thương quan đới sát lại thấu ấn , thành cách vậy. Ấn đóng ở tài , không thể chế thương hóa sát , trong thành mà bại. Vì vậy chỉ gần , không thể là đế vương o Sát thông căn dần tị nên vượng , chỉ có thể dùng thương quan chế sát. Tài là kị thần , ở chi năm, lúc nhỏ tất khốn khổ o Đến mùi vận, hội mão hóa tài , tiết thương giúp sát , bị giết o

Là trụ của nguyên lão Quốc dân đảng Hồ Hán Dân tạo o
75 - Kỷ mão Bính tý Bính tý Đinh dậu
Nguyệt lệnh quan tinh , năm ấn giờ tài , đều không ngại , thành cách tam kì o
Duy Quan trọng nên hành ấn kiếp , tiếc là chẳng gặp được ở vận o
Trụ này sanh năm giờ dậu ngày 7 thàng 11 năm quang tự thứ 5, nếu như mà sanh giờ thân ngày 26 , tất trong thành mà bại hĩ o


Trụ như sau : 
76 - Kỷ mão Bính ty Bính dần Bính thânNguyệt lệnh quan tinh , tài ấn là phụ , cách chi thành vậy o Tiếc là dần thân xung nhau, tài ấn đều bị thương , chủ tuy là chánh , khổ nổi phụ tá xung đột , làm sao đắc lực được ?
Là trong thành mà bại o


Lại như nhà buôn muối Triết tây Chu Tương Linh là
77 - Giáp tý bính tý bính dần bính thân
2 trụ tương tự , đều chủ phụ tá khuynh loát , về già suy khốn bất đắc ý vậy o
 78 - Quý tị Bính thìn Nhâm thân Quý mãoLà trụ của Dương Hạnh Phật o Giờ gặp quý mão , thân vượng tiết tú, can thấu bính hỏa , thông căn ở tị , là thương quan sanh tài , thành cách vậy. Can năm can giờ có 2 quý , quần kiếp tranh tài , trong thành mà bại vậy. Hành vận tới tý , thân tý thìn hội tỉ kiếp cục , lưu năm quý dậu , xung mất mão mộc , bị đâm chết o
79 - Kỷ mão Đinh sửu Quý sửu Ất mão
Thực thần chế sát, nhưng trong cách gặp phải tài, là bại cách. May ất đinh cách bởi quý, mộc chẳng sanh hỏa, sát đóng ngôi thực, cách cục lại thành vậy. Gặp sát ở yên 1 chổ, tài không sanh tất không ngại o Đinh hỏa tuy điều hậu , không thể dùng vì đinh hỏa động tất sanh sát o Dụng thần chuyên lấy thực thần , không những tiết tú , còn kiêm chế sát nữa o
Theo tiết cứu ứng thì , tài gặp sát may nhờ thực thần chế sát làm sanh , có cứu ứng , tức là trong bại mà thành, là quý cách o Vận thân năm canh ngọ , ất mão 2 quan cùng bị thương , lại đinh tị đắc lộc ở năm ngọ, sát vượng công thân, đột nhiên não xung huyết tạ thế o Là trụ của viện trưởng hành chánh Đàm Duyên.

Là trụ của bộ trường ngoại giao Ngũ Triêu Xu o
80 - Đinh hợi Bính ngọ Nhâm dần Kỷ dậu
Dần ngọ hội cục , tài quan đều thấu , hiềm là tháng 5 nhâm thủy hưu tù, tài quan quá vượng, thân nhược không gánh nổi tài quan, hỉ năm hợi gặp lộc , giờ dậu gặp ấn , ấn lộc giúp thân là dụng , trong bại lại thành vậy o
Trụ của Thạch Có Tam , dương nhận cách o 
81 - Quý tị Tân dậu Canh thân Bính tuất
Giờ thấu thất sát , chế nhận là dụng , thành cách o Không may can tháng tân kim hợp bính,
trên can năm quý thủy chế sát o Là trong thành mà bại vậy.


Lại như Quách Tùng :
82 - Quý mùi, bính thìn , bính ngọ , mậu tý
Cũng là trong thành mà bại vậy Cách thành là như trụ của Tể Quang : đinh mão , bính ngọ , bính tý , nhâm thìn , thành sát nhận cách vậy, gặp lộc như trụ của Giang Vạn Bình : đinh dậu , bính ngọ , đinh dậu , kỷ dậu , lấy thực thần sanh tài , cũng là thành cách vậy o

Vì sao có cứu ứng?

Như quan gặp thương như thấu ấn thì được giải , quan sát hỗn tạp mà hợp mất sát thì thanh, hình xung thì lấy hội hợp để giải ; tài gặp kiếp mà thấu thực thì được hóa , hay có sanh quan thì chế nổi kiếp, tài gặp sát thì lấy thực thần chế sát để sanh tài , hợp mất sát để giữ lại tài, ấn gặp tài thì lấy kiếp để giải , hoặc hợp mất tài mà giữ lại ấn, thực gặp kiêu nhi tựu sát trở thành cách , hoặc sanh tài để hộ thực, sát gặp thực chế , ấn đến hộ sát , gặp tài thì khử ấn mà giữ lại thực, thương quan sanh tài thấu sát là phá cách thì nên hợp mất sát; dương nhận dùng quan sát mà bị gặp phải thương thực , thì lấy trọng ấn để hộ quan sát, gặp lộc tháng kiếp dùng quan , gặp thương mà thương bị hợp , dùng tài mà gặp sát nhưng sát bị hợp , như thế đều là có cứu ứng o
Quan gặp thương lấy ấn thấu để giải là như giáp mộc sanh tháng dậu, can đầu thấu đinh là phá cách nếu lại thấu nhâm, tất đinh nhâm hợp, đinh hỏa không thương tổn quan dậu kim vậy. Hợp sát là như bính hỏa sanh tháng tý, nhâm quý đều thấu, quan sát hỗn tạp là phá cách, thấu đinh, tất nhâm sát bị hợp mất thành ra quan thanh hĩ o
Hình xung là như kỷ thổ sanh tháng tháng dần, chi gặp thân, tất thân xung dần mà phá quan chi lại thấy tý, tất tý thân hợp mà hóa thủy, phản sanh dần mộc, gọi là nhờ hội hợp mà giải xung vậy o
Tài gặp kiếp lấy thực để hóa là như giáp mộc sanh tháng thìn tuất sửu mùi, ất mộc đều thấu, tỉ kiếp tranh tài, can đầu thấu bính hỏa, tất tỉ kiếp sanh thực, nhờ thực mà chuyển ra sanh tài, nên tài cách không bị phá hĩ, hoặc không thấu bính mà thấu tân, tất tân kim khắc chế ất mộc cũng không tranh tài nữa hĩ o
Gặp sát là như bính hỏa sanh tháng dậu , nguyệt lệnh chánh tài , can thấu nhâm thủy , tất tài sanh sát là phá cách o Như lại thấu mậu thổ , tất nhâm bị mậu chế , mà mậu thổ lại sanh dậu kim tài hoặc không thấu mậu mà thấu đinh , tất hợp mất sát mà giữ lại tài , đều là trong bại gặp cứu vậy o
Ấn gặp tài thì lấy kiếp giải là như ất mộc sanh tháng hợi , nguyệt lệnh chánh ấn, gặp mậu kỷ thổ tài, tất tài phá ấn là hoại cách o Như thấu giáp ất mộc, tất kiếp chế tài mà hộ ấn ; thấu quý giáp tất hợp tài giữ lại ấn o
Thực thần gặp kiêu, như giáp mộc thấy bính mà lại thấu nhâm, thực bị kiêu đoạt là phá cách Như thấu canh sát, tất có thể đuổi thực tựu sát để thành cách, hoặc không thấu sát mà thấu mậu thổ tài, tất mậu cũng có thể chế nhâm để hộ bính thực, nên thực cách lại thành vậy
Ất mộc sanh tháng dậu mà thấu đinh hỏa, là thực thần chế sát. Sát lấy chế làm dụng, gặp nhâm quý khử mất đinh hỏa thực thần, quả là phá cách hĩ. Gặp thêm mậu kỷ thổ, khứ ấn để giữ lại thực, cục chế sát khỏi bị hỏng, thành cách vậy o
Thương quan sanh tài thấu sát là như giáp mộc sanh tháng ngọ mà thấu kỷ thổ, là thương quan sanh tài cách, thấu thêm canh kim thất sát là phá cách, như trụ thấu ất mộc, tất ất canh hợp, thương quan sanh tài, cách thành hĩ
Dương nhận cách lấy quan sát chế nhận làm dụng, gặp thêm thương thực chế quan sát là phá cách, như có trọng ấn để khử tác dụng của thực, tất dương nhận cách thành hĩ o
Gặp lộc cách, gặp kiếp dùng quan mà gặp thương, dùng tài mà gặp sát là như giáp mộc sanh dần là gặp lộc, dùng tân kim quan tinh mà gặp phải đinh hỏa, dùng kỷ thổ tài tinh mà thấu canh kim, đều là phá cách. Như gặp phải đinh hỏa mà có nhâm thấu, đinh nhâm hợp, chẳng thương tân kim , nên có thể dùng quan, thấy canh kim mà có ất thấu, ất canh hợp, tài không dua theo sát nên cách toàn vẹn o Đều là trong bại gặp cứu o
Trên đã nói về phép trong bại gặp cứu, dễ thấy rõ là, phép cứu ứng không có qui lệ nhất định, xem kỹ thêm các trụ sau, để thấy được khái quát o


Trụ của Chu Cổ Là o
83 - Đinh tị Kỷ dậu Canh tý Đinh hợiNguyệt lệnh dương nhận dùng quan , nhưng quan nhiều thì không quý, hay ở chổ kỷ ấn ngăn cách quan tinh trên trụ năm , quan sanh ấn , rồi ấn sanh thân, chuyên dùng quan tinh trên trụ giờ , đến vận trợ quan , quay lại thành đài các, tất nhờ ở kỷ thổ là thần cứu ứng vậy o
84 - Quý dậu Ất sửu Canh dần Bính tý
Can giờ thất sát thấu ra , dùng can năm quý thủy thương quan chế sát, có ất mộc cách ở giữa , tất thương quan sanh tài , tài sanh sát , là bại cách o
Hay ở chổ ất tòng canh hợp , tất quý thủy không thể sanh ất mộc mà lại đi chế sát, nên lấy hợp của vốn là thân làm cứu ứng vậy.


Là trụ của tỉnh trưởng chiết giang Trương Tái Dương.
85 - Quý dậu Đinh tị Kỷ mão Giáp tuất
Kỷ thổ sanh tháng tư , có đinh hỏa thấu ra , hỏa viêm thổ táo được can năm quý thủy phá ấn mà sanh quan , nên lấy quý thủy làm thần cứu ứng vậy o
Tị dậu hội cục , thực thương hại quan , hay ở chổ có quý thủy thấu , tất thực thương sanh tài,
Như coi sơ qua 2 trụ trên thì tài ấn hại nhau , quan thương hại nhau , không biết quý ở chổ nào , xét kỹ mới rõ , "Tích thiên tủy" có câu "trừng trọc cầu thanh thanh đắc tịnh, gặp giờ hàn cốc cũng hồi xuân" , chính là như thế o

86 - Tân tị Nhâm thìn Ất hợi Nhâm ngọ
Ất sanh thìn nguyệt , nhật tọa trường sanh , dụng ngọ trung đinh tị , thực thần sanh tài cách dã. Ất sanh tháng thìn , ngày đóng trường sanh , dùng đinh trong tị ngọ, là thực thần sanh tài cách Năm thấu tân kim thất sát là phá cách , mừng nhâm thủy trong thìn thấu ra , hóa sát sanh thân lấy nhâm làm thần cứu ứng vậy o Là trụ của tỉnh trưởng Giang tô Trần Đào Di.
Tuy lấy thực thần sanh tài nhưng vận hỉ thực kị tài , tất do lấy thực có thể tiết tú trong khi tài thì phá ấn vậy. Phàm những trụ nhiều sóng gió chìm nổi , phần nhiều như thế o
Diệu dụng của trụ , toàn ở lẽ thành bại cứu ứng , trong đó quyền biến nặng nhẹ , rất đỗi linh hoạt o
Học giả nên lưu tâm, có thể theo lẽ trong dung mà ứng phó vạn biến, là cái đạo lớn của mệnh, ấy là đạt đạo !
Lẽ thành bại cứu ứng của bát tự, thiên biến vạn hóa , không thể nói hết o Các ví dụ biến hóa kễ trên, đều chọn dụng thần theo nguyệt lệnh như cách phổ thông vậy o Mạnh tử làết , đại tượng lấy quy củ dùng ngừơi, không thể dùng được người xảo, học giả sau khi luyện tập quen, tự ngộ lẽ hay o Như luận về biến hoá, tất bát tự như nhau , mà địa vị thứ tự , biến đổi 1 chút , tức thì ra sanh biến hóa , là thành hoặc bại, được hoặc không được ứng cứu , không thể luận như nhau , cũng không thể kể hết phương thức ra được o

Duy lhông suốt chỉ có 1 lẽ dung hòa , tất tự nhiên quyền biến nặng hay nhẹ , tả có về nguồn hĩ.

VULONG
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 707
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: Tử bình chân thuyên bình chú

Gửi bài gửi bởi VULONG » 06:59, 24/01/14

Chương 9 : Luận dụng thần thành bại cứu ứng

Dụng thần chuyên tìm ở nguyệt lệnh, phối với tứ trụ, tất có thành bại. Vì sao thành?
- Như Quan gặp Tài Ấn, lại không bị hình xung phá hại, Quan cách thành.
- Tài sanh Quan vượng, hoặc Tài gặp Thực sanh mà thân cường đới Tỷ, hoặc Tài cách thấu Ấn mà vị trí thỏa đáng, cả hai đều không tương khắc, thì Tài cách thành vậy.
- Ấn khinh gặp Sát, hoặc Quan Ấn song toàn, hoặc thân Ấn đều vượng thì dùng Thực thương để tiết khí, hoặc Ấn nhiều gặp Tài mà Tài thấu căn khinh, Ấn cách thành.
- Thực thần sanh Tài, hoặc Thực đới Sát mà không có Tài, bỏ Thực theo Sát may thấu Ấn, Thực cách thành vậy.
- Thân cường Thất sát gặp chế, Sát cách thành vậy.
- Thương quan sanh Tài, hoặc Thương quan bội Ấn mà Thương quan vượng và Ấn có căn, hoặc Thương quan vượng, thân nhược mà thấu Sát Ấn, hoặc Thương quan đới Sát mà không có Tài, Thương quan cách thành.
- Dương nhận thấu Quan sát mà lộ Tài Ấn, lại không gặp Thương quan, Dương nhận cách thành.
- Gặp Lộc ở tháng, thấu Quan mà gặp Tài Ấn, thấu Tài mà gặp Thực thương, thấu Sát mà được chế phục, cách "kiến lộc nguyệt kiếp" thành.

Dụng thần đã định xong, thì phải xem kỹ lẽ thành bại cứu ứng. Quan gặp Tài Ấn tức là nguyệt lệnh Chánh quan, thân vượng Quan khinh mà tứ trụ có Tài sanh Quan, thân nhược Quan trọng mà tứ trụ có Ấn hóa Quan, hay có Chánh quan kiêm đới Tài Ấn, thành ra Tài với Ấn đều chẳng ngại (xem tiết Quan luận, Ấn tiết Chánh quan), tất Quan cách thành vậy. Hình xung phá hại, lấy xung là trọng, xung tức là khắc vậy. Như lấy mộc là Quan, tất xung Quan là kim Thương quan, nên nói lấy xung là trọng. Hình phá hại nên cân nhắc kỹ, chưa chắc đã là phá cách vậy (xem trụ Hồ Hán Dân ở chương "Cách cục cao thấp").

Tài vượng sanh Quan tức là nguyệt lệnh Tài tinh vượng, tứ trụ có Quan, tất Tài vượng tự sanh Quan; hoặc nguyệt lệnh Tài tinh mà thấu Thực thần, thân cường tất Thực thần tiết tú, chuyển thành sanh Tài. Tài vốn kị Tỷ kiếp, có Thực thần tất chẳng kị nữa, nên Tài có Thực thần thì hóa Tỷ kiếp vậy. Hoặc thấu Ấn mà vị trí thỏa đáng tức là, Tài Ấn cả hai đều không tương khắc vậy (xem tiết "Tài cách bội Ấn"). Như can năm thấu Ấn, can giờ thấu Tài, ở giữa cách nhau có Tỷ kiếp, tất chẳng ngại; nếu ở giữa cách nhau Quan tinh tất là Tài vượng sanh Quan, cũng chẳng ngại, như vậy là Tài cách thành vậy.

Ấn khinh gặp Sát, hoặc Quan Ấn song toàn tức là nguyệt lệnh Ấn thụ mà ít, lấy Sát sanh Ấn, vậy là Sát Ấn tương sanh; lấy Quan sanh Ấn, vậy là Quan Ấn song toàn. Nhưng nếu thân cường Ấn vượng, tất không thể dùng Ấn, mà rất mừng Thực thương tiết khí nhật nguyên cho đẹp. Nhược Ấn quá nhiều, tất nên lấy tổn Ấn làm dụng vì, như thổ nhiều kim bị vùi lấp, thủy nhiều mộc trôi (xem tiết "Ngũ hành sanh khắc chế hóa nghi kị"), tất nên bớt chỗ dư, bù chỗ thiếu, đó chính là dụng thần vậy. Vì vậy như Tài thấu căn khinh, gặp vận sanh Tài địa, giúp cái thiếu thành ra tốt đẹp vậy. Nhược tứ trụ Tài không có căn, tất Ấn tuy nhiều cũng không thể dùng Tài phá Ấn; nguyên cục Tài tinh quá vượng, Ấn thụ bị thương, tất nên trở ngược lại lấy Tỷ kiếp bỏ Tài phò Ấn làm tốt vậy. Như vậy là tùy theo cục mà chọn lấy Tài hay không, không thể chấp nhất vậy.

Nguyệt lệnh là Thực thần, tứ trụ thấy Tài, Thực thần sẽ sanh Tài, chính là cách vậy. Nếu tứ trụ thấu Sát, tất Thực thần chế Sát làm dụng, kị Tài a dua theo Sát, nên lại nói không có Tài mới tốt. Nếu như Sát vượng mà thấu Ấn, tất bỏ Thực mà theo Sát, nên lấy Ấn hóa Sát làm dụng, chỉ vì bỏ Thực mà theo Sát, nên tuy nguyệt lệnh Thực thần, không thể lấy Thực thần cách mà luận nữa. Tứ trụ như thấy Kiêu đoạt Thực, tất bỏ Thực mà theo Sát là chánh, ấy là cũng thành cách vậy.

Nguyệt lệnh Thiên quan mà thân cường, tất lấy Thực thần chế Sát làm tốt đẹp, Sát cách thành vậy. Như thân cường Sát nhược, hoặc Sát cường thân nhược, đều không thể lấy chế phục làm dụng, tất thân Sát đều vượng, mới thành cách.

Nguyệt lệnh Thương quan, thân cường lấy Tài làm dụng, tức là Thương quan sanh Tài; thân nhược lấy Ấn làm dụng, tức là Thương quan bội Ấn. Thương quan vượng, Ấn có căn, lấy vận sanh Ấn địa làm tốt đẹp. Ấy là 2 cách chánh vậy. Như Thương quan vượng mà thân nhược, nếu thấu Sát Ấn, tất nên lấy Ấn chế Thương, hóa Sát tư thân làm dụng. Tuy nguyệt lệnh Thương quan, nhưng cốt yếu là tại Ấn. Thương quan đới Sát mà không có Tài, cũng giống như Thực thần đới Sát vậy. Lấy Thương quan đè Sát, tức là chế phục, kị Tài a dua theo Sát, nên nói không có Tài mới thành cách vậy.

Nguyệt lệnh Dương nhận, lấy Quan sát chế Nhận, cách cục tối mỹ. Nhận vượng Sát cường, uy quyền hiển hách, Ấn tư Nhận, Tài sanh Sát, nên nói gặp lấy cả Tài Ấn là cát, không nên ngại. Nhận vượng, tuy cũng có thể dùng Thực thương tiết tú, nhưng vì chuyên dùng Quan sát chế, nên lại không thể dùng Thực thương, nên nói không có Thương quan mới thành cách vậy.

Gặp Lộc ở tháng, thấu Quan mà gặp Tài Ấn, tức cũng như Quan cách; thấu Tài mà gặp Thực thương, tức cũng như Tài cách; thấu Sát mà bị chế phục, tức cũng như Sát cách. Lộc kiếp vốn là thân không thể dùng, phải theo lẽ phò trợ ức chế mà dùng, tức cũng như các cách trên vậy.

Tại sao bại?
- Quan gặp Thương khắc hình xung, Quan cách bại;
- Tài khinh Tỷ trọng, hay Tài thấu Thất sát, Tài cách bại; - Ấn khinh gặp Tài, hoặc thân cường Ấn trọng lại thấu Sát, Ấn cách bại;
- Thực thần gặp Kiêu, hoặc Thực sanh Tài lộ Sát, Thực thần cách bại;
- Thất sát gặp Tài không có chế phục, Thất sát cách bại;
- Thương quan không phải là Kim Thủy mà gặp Quan, hoặc Thương sanh Tài rồi Tài sanh Sát, hoặc Thương bội Ấn mà Thương khinh thân vượng, Thương quan cách bại;
- Dương nhận không có Quan sát, Nhận cách bại;
- Gặp Kiến Lộc, không có Tài Quan mà thấu Sát Ấn, cách bại.

Bại tức là điều cấm kị của cách bị phạm vậy. Nguyệt lệnh dụng thần tất nên sanh vượng. Chánh quan gặp Thương, tất Quan tinh bị chế, xung Quan tinh, không phải Thương thì là Nhận, đều là phá cách.

Tài khinh Tỷ trọng, tất Tài bị phân đoạt; Tài thấu Thất sát, Tài không còn của ta nữa mà a dua theo Sát, trở thành giúp cái khắc ta, là kị của Tài cách vậy.

Ấn khinh gặp Tài, tất Ấn bị Tài phá; Hoặc như thân cường Ấn trọng, cần lấy Thực thần tiết bớt vượng khí của thân, như không gặp Thực thần lại thấu Sát, tất Sát sanh Ấn, Ấn lại sanh thân, là cấm kị của Ấn cách vậy.

Thực thần gặp Kiêu ấn, tất Thực bị Kiêu ấn cướp đoạt hĩ; Thực thần sanh Tài vốn là cách tốt, lộ Sát tất Tài chuyển ra Sanh sát, đều là phá cách vậy.

Thất sát lấy chế làm dụng, có Tài sanh mà không bị chế, tất Thất sát thả sức tung hoành nên thân bị nguy.

Thương gặp Quan là kị. Duy kim thủy Thương quan là kim hàn thủy lạnh, điều hậu là cấp bách, có thể gặp Quan, còn ngoài ra, gặp Quan đều không thể dùng Thương. Thương quan sanh Tài, cũng như Thực thần sanh Tài, đới Sát tất Tài chuyển ra sanh Sát, là cấm kị của cách vậy. Thân vượng dùng Thương, vốn không dùng bội Ấn; Thương khinh gặp Ấn, tất Thương bị Ấn chế, tú khí không thể phát ra, nên nói là bại cách vậy.

Dương nhận lấy Quan sát chế Nhận là dụng, như không có Quan sát, tất Nhận vượng không bị ức chế bớt.

Kiến Lộc và Kiếp ở tháng, mệnh chủ tất vượng, hỉ Tài sanh Quan. Không có Tài Quan mà thấu Sát Ấn, tất Sát sanh Ấn, chuyển thành phù thân, vượng không có cực điểm đều là phá cách vậy. Thành cách phá cách, khuôn phép có nhiều, cũng có khi nhân hội hợp biến hóa mà ra thành bại vậy, xem thêm tiết "Dụng thần biến hóa".

Trong thành có bại, tất là đới kị; trong bại có thành, toàn nhờ cứu ứng. Đới kị là sao?

- Chánh quan gặp Tài mà lại gặp Thương;
- Quan thấu ra can mà lại bị hợp;
- Tài vượng sanh Quan mà lại gặp Thương hay bị hợp;
- Ấn thấu Thực vốn có thể tiết khí, mà lại gặp Tài lộ;
- thấu Sát vốn có thể sanh Ấn, mà lại thấu Tài, phải khử Ấn giữ lại Sát;
- Thực thần đới Sát Ấn mà lại gặp Tài;
- Thất sát có Thực chế mà lại gặp Ấn;
- Thương quan sanh Tài mà Tài lại bị hợp;
- bội Ấn mà Ấn lại bị thương, thấu Tài mà lại gặp Sát,

tất cả đều là đới kị vậy.

Đới kị là tứ trụ có thần làm tổn thương dụng nên phá cách, tức là bị bệnh; cứu ứng tức là như có thuốc khử bệnh vậy.

Chánh quan gặp Tài, Tài sanh Quan vượng, cách thành; tứ trụ lại thấu Thương, tất Quan tinh bị Thương phá cách. Nguyệt lệnh Chánh quan, thấu ra can, mừng thành cách mà lại bị hợp, như Giáp lấy Tân làm Quan, sanh tháng Dậu, thấu ra Tân kim, Chánh quan cách thành; như lại thấu Bính, Bính Tân tương hợp, Quan tinh bất thanh thành ra phá cách.

Tài vượng sanh Quan tức là nguyệt lệnh Tài tinh, sanh Quan là dụng, cũng giống như Chánh quan gặp Tài; gặp Thương tất Quan bị thương, gặp hợp tất Tài bị hợp mất, Quan cô thế không có người giúp, đều là phá cách.

Ấn thấu Thực để tiết khí tức là nguyệt lệnh Ấn thụ, nhật nguyên sanh vượng, thấu Thực để tiết thân cho đẹp, Ấn cách thành; như lại gặp Tài lộ, tất Tài tổn Ấn là bệnh, bị phá cách. Thấu Sát sanh Ấn, Sát gặp Ấn hóa, Ấn được Sát sanh, tức là thành cách; nếu như lại thấu Tài, tất Tài phá Ấn mà a dua theo Sát thành ra phá cách vậy.

Thực thần đới Sát Ấn tức là nguyệt lệnh Thực thần mà không có Tài, bỏ Thực mà theo Sát Ấn, chính là uy quyền hiển hách; hoặc lấy Ấn phù thân, lấy Thực chế Sát đều chẳng ngại cũng là thành cách. Nếu như lại gặp Tài, Thực sanh Tài, Tài đến a dua theo Sát phá Ấn, cách cục bỏ xó.

Thất sát gặp Thực chế tức là lấy Thực chế Sát là dụng, nếu như lại gặp Kiêu đoạt Thực là bại cách.

Thương quan sanh Tài tức là thân vượng thì lấy Tài tiết Thương quan làm đẹp, Tài bị hợp tất khí thế chẳng lưu thông, nên cách Thương quan sanh Tài bị phá.

Thương quan bội Ấn tức là thân nhược lấy Ấn giúp thân lại gặp Tài, tất Ấn bị Tài tổn thương, cách Thương bội Ấn bị phá.

Dương nhận cách mừng có Quan sát chế Nhận, thấu Quan lại gặp Thương quan, thấu Sát mà Sát bị hợp, hiệu dụng chế Nhận không còn nữa. Gặp Lộc hoặc Kiếp ở tháng cũng giống như Dương nhận. Dùng Quan thì mừng gặp Tài sanh, gặp Thương thì Quan không thể chế Kiếp, dùng Tài hỉ Thực thương hóa, dụng Sát nên có Thực thương chế, như không gặp Thực thương mà còn gặp Sát thấu, tất Tài a dua theo Sát thương thân, đều phạm cấm kỵ của cách cục.

Trong thành mà bại cũng biến hóa rất nhiều, trên đây chỉ bất quá là đại khái thôi. Như Tài vượng sanh Quan là cách tốt đẹp, nhưng thân nhược thấu Quan, tức là phá cách. Thương quan gặp Quan là cách xấu, thấu Tài mà ngôi vị phối trí hợp lý tất Thương quan sanh Tài lại sanh Quan phản cách thành, muôn vàn biến hóa, không thể nói hết, học kỹ sẽ diệu ngộ được.

Trong thành mà bại, hoặc trong bại mà thành, mệnh mỗi người mỗi khác, không thể nhất nhất liệt kê ra hết. Xem thêm các ví dụ sau. Trụ của nam tầm Lưu Trừng Như.

74 - Nhâm Tuất / Kỷ Dậu / Đinh Sửu / Giáp Thìn

Hành vận: Canh tuất / tân hợi / nhâm tý / quý sửu / giáp dần / ất mão

Nguyệt lệnh Tài tinh sanh Quan, thành cách, nhưng can thấu Kỷ thổ, Quan tinh bị thương, trong thành mà bại. Can giờ thấu Giáp Ấn, mà Tài Ấn đều không ngại, Ấn thụ chế Thực, cách cục trở lại thành vậy. Quan tinh trên trụ năm bị phá nên chẳng quý; Đinh Kỷ đồng cung, Tài tinh có tình, là người giàu nhất Chiết tây. Hành Quan sát vận có Ấn hóa, trong bại lại thành vậy.

75 - Kỷ Mão / Bính Tý / Canh Dần / Tân Tị

Hành vận: Ất hợi / giáp tuất / quý dậu / nhâm thân / tân mùi

Trụ của chủ nhân tờ báo Sử Lượng Tài: Thương quan đới Sát lại thấu Ấn, thành cách. Ấn đóng ở Tài, không thể chế Thương hóa Sát, trong thành mà bại. Vì vậy chỉ là gần kề, không thể là đế vương. Sát thông căn Dần Tị nên vượng, chỉ có thể dùng Thương quan chế Sát. Tài là kị thần ở chi năm, lúc nhỏ tất khốn khổ. Đến Mùi vận, hội Mão hóa Tài, tiết Thương giúp Sát, bị giết.

76 - Kỷ Mão / Bính Tý / Bính Tý / Đinh Dậu

Hành vận: Ất hợi / giáp tuất / quý dậu / nhâm thân / tân mùi / canh ngọ / kỷ tị

Tứ trụ của nguyên lão Quốc dân đảng Hồ Hán Dân: Nguyệt lệnh Quan tinh, năm Ấn giờ Tài, đều không ngại, thành cách Tam Kì. Duy Quan trọng nên hành Ấn kiếp, tiếc là chẳng gặp được ở vận. Trụ này sanh giờ dậu ngày 7 tháng 11 năm quang tự thứ 5, nếu như mà sanh giờ Thân ngày 26, tất trong thành mà bại, như sau:

77 - Kỷ Mão / Bính Tý / Bính Dần / Bính Thân

Nguyệt lệnh Quan tinh, Tài Ấn là phụ, cách thành. Tiếc là Dần Thân xung nhau, Tài Ấn đều bị thương, chủ tuy là chánh, khổ nổi phụ tá xung đột, làm sao đắc lực được? Đó là trong thành mà bại.

Lại như nhà buôn muối Triết tây Chu Tương Linh:

78 - giáp tý / bính tý / bính dần / bính thân

2 trụ tương tự, đều chủ phụ tá khuynh loát, về già suy khốn bất đắc ý vậy.

79 - Quý Tị / Bính Thìn / Nhâm Thân / Quý Mão

Hành vận: Ất mão / giáp dần / quý sửu / nhâm tý / tân hợi

Tứ trụ trên là của Dương Hạnh Phật. Giờ gặp Quý Mão, thân vượng tiết tú, can thấu Bính hỏa, thông căn ở Tị, là Thương quan sanh Tài, thành cách. Can năm can giờ có 2 Quý, quần Kiếp tranh Tài, trong thành mà bại vậy. Hành vận tới Tý, Thân Tý Thìn hội Tỷ kiếp cục, lưu năm Quý Dậu, xung mất Mão mộc, bị đâm chết.

80 - Kỷ Mão / Đinh Sửu / Quý Sửu / Ất Mão

Hành vận: Bính tý / ất hợi / giáp tuất / quý dậu / nhâm thân / tân mùi

Trụ của Viện trưởng hành chánh Đàm Diên Khải: Thực thần chế Sát, nhưng trong cách gặp phải Tài, là bại cách. May Ất Đinh cách bởi Quý, mộc chẳng sanh hỏa, Sát đóng ngôi Thực, cách cục lại thành. Gặp Sát ở yên 1 chỗ, Tài không sanh tất không ngại. Đinh hỏa tuy điều hậu nhưng không thể dùng, vì Đinh hỏa động tất sanh Sát. Dụng thần chuyên lấy Thực thần, không những tiết tú, còn kiêm chế Sát nữa. Theo tiết "Cứu ứng", Tài gặp Sát may nhờ Thực thần chế Sát làm sanh, có cứu ứng, tức là trong bại mà thành, là quý cách. Vận Thân, năm Canh Ngọ, Ất Mão 2 Quan cùng bị thương, lại Đinh Tị đắc lộc ở năm Ngọ, Sát vượng công thân, đột nhiên não xung huyết mà tạ thế.

81 - Đinh Hợi / Bính Ngọ / Nhâm Dần / Kỷ Dậu

Hành vận: Ất tị / giáp thìn / quý mão / nhâm dần / tân sửu / canh tý / kỷ hợi

Trụ của bộ trưởng ngoại giao Ngũ Triều Xu: Dần Ngọ hội cục, Tài Quan đều thấu, hiềm là tháng 5 Nhâm thủy hưu tù, Tài Quan quá vượng, thân nhược không gánh nổi Tài Quan; hỉ năm Hợi gặp lộc, giờ Dậu gặp Ấn, Ấn lộc giúp thân là dụng, trong bại lại thành vậy.

82 - Quý Tị / Tân Dậu / Canh Thân / Bính Tuất

Hành vận: Canh thân / kỷ mùi / mậu ngọ / đinh tị / bính thìn / ất mão / giáp dần

Trụ của Thạch Hữu Tam là dương Nhận cách. Giờ thấu Thất sát, chế Nhận là dụng, thành cách. Không may can tháng Tân kim hợp Bính, trên can năm Quý thủy chế Sát. Là trong thành mà bại vậy.

Lại như Quách Tùng:

83 - Quý mùi, bính thìn, bính ngọ, mậu tý

cũng là trong thành mà bại vậy.

Cách thành là như trụ của Tể Quang:

84 - Đinh mão, bính ngọ, bính tý, nhâm thìn

thành Sát Nhận cách;

Gặp Lộc như trụ của Giang Vạn Bình:

85 - Đinh dậu, bính ngọ, đinh dậu, kỷ dậu

lấy Thực thần sanh Tài, cũng là thành cách vậy.

Vì sao có cứu ứng?
- Quan gặp Thương như thấu Ấn thì được giải,
- Quan sát hỗn tạp mà hợp mất Sát thì thanh, hình xung thì lấy hội hợp để giải;
- Tài gặp Kiếp mà thấu Thực thì được hóa, hay có sanh Quan thì chế nổi Kiếp, Tài gặp Sát thì lấy Thực thần chế Sát để sanh Tài, hợp mất Sát để giữ lại Tài;
- Ấn gặp Tài thì lấy Kiếp để giải, hoặc hợp mất Tài mà giữ lại Ấn;
- Thực gặp Kiêu nhi tựu Sát trở thành cách, hoặc sanh Tài để hộ Thực;
- Sát gặp Thực chế, Ấn đến hộ Sát, gặp Tài thì khử Ấn mà giữ lại Thực;
- Thương quan sanh Tài thấu Sát là phá cách thì nên hợp mất Sát;
- Dương nhận dùng Quan sát mà bị gặp phải Thương thực, thì lấy trọng Ấn để hộ Quan sát;
- gặp Lộc tháng hoặc Kiếp dùng Quan, gặp Thương mà Thương bị hợp, dùng Tài mà gặp Sát nhưng Sát bị hợp, như thế đều là có cứu ứng.

Quan gặp Thương lấy Ấn thấu để giải, như Giáp mộc sanh tháng Dậu, can thấu Đinh là phá cách, nếu lại thấu Nhâm, tất Đinh Nhâm hợp, Đinh hỏa không thương tổn Quan Dậu kim vậy. Hợp Sát là như Bính hỏa sanh tháng Tý, Nhâm Quý đều thấu, Quan sát hỗn tạp là phá cách, thấu Đinh, tất Nhâm Sát bị hợp mất thành ra Quan được thanh. Hình xung là như Kỷ thổ sanh tháng Dần, chi gặp Thân, tất Thân xung Dần mà phá Quan, chi lại thấy Tý, tất Tý Thân hợp mà hóa thủy, phản sanh Dần mộc, gọi là nhờ hội hợp mà giải xung vậy.

Tài gặp Kiếp lấy Thực để hóa là như Giáp mộc sanh tháng Thìn Tuất Sửu Mùi, Ất mộc đều thấu, Tỷ kiếp tranh Tài, can thấu Bính hỏa, tất Tỷ kiếp sanh Thực, nhờ Thực mà chuyển ra sanh Tài, nên Tài cách không bị phá hĩ. Hoặc không thấu Bính mà thấu Tân, tất Tân kim khắc chế Ất mộc cũng không tranh Tài nữa.

Gặp Sát là như Bính hỏa sanh tháng Dậu, nguyệt lệnh Chánh tài, can thấu Nhâm thủy, tất Tài sanh Sát là phá cách. Như lại thấu Mậu thổ, tất Nhâm bị Mậu chế, mà Mậu thổ lại sanh Dậu kim Tài, hoặc không thấu Mậu mà thấu Đinh, tất hợp mất Sát mà giữ lại Tài, đều là trong bại gặp cứu vậy.

Ấn gặp Tài thì lấy Kiếp giải là như Ất mộc sanh tháng Hợi, nguyệt lệnh Chánh ấn, gặp Mậu Kỷ thổ Tài, tất Tài phá Ấn là hoại cách. Như thấu Giáp Ất mộc, tất Kiếp chế Tài mà hộ Ấn; thấu Quý Giáp tất hợp Tài giữ lại Ấn.

Thực thần gặp Kiêu, như Giáp mộc thấy Bính mà lại thấu Nhâm, Thực bị Kiêu đoạt là phá cách. Như thấu Canh Sát, tất có thể đuổi Thực tựu Sát để thành cách; hoặc không thấu Sát mà thấu Mậu thổ Tài, tất Mậu cũng có thể chế Nhâm để hộ Bính Thực, nên Thực cách lại thành vậy.

Ất mộc sanh tháng Dậu mà thấu Đinh hỏa là Thực thần chế Sát. Sát lấy chế làm dụng, gặp Nhâm Quý khử mất Đinh hỏa Thực thần, quả là phá cách. Gặp thêm Mậu Kỷ thổ, khứ Ấn để giữ lại Thực, cục chế Sát khỏi bị hỏng, trở lại thành cách vậy.

Thương quan sanh Tài thấu Sát là như Giáp mộc sanh tháng Ngọ mà thấu Kỷ thổ, nếu thấu thêm Canh kim Thất sát là phá cách, nhưng trụ mà thấu Ất mộc, tất Ất Canh hợp, Thương quan sanh Tài, cách thành.

Dương nhận cách lấy Quan sát chế nhận làm dụng, gặp thêm Thương thực chế Quan sát là phá cách, như có trọng Ấn để khử tác dụng của Thực, tất Dương nhận cách thành.

Gặp Lộc, gặp Kiếp dùng Quan mà gặp Thương, dùng Tài mà gặp Sát là như Giáp mộc sanh Dần là gặp lộc, dùng Tân kim Quan tinh mà gặp phải Đinh hỏa, dùng Kỷ thổ Tài tinh mà thấu Canh kim, đều là phá cách. Như gặp phải Đinh hỏa mà có Nhâm thấu, Đinh Nhâm hợp, chẳng tổn thương Tân kim, nên có thể dùng Quan; thấy Canh kim mà có Ất thấu, Ất Canh hợp, Tài không dua theo Sát nên cách toàn vẹn. Đều là trong bại gặp cứu.

Trên đã nói về phép trong bại gặp cứu, dễ thấy rõ là phép cứu ứng không có quy lệ nhất định, xem kỹ thêm các trụ sau, để thấy được khái quát.

86 - Đinh Tị / Kỷ Dậu / Canh Tý / Đinh Hợi

Hành vận: Mậu thân / đinh mùi / bính ngọ / ất tị / giáp thìn / quý mão / nhâm dần

Trụ của Chu Cổ Vi: Nguyệt lệnh Dương nhận dùng Quan, nhưng Quan nhiều thì không quý, hay ở chỗ Kỷ Ấn ngăn cách Quan tinh trên trụ năm, Quan sanh Ấn, rồi Ấn sanh thân, chuyên dùng Quan tinh trên trụ giờ, đến vận trợ Quan, quay lại thành đài các, tất nhờ ở Kỷ thổ là thần cứu ứng vậy.

87 - Quý Dậu / Ất Sửu / Canh Dần / Bính Tý

Hành vận: Giáp tý / quý hợi / nhâm tuất / tân dậu / canh thân / kỷ mùi / mậu ngọ

Trụ của Tỉnh trưởng chiết giang Trương Tái Dương: Can giờ Thất sát thấu ra, dùng can năm Quý thủy Thương quan chế Sát, có Ất mộc cách ở giữa, tất Thương quan sanh Tài, Tài sanh Sát, là bại cách. Hay ở chỗ Ất tòng Canh hợp, tất Quý thủy không thể sanh Ất mộc mà lại đi chế Sát, nên lấy hợp của vốn là thân làm cứu ứng vậy.

88 - Quý Dậu / Đinh Tị / Kỷ Mão / Giáp Tuất

Hành vận: Bính thìn / ất mão / giáp dần / quý sửu / nhâm tý / tân hợi / canh tuất

Trụ của tỉnh trưởng Chiết giang Trử Phụ Thành: Kỷ thổ sanh tháng tư, có Đinh hỏa thấu ra, hỏa viêm thổ táo, được can năm Quý thủy phá Ấn mà sanh Quan, nên lấy Quý thủy làm thần cứu ứng. Tị Dậu hội cục, Thực thương hại Quan, hay ở chỗ có Quý thủy thấu, tất Thực thương sanh Tài, nên nói lấy Quý vận động mà làm tốt đẹp.

Như coi sơ qua 2 trụ trên thì Tài Ấn hại nhau, Quan Thương hại nhau, không biết quý ở chỗ nào, xét kỹ mới rõ. Tích thiên tủy có câu "Trừng trọc cầu thanh thanh đắc tịnh, gặp giờ hàn cốc cũng hồi xuân", chính là như thế.

89 - Tân Tị / Nhâm Thìn / Ất Hợi / Nhâm Ngọ

Hành vận: Tân mão / canh dần / kỷ sửu / mậu tý / đinh hợi / bính tuất / ất dậu

Trụ của Tỉnh trưởng Giang tô Trần Đào Di: Ất sanh tháng Thìn, ngày đóng trường sanh, dùng Đinh trong Tị Ngọ, là Thực thần sanh Tài cách. Năm thấu Tân kim Thất sát là phá cách, mừng được Nhâm thủy trong Thìn thấu ra, hóa Sát sanh thân, lấy Nhâm làm thần cứu ứng vậy. Tuy lấy Thực thần sanh Tài nhưng vận hỉ Thực kị Tài, tất do lấy Thực có thể tiết tú trong khi Tài thì phá Ấn vậy. Phàm những trụ nhiều sóng gió chìm nổi, phần nhiều như thế.

Diệu dụng của trụ toàn ở lẽ thành bại cứu ứng, trong đó quyền biến nặng nhẹ, rất đỗi linh hoạt. Học giả nên lưu tâm, có thể theo lẽ trung dung mà ứng phó vạn biến, là cái đạo lớn của mệnh, ấy là đạt đạo !

Lẽ thành bại cứu ứng của bát tự, thiên biến vạn hóa, không thể nói hết. Các ví dụ biến hóa kễ trên, đều chọn dụng thần theo nguyệt lệnh như cách phổ thông vậy.

Mạnh Tử viết, đại tượng lấy quy củ dùng người, không thể dùng được người xảo, học giả sau khi luyện tập quen, tự ngộ lẽ hay. Như luận về biến hoá, tất bát tự như nhau, mà địa vị thứ tự, biến đổi 1 chút, tức thì ra sanh biến hóa, là thành hoặc bại, được hoặc không được ứng cứu, không thể luận như nhau, cũng không thể kể hết phương thức ra được.

Duy thông suốt chỉ có 1 lẽ dung hòa, tất tự nhiên quyền biến nặng hay nhẹ, phải trái đều về nguồn.

Duy lhông suốt chỉ có 1 lẽ dung hòa , tất tự nhiên quyền biến nặng hay nhẹ , tả có về nguồn.

VULONG
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 707
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: Tử bình chân thuyên bình chú

Gửi bài gửi bởi VULONG » 07:00, 24/01/14


Chương 10: Luận dụng thần biến hóa

Dụng thần chuyên gửi ở nguyệt lệnh, nhưng nguyệt lệnh tàng chứa bất nhất, nên dụng thần cũng biến hóa. Như trong 12 chi, trừ Tí Ngọ Mão Dậu ra, các chi khác đều tàng chứa dư khí, không chỉ riêng tứ khố (Thìn Tuất Sửu Mùi là tứ khố, ngoài ra là Dần Thân Tị Hợi). Tức lấy Dần mà luận, Giáp vốn là chủ, như quận có phủ, Bính trường sanh ở Dần, như quận có đồng tri, Mậu cũng trường sanh ở Dần, như quận có thông phán; giả sử tháng Dần là đề cương, không thấu Giáp mà thấu Bính, tất như tri phủ không tới quận, nên đồng tri được tác thành chủ vậy. Biến hóa là như thế.
Trong 12 chi, Tí Ngọ Mão Dậu là chuyên khí, chỉ tàng 1 chứa thần; Dần Thân Tị Hợi là sanh địa, là nơi tàng chứa khí Trường sanh và Lộc vượng (Lâm quan). Thập can ngũ hành chỉ có 4 sanh địa (ý nói thiên can dương trường sinh ở Dần Thân Tị Hợi). Âm trường sanh là do dương đến cực mà âm sanh, không phải sanh địa chân chính, nên nói trong Tí Ngọ Mão Dậu không có trường sanh vậy. Ở Dần thì Giáp mộc lộc vượng, Bính Mậu trường sanh, nên nói tàng Giáp Mậu Bính. Ở Tị thì Bính Mậu lộc vượng, Canh kim trường sanh, nên nói Tị tàng chứa Bính Mậu Canh, Giáp mộc trường sanh, cố sở tàng là Nhâm Mậu Giáp. Thổ kí sanh ở Dần Thân, kí vượng ở Tị Hợi. Nói Dần Tị mà không nói Thân Hợi vì, do trong Dần có chứa Bính hỏa sanh cho, nên thổ vượng dùng được; trong Hợi có tàng chứa kim thủy tiết khí, nên nói thổ nhược không thể dùng được vậy. Thìn Tuất Sửu Mùi là mộ địa, tàng chứa dư khí vạn vật lúc nhập mộ. Ở Thìn thì mộc còn dư khí, thủy mộ, nên thổ là bản khí, Thìn tàng chứa Mậu Ất Quý vậy, Tuất Sửu Mùi đều như thế. Nên nói lấy Dần mà luận, Giáp là chủ, gặp Dần thì khí đương vượng; kế tới Bính Mậu cũng là có khí. Giả sử tháng Dần là đề cương, không thấu Giáp mà thấu Bính, thì Giáp tuy đương vượng, nhưng trong bát tự không có, cai quản ở đâu chứ; Bính tuy thứ yếu, nhưng chủ trì bát tự, thế nên bỏ Giáp mà dùng Bính. Do thế mà biến hóa vậy.

Lại nói Đinh sanh tháng Hợi, vốn là Chánh quan, chi toàn Mão Mùi, tất hóa ra Ấn. Kỷ sanh tháng Thân, vốn là Thương quan, tàng chứa Canh mà thấu Nhâm, tất hóa ra Tài. Phàm như thế đều là biến hóa của dụng thần vậy.

Đinh sanh tháng Hợi, nguyệt lệnh vốn là Chánh quan, chi toàn Mão Mùi, tất tam hợp mộc cục mà hóa ra Ấn, thế là vì hội hợp mà biến hóa vậy. Kỷ sanh tháng Thân, kim vốn là Thương quan, tàng Canh thấu Nhâm, tất Thương quan dùng lấy Tài, thế là vì tàng thấu mà biến hóa vậy.

Biến khéo thì cách trở thành rất tốt ; biến không khéo thì cách tan, thế nào là biến khéo? Như Tân sanh tháng Dần (giáp Tài Bính Quan Mậu Ấn) , gặp Bính thì Tài hóa ra Quan; Nhâm sanh tháng Tuất (Mậu Sát tân Ấn Đinh Tài) gặp Tân thì Sát hóa ra Ấn. Quý sanh tháng Dần (giáp Thương Bính Tài Mậu Quan) , không thể chuyên lấy Sát mà luận. Quý sanh tháng Dần, nguyệt lệnh Thương Quan nắm lệnh, tàng Giáp thấu Bính, hội Ngọ hội Tuất , tất Dần Ngọ Tuất tam hợp, Thương hóa ra Tài; thêm Bính hỏa thấu ra , hoàn toàn lấy Tài mà luận, tức dùng như không thấu Bính mà thấu Mậu thổ, thì cũng lấy Tài vượng sanh quan mà luận. Thế nên trước tiên lấy Dần Ngọ Tuất tam hợp biến hóa, không luận là Thương Quan gặp Quan vậy. Ất sanh tháng Dần, Giáp kiếp nắm lệnh, hội Ngọ hội Tuất, tất Kiếp hóa ra Thực Thương, thấu Mậu tất Thực Thương sanh Tài, không thể lấy Tỉ Kiếp tranh Tài mà luận. Đó là lấy hội hợp mà biến hóa vậy. Nhờ biến hóa mà kị hóa ra hỉ, là khéo biến vậy.

Tân sanh tháng Dần, nguyệt lệnh Chánh tài nắm lệnh, thấu Bính tất lấy Tài sanh Quan vượng làm dụng, không thể chuyên lấy Tài mà luận. Nhâm sanh tháng Tuất, nguyệt lệnh Thất sát nắm lệnh, thấu Tân tất Tân kim dư khí tác dụng, Sát Ấn tương sanh, không thể chuyên lấy Sát mà luận. 2 ví dụ đó lấy thấu ra mà biến hóa ra vậy. Quý sanh tháng Dần, nguyệt lệnh Thương quan nắm lệnh, tàng Giáp thấu Bính, hội Ngọ hội Tuất, tất Dần Ngọ Tuất tam hợp, Thương hóa ra Tài; thêm Bính hỏa thấu ra, hoàn toàn lấy Tài mà luận, tức dùng như không thấu Bính mà thấu Mậu thổ, thì cũng lấy Tài vượng sanh Quan mà luận. Thế nên trước tiên lấy Dần Ngọ Tuất tam hợp biến hóa, không luận là Thương quan gặp Quan vậy. Ất sanh tháng Dần, tháng Kiếp nắm lệnh, hội Ngọ hội Tuất, tất Kiếp hóa ra Thực thương, thấu Mậu tất Thực thương sanh Tài, không thể lấy Tỷ kiếp tranh Tài mà luận. Đó là lấy hội hợp mà biến hóa vậy. Nhờ biến hóa mà kị hóa ra hỉ, là khéo biến vậy.

Thế nào là biến không khéo? Như Bính sanh tháng Dần, vốn là Ấn thụ, can không thấu Giáp mà lại hội Ngọ hội Tuất, tất hóa ra Kiếp. Bính sanh tháng Thân, vốn là Thiên tài, tàng Canh thấu Nhâm, hội Tý hội Thìn, tất hóa ra Sát. Những trụ loại như thế đều là biến không khéo ra bất thiện vậy.

Bính sanh tháng Dần, Giáp mộc nắm lệnh, vốn là Thiên ấn, can không thấu Giáp mà thấu Bính, hoặc hội Ngọ hội Tuất, tất tam hợp hỏa cục, Ấn hóa ra Kiếp. Bính sanh tháng Thân, Canh kim nắm lệnh, vốn là Thiên tài, can không thấu Canh mà thấu Nhâm, hoặc hội Tý hội Thìn, tất tam hợp hỏa cục, Tài hóa ra Sát. Do biến hóa mà hỉ hóa ra kị, là biến ra bất thiện. Hỉ kị biến hóa không nhất định, xem thêm như sau:

90 - Nhâm Dần / Đinh Mùi / Kỷ Mão / Ất Hợi

Hành vận: Mậu thân / kỷ dậu / canh tuất / tân hợi / nhâm tý / quý sửu

Tứ trụ của Ngũ Đình Phương: Kỷ sanh tháng Mùi, can thấu Đinh hỏa, hỏa thổ đang vượng, thế nhưng chi hội Hợi Mão Mùi mộc cục, can thấu Nhâm thủy, Đinh hợp Nhâm hóa mộc, thêm chi năm Dần, giờ thấu Ất trợ giúp thêm, Đinh Mùi 2 chữ đều hóa ra mộc, Kỷ thổ không khỏi tòng Sát hĩ. Tứ trụ không kim, hội cục thuần túy, tòng Sát cách thành vậy.

91 - Bính Tý / Nhâm Thìn / Nhâm Thân / Ất Tị

Hành vận: Quý tị / giáp ngọ / ất mùi / bính thân / đinh dậu / mậu tuất

Tứ trụ của Vương Khắc Mẫn: Nhâm sanh tháng 3, vốn là mộ địa, Mậu thổ Thất sát nắm lệnh, nhưng trong Thìn không thấu Mậu mà thấu ra Nhâm Ất, Thân Tý Thìn tam hợp thủy cục, tất thổ vượng biến thành thủy vượng, mộc mùa xuân còn dư khí, tiết bớt thủy vượng, Bính hỏa lại đắc lộc ở Tị, biến ra Thương quan sanh Tài cách.

92 - Ất Hợi / Kỷ Mão / Giáp Thân / Ất Hợi

Hành vận: Mậu dần / đinh sửu / bính tý / ất hợi / giáp tuất / quý dậu

Tứ trụ của Hồ bắc đô đốc Tiêu Diệu Nam: Nguyệt lệnh dương nhận, gặp được Thân kim chế, Sát Nhận cách thành. Canh kim trong Thân, ám hợp với Ất mộc trong Mão, khí hiệp tình hòa, chính gọi là "Giáp lấy Ất muội thê Canh, tưởng cát hóa hung" vậy. Dương nhận hợp Sát, Sát chẳng khắc thân, đến vận Giáp làm quan phủ; vận Tuất sanh kim mà hợp mất Mão, cách cục phá hết nên thất lộc.

93 - Quý Dậu / Đinh Tị / Nhâm Ngọ / Bính Ngọ

Hành vận: Bính thìn / ất mão / giáp dần / quý sửu / nhâm tý / tân hợi

Tứ trụ của Tùng hỗ hộ quân sứ Hà Phong Tòng: Nguyệt lệnh Tài Sát, nhật nguyên cực nhược, hay ở chỗ Tị Dậu hợp lại, Tài hóa ra Ấn, Quý khắc mất Đinh, khiến Đinh chẳng hợp Nhâm, cũng chẳng thương Ấn, là dùng Kiếp hộ Ấn. Can giờ Bính hỏa thấu ra, Tài vượng sanh Quan, nhờ có Tài Ấn chẳng hại nhau, toại thành quý cách. Nếu chỉ được Quý thủy cứu ứng, mà không gặp được Tị Dậu biến hóa, cũng không thành nổi vậy.

Cũng có khi biến hoá mà không làm mất cách cục vậy. Như Tân sanh tháng Dần, thấu Bính hóa Quan, như lại thấu Giáp, trở thành cách Chánh tài, kiêm thêm cách Chánh quan vậy. Ất sanh tháng Thân, thấu Nhâm hóa Ấn, như lại thấu Mậu, tất Tài sanh Quan, Ấn gặp phải Tài thì thoái vị, tuy thông nguyệt lệnh, cách trở thành Thương quan, rất kị gặp Mậu quan. Bính sanh tháng Dần, hội Ngọ Tuất là Kiếp, như lại thấu hoặc Giáp, hoặc Nhâm, Ấn cách bị phạm nhưng không phá. Bính sanh tháng Thân, gặp Nhâm hóa ra Sát, như lại thấu thêm Mậu, tất Thực thần có thể chế Sát sanh Tài, Tài cách bị phạm, nhưng phú quý chẳng bị mất. Đại loại như vậy nhiều lắm, đều là biến hoá mà không làm mất cách cục sẳn có.

Tân sanh tháng Dần, Giáp mộc Chánh tài nắm lệnh, Giáp Bính đều thấu, tất thành ra cục Tài vượng sanh Quan. Kiêm cách thì dùng kiêm và dụng, không phải là dùng 2 cách riêng biệt.

Ất sanh tháng Thân, nguyệt lệnh Chánh quan, thấu Nhâm vốn là có thể bỏ Quan dùng Ấn, gặp Mậu Tài đều thấu, tất Tài sanh Quan và phá Ấn, nên xét kỹ khí của Ấn Tài Quan. Giáp mộc trong Dần đang vượng, nên Bính Mậu có khí, Canh kim trong Thân đang vượng, Nhâm Mậu có khí, trước tiên dùng đang vượng, sau mới tới đắc khí, thứ tự nhất định là vậy. Khí đang vượng như thấu xuất ra, tất khí thứ yếu phải thoái nhượng, hoặc lấy sanh trợ thần đương vượng làm dụng, lý nhất định là vậy.

Quý sanh tháng Dần, Thương quan nắm lệnh, Giáp Bính đều thấu, tất trước lấy tiên Giáp sau mới tới Bính, nhưng vì Thương quan sanh Tài, nên kị gặp Quan tinh.

Bính sanh tháng Dần, Ấn thụ nắm lệnh, chi hội Ngọ Tuất, tất hóa ra Kiếp. Thấu Giáp tất Giáp Ấn đang quyền, Ấn cách bất biến; thấu Nhâm tất Ấn được Sát sanh, Kiếp bị Sát chế, nên Ấn cách lại cũng bất biến.

Bính sanh tháng Thân, Thiên tài nắm lệnh, thấu Nhâm tất thủy thông nguồn nên hóa Sát, như lại thấu Mậu, tất Tài được Thực sanh, Sát bị Thực chế, nên Tài cách cũng bất biến. Đó là ví dụ biến mà bất biến vậy.

Nói rằng bát tự trừ phi dụng thần đã lập, dụng thần không biến hóa thì chẳng linh nghiệm, người khéo xem mệnh nên để ý.

Xét dụng thần mà không xét lẽ biến hóa ấy, tất không thể xác định được dụng thần, nên xét cho rõ.

VULONG
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 707
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: Tử bình chân thuyên bình chú

Gửi bài gửi bởi VULONG » 07:02, 24/01/14

Chương 11 : Luận dụng thần thuần tạp

Dụng thần đã có biến hóa, trong biến hóa có chia ra thuần, tạp. Thuần thì cát, tạp thì hung.
Dụng thần thuần tất khí thế thuần nhất, nên dễ phát huy năng lực; dụng thần tạp tất vướng mắc trăm mối, nên có thể khó hiển lực. "Tích thiên tủy" viết: "nhất thanh đáo để hiển tinh thần, quản lấy bình sanh phú quý chân, trừng trọc cầu thanh thanh đắc tịnh, giờ lai hàn cốc cũng hồi xuân ", tức nói về thuần tạp vậy (Xem thêm "Tích thiên tủy chinh nghĩa, tiết ví dụ Thanh Trọc).

Thuần là sao? Là dụng tương quan qua lại mà cả 2 đều tương đắc. Như Tân sanh tháng Dần, Giáp Bính đều thấu, Tài và Quan cả 2 tương sanh, tương đắc. Mậu sanh tháng Thân, Canh Nhâm đều thấu, Tài và Thực cả 2 tương sanh, tương đắc. Quý sanh tháng Mùi, Ất Kỷ đều thấu, Sát và Thực tương khắc, tương khắc nhưng lại hợp nhau, nên cả 2 cũng tương đắc vậy. Các loại như thế, đều là dụng thần thuần vậy.

Tài Quan Thực Ấn, nhiều hỗ dụng, tất rất cần hợp với nhật nguyên, không nên tương hại. Như Tân sanh tháng Dần, tất Tân kim nên gặp thông căn hay lộc, rất cần gặp Quan vượng, thì Quan được Tài sanh. Mậu sanh tháng Thân, Thân nên gặp nhiều trợ giúp, rất cần tiết tú, thì Tài Thực tương sanh, đều là gặp hợp mà tương đắc vậy. Quý sanh tháng Mùi, Ất Kỷ đều thấu, rất cần thân cường, để lấy Thực chế Sát tương xứng nhau. Tóm lại cốt yếu ở hợp, tất tương đắc mà lại thêm đẹp, tức nếu không được cùng xuất ra từ nguyệt lệnh, thì cũng nên được thấu ra từ chi năm, ngày, giờ vậy. Cũng là lấy tương đắc làm tốt đẹp.

Tạp là sao? Là hỗ dụng nhưng cả 2 không cùng chung mưu vậy. Như Nhâm sanh tháng Mùi, Ất Kỷ đều thấu, Quan với Thương tương khắc, cả 2 không cùng chung mưu vậy. Giáp ở tháng Thìn, Mậu Nhâm đều thấu, Ấn với Tài tương khắc, cũng là cả 2 không cùng chung mưu. Các loại như thế, đều là dụng thần tạp vậy.

Quan với Thương không thể dùng cả 2, Tài và Ấn không thể dùng cả 2, thường là vậy (trừ 1 số ngoại lệ). Nhâm sanh tháng Mùi, tháng lệnh thấu Kỷ thổ Quan tinh mà tàng Ất, tất Ất mộc không có lực tổn thương nổi Quan. Giáp sanh tháng Thìn, tháng lệnh thấu Nhâm thủy Ấn thụ mà tàng Mậu, tất Thìn thổ cũng không phá nổi Ấn. Như đều thấu ra tất hiềm nhau. Như ngôi vị không tương hại, hoặc can đầu riêng có chế hợp, có thể cứu ứng. Bằng như không có ứng cứu, không luận là tốt được.

94 - Giáp Tý / Đinh Mão / Kỷ Hợi / Mậu Thìn

Hành vận: Mậu tuất / đinh dậu / bính thân / ất mùi / giáp ngọ / quý tị

Như trụ của Dương Tăng Tân. Hợi Mão hội hợp, năm thấu Quan tinh, hay ở chỗ Tý thủy Tài tinh sanh Quan, Quan sanh Ấn, rồi Ấn lại sanh thân, Tài Quan Ấn được thuần mà chẳng tạp vậy. Tiếc là trụ giờ thiếu 1 điểm kim, đến mình là hết, không khỏi con cháu khó khăn.

95 - Quý Mùi / Giáp Tý / Bính Tuất / Tân Mão

Hành vận: Quý hợi / nhâm tuất / tân dậu / canh thân / kỷ mùi / mậu ngọ

Tứ trụ trên của Lương Hồng Chí. Nguyệt lệnh Quan tinh thấu ra, nhưng nguyệt lệnh Tý thủy bị Tuất Mùi bao vây, Quý Mùi lại là Quan đóng ở Thương địa, Bính Tân tương hợp, nhật nguyên tình hướng Tài mà chẳng hướng Quan, cả hai đều không cùng mưu, tựa hồ Giáp tạp. Nhưng xét kỹ, Bính hỏa hợp Tân, khiến Tài không thương Ấn, Ấn chế Thương giữ lại Quan, trong trọc có thanh, vì thế mà quý vậy. Chuyển ngược thành ứng cứu, xét kỹ mới thấy.

Cái lý thuần tạp, không ngoài biến hóa, không nên sơ xuất, lý ấy rất rõ, người học mệnh không thể không biết.

Địa chi biến hóa, không ngoài ngũ hợp, tam hợp, lục hợp cùng sanh khắc chế hóa. Phàm bát tự đều thế, dụng thần đã chẳng thuần, ít bậc tất tạp ít, nhiều thứ tất tạp nhiều, những ví dụ trên còn chưa đầy đủ, xem nhiều bát tự tự khắc hiểu rõ.


Chương 12 : Luận dụng thần cách cục cao thấp

Bát tự đã có dụng thần, tất có cách cục, có cách cục tất có chia cao thấp, tài quan ấn thực sát thương kiếp nhận, cách nào chẳng quý? cách nào chẳng tiện? bởi cực quý cho tới cực tiện, vạn người mới có 1, thiên biến vạn hóa, sao kể hết được? Nhưng cái lý đại cương, nói gọn lại cũng chỉ ở có tình hay vô tình, có lực hay không có lực.

Phàm bát tự cùng một cách cục cũng có cao thấp. Cao thấp khác biệt, theo đại thể mà nói là xem ở thành bại ứng cứu với dụng thần thuần hay tạp; như luận kỹ càng, xét can chi tàng thấu, thứ tự phối hợp vị trí, hỉ kị gian thần với nhật nguyên xa cách hay kề cận, hoặc hỉ dụng với nhật nguyên là tiến khí hay thối khí, đều do đó phân ra cách cục cao thấp. Các bát tự có tình vô tình, có lực không có lực khác nhau, nên các mệnh cũng khác nhau. Học giả nhờ xem nhiều bát tự, tinh thần sáng suốt, tự nhiên hội ngộ, không văn tự nào nói rõ được. Thí dụ như sau:

96 - Mậu Tý / Giáp Dần / Mậu Ngọ / Giáp Dần

97 - Kỷ Hợi / Bính Dần / Mậu Tý / Giáp Dần

Hai trụ trên cùng là Sát trọng dụng Ấn (mộc nhiều dụng hỏa tiết khí). Trụ trên nhật nguyên đóng ở Ngọ, 2 Dần củng Giáp (củng Lộc), Tài ở chi năm, giúp Sát sanh Ấn, Ấn đóng ở địa chi, kề cận có lực, 2 Sát giúp 2 bên, tương sanh có tình. Trụ dưới cũng dùng Ấn, Bính Thiên Ấn phục thấu can, chỉ vì nhật nguyên tọa tài, tức là kị thần kề cận nhật chủ. 2 mệnh cùng là quý cách, cùng là Tài Sát Ấn tương sanh, nhưng mà trụ dưới không bằng được trụ trên, như thế là cùng 1 cách cục mà cũng chia ra cao thấp vậy.

Như Chánh quan bội Ấn, chẳng may thấu Tài, nếu tứ trụ thêm Thương, không còn bội Ấn nữa (Thương quan sinh Tài phá Ấn). Nếu Giáp thấu Dậu Quan, thấu Đinh Thương quan hợp Nhâm Thiên Ấn, là hợp Thương giữ lại Quan, toại thành quý cách, ấy là có tình. Tài kị Tỷ kiếp, cùng Sát tác hợp, Kiếp trở thành dụng. Nên như Giáp sanh tháng Thìn, thấu Mậu thành cách, gặp Ất là Kiếp, gặp Canh là Sát, Ất Canh tương hợp, thảy đều đắc dụng, toại thành quý cách, cũng là có tình vậy.

Thân nhược dùng Quan, toàn nhờ Ấn hóa; thân cường dùng Quan, nên lấy Tài sanh. Vì vậy Quan Ấn cách không huy hoàng bằng Tài Quan cách vậy. Như tứ trụ có Thương, nhật nguyên đã bị Quan khắc chế, lại bị Thương tiết nhược, tuy dùng Tài có thể tiết khí Thương, nhưng thân nhược không gánh nổi Tài sẽ nguy, chẳng bằng lấy bội Ấn có thể chế Thương hộ Quan, sanh phù nhật nguyên, 1 Ấn mà tới 3 công dụng vậy. Giáp thấu Dậu Quan là như Giáp sanh tháng Dậu, tháng thấu ra Tân kim Quan tinh, gặp Đinh hỏa Thương quan tất Quan bị thương, có Nhâm Thiên Ấn hợp Đinh, không chỉ hợp mất Thương quan, mà Đinh Nhâm hóa mộc, lại giúp nhật nguyên, hóa kị ra hỉ, thế là có tình vậy.

Tài cách kị Tỷ kiếp tranh Tài (ngoài nhật chủ, Tỉ Kiếp lộ ra nhiều), như thấu Sát tất Tài dua theo Sát, cũng do thế mà phạm cấm kị của cách, thế nhưng Kiếp Sát cùng thấu mà lại hợp nhau, cả 2 đều trở thành đắc dụng. Ấy là vì Sát có thể chế Kiếp, khiến Kiếp không tranh Tài, Kiếp có thể hợp Sát, lại khiến Sát chẳng công thân nữa. Như Giáp sanh tháng Thìn thấu Mậu thành Thiên tài cách, Ất Canh đều thấu, hai bên hợp chế nhau, Tài cách nhờ vậy không bị phá (xem tiết luận Tài cách, Tài đới Thất sát). Lấy kị chế kị, có tình nên quý vậy.

Thân cường Sát lộ mà Thực thần lại vượng, như Ất sanh tháng Dậu, Tân kim thấu, Đinh hỏa cương, mùa thu mộc thịnh, cả 3 đều đủ mạnh, tất quý cực đẳng, là nhờ ở có lực vậy. Quan tinh cường Tài tinh thấu ra, thân có Lộc Nhận, như Bính sinh tháng Tí, có Quý thấu can, Canh kim cũng lộ, nhật chủ tọa Dần hay Ngọ, cả 3 đều Thân Tài Quan đều vượng, tất thành đại quý, cũng là nhờ có lực rất mạnh.

Dùng Quan hay Sát có khác biệt. Thân cường Sát vượng nên có Thực chế, thân cường Quan vượng hỉ Tài sanh. Ất sanh tháng Dậu, Tân kim thấu ra là Thất sát cách. Ất mộc mà chi là Dần Mão Hợi, thêm can thấu Tỷ kiếp, thì thu mộc cực thịnh. Nếu Đinh hỏa Thực thần thấu ra, mộc thịnh tất hỏa cũng có lực. Cả 3 đều mạnh, vận hành chế Sát, tất là cực đẳng quý (xem tiết Luận Sát). Thân Sát Thực thần đều vượng ngang nhau mà có lực. Ví dụ như sau:

98 - Quý Mùi / Tân Dậu / Ất Đậu / Đinh Hợi (Diêm Tích San)

99 - Mậu Tý / Tân Dậu / Ất Mùi / Bính Tý (Thương Chấn)

100 - Mậu Ngọ / Tân Dậu / Ất Mão / Bính Tuất (Lục Vinh Đình)

Cả 3 trụ đều là Tân kim thấu, Đinh hỏa cường, thu mộc thịnh vậy. Nhưng nên chú ý, Tân kim tất nên thấu ra, vì có lực mới thành quý cách. Ất là nhu mộc, không sợ Sát vượng, Sát thấu ra mới quý, thêm Bính Đinh cùng thấu ra là đẹp. Như Hứa Thế Anh:

101 - Quý Dậu / Tân Dậu / Ất Sửu / Tân Tị

Hành vận: Canh thân / kỷ mùi / mậu ngọ / đinh tị / bính thìn / ất mão / giáp dần

Ất mộc quá nhược, tuy thấu Ấn thông căn, không thể luận tòng cách, Bính hỏa trong Tị muốn cứu thu mộc không thịnh, lại vướng phải tam hợp (Tị Dậu Sửu), vô lực chế Sát. Tuy cùng là quý cách, nhưng so 3 trụ trên, có phân ra cao thấp. Như Đinh hỏa thấu ra, mà Tân kim lại chẳng thấu, tất chế Sát thái quá, thành người ngu hèn vậy. Thu mộc mới luận thế.

102 - Đinh Mùi / Kỷ Dậu / Ất Hợi / Quý Mùi

Trụ này Đinh hỏa thấu, thu mộc thịnh, mà Tân kim không thấu nên chẳng thành cách.

103 - Bính Tý / Tân Sửu / Ất Tị / Ất Dậu

Trụ này Tân kim Bính hỏa đều thấu, chỉ vì đông mộc không phải thu mộc, chẳng luận như nhau.

Bính sanh tháng Tý gặp Quý thủy thấu, là Chánh quan cách. Chi đóng ở Dần Ngọ là lộc nhận, Bính hỏa thân vượng. Canh kim lộ tất Quan được Tài sanh, Quan có Tài dẫn, Quan lấy Tài làm gốc. Vận hành Tài hương, tất nhiên đại quý, bởi nhật nguyên với Tài Quan đều có lực vậy. Ví dụ như sau:

104 - Tân Dậu / Canh Tý / Bính Dần / Quý Tị

Hành vận: Kỷ hợi / mậu tuất / đinh dậu / bính thân / ất mùi / giáp ngọ

Trụ này Quý thủy thấu, Canh kim lộ. Hay ở chỗ ngày tọa trường sanh, giờ gặp quy lộc, thân vượng gánh nổi Tài Quan, mà Tài sanh nên Quan vượng vậy. Trụ này trích từ "Tích thiên tủy chinh nghĩa ".

105 - Kỷ Mão / Bính Tý / Bính Dần / Bính Thân

Hành vận: Ất hợi / giáp tuất / quý dậu / nhâm thân / tân mùi / canh ngọ / kỷ tị

Trên đây là trụ của Hồ Hán Dân. Tiếc rằng Quý thủy không thấu, Canh kim chẳng lộ, mà Thân xung Dần, tổn thương gốc của Bính hỏa, tuy có hoài bảo lớn, danh cao thiên hạ, mà dụng thần không hiện, phụ trợ không có lực, chủ trì trung ương, mưa dầm xanh cỏ, chỉ còn đợi tuế vận phù trợ vậy. Quan gặp Tài Ấn, không bị hình xung, Quan cách thành, xung Quan tất là phá cách. Trụ này Tài Ấn xung nhau, tuy không phá cách, nhưng khiến phụ tá chịu tổn thất.

Lại có khi có tình mà kiêm có lực, có lực mà kiêm có tình vậy. Như Giáp dùng Dậu Quan, Nhâm hợp Đinh làm thanh Quan, như Nhâm thủy căn thâm, là có tình mà kiêm có lực vậy. Ất dùng Dậu Sát, Tân gặp Đinh chế, mà Tân có lộc tức Đinh trường sanh, cùng gốc ở nguyệt lệnh, là có lực mà kiêm có tình vậy. Cách đẹp đến thế là cùng.

Có tình có lực, trước chia sơ ra, định thêm cách kiêm, thay đổi mà tốt đẹp. Như cách Chánh quan bội Ấn, Giáp dùng Dậu Quan, Nhâm hợp Đinh hóa Thương hộ Quan là có tình, Nhâm thủy thông căn thân Hợi là có lực. Cách Thực thần chế Sát, Tân kim thấu ra, thông căn nguyệt lệnh, là Sát có lực, mà được lợi ở chỗ kị thần không có lực. Như Giáp dùng Dậu Quan, Nhâm là hỉ thần, Đinh là kị thần, nên lấy Nhâm thông căn là tốt đẹp. Như Đinh hỏa thông căn, tất hợp mà chẳng mất, là bệnh chẳng yên, trở thành vô tình. Ất dùng Dậu Sát, thấu Đinh hỏa chế Sát là hỉ thần, gặp Nhâm hợp Đinh là kị thần, như Nhâm thông căn, tất Ấn thâm đoạt Thực, rất là phá cách. Nên trong có tình có lực, trước nên xét kỹ là hỉ hay kị vậy.

Như Giáp dùng Dậu Quan, thấu Đinh Thương quan gặp Quý Ấn, Quý khắc Đinh nhưng chẳng may bị Nhâm hợp, có tình chẳng bằng vô tình vậy. Ất gặp Dậu là Sát, thấu Đinh chế, như Sát cường mà Đinh yếu nhược, hoặc Đinh vượng mà Sát chẳng bằng, hay Tân Đinh đều vượng mà Ất căn chẳng sâu, tưởng có lực mà hoàn toàn không có lực, cách tuy cao mà xếp hạng thứ mà thôi.

Từ chú: như thượng giáp dụng dậu quan, thấu đinh vi thương, nhâm quý tuy đồng vi khứ thương hộ quan, nhi quý bất tri nhâm. Cái nhâm hợp vi khứ chi vô hình, thả hữu hóa mộc bang thân chi ích, quý khắc bất quá cường nhi khứ chi nhi kỷ, bất như hóa kị vi hỉ vi tình chi chí. Ất phùng dậu sát, dĩ thân cường thực sát tịnh vượng vi hợp cách, nhược sảo hữu đê ngang, tức phi toàn mỹ, tất tu vận tuế bổ kỳ bất túc, phương năng phát đạt. Như sát cường đinh nhược, tu hành thực thương chế sát chi vận; đinh vượng sát nhược, tu hành sát vượng chi vận; tân đinh tịnh vượng nhi thân nhược giả, tất tu hành lộc vượng chi vận. Bất phùng giai vận, y nhiên oách khuất, sở dĩ vi cách chi thứ cao giả dã. Thí như thượng nghị thân cường sát vượng tiết, sở dẫn diêm thương lục tam tạo, bính hỏa thương quan chế sát, bất tri đinh hỏa thực thần chế sát vi hữu lực hà tắc ? Bính hỏa phùng tân phản khiếp, bất năng hiển kỳ lực. Thử thương lục lưỡng tạo, sở dĩ bất cập diêm tạo dã.

Như ở trên Giáp dùng Dậu Quan, thấu Đinh là Thương quan, Nhâm Quý tuy cùng là khử Thương hộ Quan, mà Quý không bằng Nhâm. Vì Nhâm hợp mất Đinh, thêm hóa mộc giúp ích thân, dùng Quý khắc chẳng qua khử Thương để thân cường, không bằng hóa kị ra hỉ ấy mới là tình. Ất gặp Dậu Sát, lấy thân cường Thực Sát đều vượng là hợp cách, như cao thấp 1 chút, thì không toàn mỹ, tất nên đợi tuế vận bù chỗ thiếu, thì mới phát đạt. Như Sát cường Đinh nhược, nên hành vận Thực thương chế Sát; Đinh vượng Sát nhược, nên hành vận Sát vượng; Tân Đinh đều vượng mà thân nhược, tất nên hành vận lộc vượng. Chẳng gặp được vận tốt, phải chịu thua kém, vì thế là cách thứ cao vậy. Thí dụ như trên đã nói tiết thân cường Sát vượng, dẫn ra Diêm, Thương, Lục, 3 trụ, Bính hỏa Thương quan chế Sát, không bằng Đinh hỏa Thực thần chế Sát là có lực là sao? Bính hỏa gặp Tân phản pháo, lực không hiển hiện. Nên trụ của Thương và Lục đều không bằng Diêm vậy.

Như Ấn dùng Thất sát, vốn là quý cách, nhưng thân cường Ấn vượng, thấu Sát là cô bần, thân vượng chẳng cần Ấn sanh, Ấn vượng cần chi thêm Sát trợ? Đã thiên lệch lại thêm thiên lệch, ấy là vô tình vậy. Thương quan bội Ấn, vốn là quý, nhưng thân chủ quá vượng mà Thương quan quá kém, Ấn lại quá nặng, chẳng quý chẳng đẹp, trợ thân tất thân cường, chế Thương tất Thương kém, thế thì làm sao dùng trọng Ấn được? Như thế cũng là vô tình vậy. Lại như Sát cường Thực vượng mà thân không có căn, thân cường Tỷ trọng mà Tài không có khí, hoặc yểu hoặc bần, là do không có lực vậy. Đều là cách thấp mà không có dụng vậy.

Dụng thần phối hợp giúp đỡ, cốt yếu toàn ở hợp với ngày chủ hay không. Nên nếu dùng hợp, tất Thương quan có thể gặp Quan; không hợp thành dụng, tất Tài Quan đều là vật hại thân. Như Ấn dùng Thất sát, vốn lấy Ấn hóa Sát sanh thân làm dụng, như thân cường Ấn vượng, Sát Ấn đều mất tác dụng, vì quá vượng không có chỗ tiết, trở ngược lại thành hại ngày chủ, ấy là đã thiên lệch lại thêm thiên lệch. Thương quan mà dùng bội Ấn, tất do thân nhược Thương vượng, nên lấy Ấn tư thân chế Thương để mà được trung hòa, như thân với Thương quan đều vượng, tất yếu không lấy bội Ấn vậy. Như đã thế mà lại thêm Ấn trọng, Thương quan bị khắc tận, Ấn là phá cách nên là kị thần. Sát cường Ấn vượng tất thân nên cường, mới có thể chế Sát làm quyền, như thân không có căn, tất tiết chồng thêm, làm sao chịu nổi? Thân cường Tỷ Kiếp trọng mà dùng Tài tất nên có Thực thương để tiết Tỷ Kiếp, hoặc có Quan sát chế Tỷ kiếp để hộ Tài, như Tài phò lộ ra mà không có căn, tất bị Tỷ Kiếp tranh đoạt hết sạch. Thế là chỉ vượng mỗi thân mình, vợ con tiền bạc, chẳng có 1 phân, ấy là bần yểu không nghi ngờ gì nữa.

Trong nguyên nhân phân ra cao thấp, biến hóa rất tinh vi, hoặc 1 chữ mà có lực mạnh như ngàn quân, hoặc nửa chữ mà toàn cục đẹp đẽ trở thành bại, tùy giờ mà xem xét lý, lấy cái khó mà bàn nghị, đại lược là thế.
Cách cục biến hóa, không thể nói hết, thí dụ như:

106 - Mậu Tuất / Tân Dậu / Mậu Tuất / Bính Thìn

Hành vận: Nhâm tuất / quý hợi / giáp tý / ất sửu / bính dần / đinh mão

Tân kim Thương quan làm dụng, Bính hợp Tân kim bị vướng buộc là bệnh.

107 - Bính Ngọ / Tân Mão / Mậu Dần / Giáp Dần

Hành vận: Nhâm thìn / quý tị / giáp ngọ / ất mùi / bính thân / đinh dậu

Bính hỏa hóa Sát làm dụng, Tân kim hợp Bính bị vướng buộc là bệnh.

2 trụ cùng lấy hợp làm bệnh. Trụ trên Bính Tân hợp cách ngôi, nên lực khắc chế nhược, trụ dưới Bính Tân kề cận mà Tân ở tháng can, lực chế quá mạnh; trụ trên Bính hỏa sanh Mậu nên Mậu tiết tú, trụ dưới Bính hỏa khắc mất Tân kim, mới có thể hóa Sát sanh thân. Cách cục cao thấp, vì thế dứt mà chưa hết, vì trong biến hóa, đã tinh vi lại thêm tinh vi, học giả nên minh mẫn tinh thần mà xét.


VULONG
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 707
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: Tử bình chân thuyên bình chú

Gửi bài gửi bởi VULONG » 07:04, 24/01/14

Chương 13 : Luận dụng thần thành - bại, bại - thành

Trong bát tự có sự biến hóa không đồng nhất mới phân ra thành bại; mà ngay cả trong thành bại, lại biến hóa bất trắc, có khi đã thành lại bại, có khi bại lại trở nên thành.

Bát tự trong thành có bại, tất là gặp kị; kị hóa ra hỉ, tất là bại mà trở nên thành. Trong bại có thành toàn nhờ cứu ứng, nếu cứu ứng hóa ra kị, tất thành mà bại. Biến hóa khởi ở hội hợp, nên xem kỹ hội hợp có thay đổi khí chất lúc đầu không, kế đến là coi cốt yếu có hợp nhật nguyên không, thì mới có thể phán là thành hay bại.

Thế nên hóa Thương là Tài (Thương quan sinh Tài), cách đã thành, nhưng Tân sanh tháng Hợi, thấu Đinh Sát là dụng, có Mão Mùi bán hội Tài Mộc, vì thế theo Sát (Tài sinh Sát thành đảng phái), nhân thành mà bị bại. Ấn dụng Thất sát (Sát Ấn tương sinh), cách thành, nhưng Quý sanh tháng Thân, thu kim trùng trùng, lấy Tài Hỏa để tổn cái thái quá, gặp Sát tất Sát Ấn là kị của Tài, nhân thành mà bị bại. Các loại như thế, không thể kể ra hết, đều là ví dụ nhân thành mà bị bại vậy.

Hóa Thương ra Tài là như tháng là Thương quan, nhân hội hợp mà Thương sinh Tài, cách đó trở nên thành; nhưng như Tân sanh tháng Hợi thấu Đinh, vốn là kim thủy Thương quan mừng gặp Quan sát, chi gặp phải Mão Mùi hội Tài, tất biến ra thành cục Tài a dua theo Sát vậy. Ấn dùng Thất sát là cách thân nhược, dùng Ấn để tiết khí Sát, gặp Tài tất phá Ấn a dua theo Sát, vốn là kị. Như Quý sanh tháng Thân, thu kim trùng trùng, gặp được Tài tất lấy Tài tổn Ấn là dụng, bớt cái thái quá, như gặp thêm Sát tất Tài bỏ theo sanh Sát, Sát sanh vượng Ấn, tức là nhân thành mà bị bại. Thế nên xem kỹ vị trí thế nào, không thể cứ theo quy lệ, tùy bộ hoán hình, thế mới có thể loại suy.

Quan Ấn cách là lấy Quan sinh Ấn, nếu gặp Thương, cách bại. Nhưng Tân sanh tháng Mậu Tuất, năm Bính giờ Nhâm, Nhâm không thể vượt qua Mậu đi khắc Bính, mà có thể trở lại tiết tú thân (tân kim sinh nhâm thủy), ấy là từ bại mà thành. Sát Nhận cách là lấy Sát chế Nhận, nhưng nếu gặp Thực thì là cách bại. Nhưng Canh sanh tháng Dậu, năm Bính tháng Đinh, trên can giờ gặp Nhâm, tất Thực thần hợp Quan lưu Sát, nên Quan sát không tạp, Sát Nhận cục trở nên rõ ràng, vì Thực thần là kị thần lại phản theo mà thành hữu dụng, gọi là từ bại chuyển sang thành. Các loại như thế, cũng không thể kể ra hết, đều là ví dụ nhân bại đắc thành vậy.

Quan Ấn cách lấy Quan sanh Ấn làm dụng, gặp Thương quan tất phá cách, nhưng Tân sanh tháng Mậu, năm Bính giờ Nhâm, tất can năm Bính hỏa, sanh can tháng Mậu thổ là Ấn, Ấn sanh nhật nguyên, nhật nguyên tiết tú ở Nhâm, thiên can một mạch tương sanh; Nhâm Bính cách nhau bởi Mậu thổ, Nhâm không khắc Bính hỏa, Mậu không khắc Nhâm thủy, Bính hỏa cũng không thể vượt Mậu mà đi hợp Tân kim, vì có tương sanh tiết tú làm đẹp, nên phản ngược lai nhờ Thương quan kị thần mà thành cách hĩ. Sát Nhận cách lấy Sát chế Nhận làm dụng, gặp Thực thần chế Sát tất phá cách, nhưng Canh sanh tháng Dậu, năm Bính tháng Đinh, trên can giờ gặp Nhâm, tất Nhâm thủy Thực thần, hợp Quan mà không chế Sát, Sát Nhận cục thanh, nên phản ngược lại nhờ thực thần kị thần mà thành cách. Ấy là ví dụ nhân bại đắc thành.

Cái cách kì kì quái quái ấy, biến đổi vô cùng, chỉ nên lấy lý mà cân nhắc, tùy ở rõ lý, theo giờ vận hóa, do những kì quái ấy, tự chỉ có 1 loại rất đáng bất luận không đổi. Xem mệnh không có huyễn hoặc thì không có chủ, chấp thì không hóa vậy.

Nhân thành mà bại, nhân bại đắc thành, quy lệ bất nhất, xin dẫn 2 trụ làm chứng như sau:

108 - Quý Sửu / Mậu Ngọ / Kỷ Tị / Đinh Mão

Hành vận: Đinh tị / bính thìn / ất mão / giáp dần / quý sửu / nhâm tý

Trụ của Nam thông Trương Quý Trực. Hỏa viêm thổ táo, nhờ Quý thủy tư nhuận, nhưng Mậu Quý hợp, mất Tài là bại; thế mà lại nhân Mậu Quý hợp hóa, cách thành chuyên vượng, thế là nhân bại đắc thành vậy.

109 - Bính Tý / Mậu Tuất / Nhâm Tý / Canh Tý

Hành vận: Kỷ hợi / canh tý / tân sửu / nhâm dần / quý mão / giáp thìn

Nguyệt lệnh Thất sát, địa chi trụ ngày là Nhận, Sát Nhận cách thành. Vì can thấu Canh, nên Thiên ấn hóa Sát, tiết khí Sát vốn là điều tốt, nhưng vì đã là Sát Nhận cách, cốt yếu lấy Thất sát ức chế Nhận, tất thiên lộ Ấn là phá cách, nhân thành mà bị bại.


Chương 14 : Luận dụng thần phối khí hậu đắc nhất

Luận mệnh chỉ lấy nguyệt lệnh dụng thần làm chủ, nhưng cũng nên xem phối khí hậu thế nào. Như anh hùng hào kiệt, gặp thời vận thì lập công lớn; nghịch thời vận thì tuy có kì tài cũng không dễ thành công.

Dụng thần nên được giờ thừa khí, thí dụ như áo thun mặc mùa hạ, áo lông cừu mặc mùa đông, được giờ tất là quý. Nhưng lại có khi dụng thần tuy thừa vượng khí mà chẳng quý vì chịu ảnh hưởng của khí hậu. Nên dùng dụng thần, ngoài phò trợ hay ức chế, tất nên xem thêm có hợp khí hậu, tức là phép điều hậu vậy.

Vì thế Ấn thụ gặp Quan, là Quan Ấn song toàn, không ai không quý. Nhưng mộc mùa đông gặp thủy, tuy thấu Quan tinh, cũng khó mà quý, vì đang rét mà thêm nước đá, nước đá không thể sanh mộc, lý là như thế. Thân Ấn đều vượng, thấu Thực thần tất quý, phàm Ấn cách đều thế. Nhưng dùng đông mộc vốn là tú khí, đông mộc gặp được hỏa, không chỉ có thể tiết thân, mà còn là điều hậu vậy.

Mộc sanh đông lệnh (Giáp Ất sinh tiết Lập Đông, Tiểu Hàn), nguyệt lệnh là Ấn thụ, nhưng nước đá không thể sanh mộc; thấu Quan tinh (Canh Tân) tất kim theo thủy thế, càng thêm rét; thấu Tài tinh (Mậu Kỷ) tất thủy lạnh thổ bị đóng băng; không có chút sanh cơ thì Tài Quan đều vô dụng.

Hàn mộc hướng dương, tức là nói gặp Bính Đinh Thực Thương tất quý. Như tứ trụ:

110 - Canh Dần, Mậu Tý, Giáp Dần, Bính Dần

Tài Quan đều là nhàn thần vô dụng; trên trụ giờ Bính hỏa thanh thuần nên lấy tiết thân điều hậu làm dụng, càng thêm tú khí. Đấy là trụ của một Thượng thư thời tiền Thanh.

Thế nên hiểu rằng không chỉ có đông mộc, mà đông thổ cũng nên điều hậu, nên nói Thổ Kim Thương quan sanh ở đông lệnh, tất nên có Ấn vậy. Như trụ của Công Ngọc Lân:

111 - Bính Tý, Tân Sửu, Mậu Tý, Quý Sửu

Quý Tân trong Sửu thấu ra là quý, nhưng mùa đông thổ hàn, nếu không có Bính hỏa sưởi ấm, tất dụng thần chẳng có. Mừng được trụ năm Bính hỏa, hợp mà không hóa, vận hành nam phương, Bính hỏa đắc địa, nên Mậu thổ Tân Quý đều được hiển dụng, cũng là cấp thiết điều hòa khí hậu vậy (Trụ trên được Mệnh giám phê rằng rất dễ lầm với đảo xung cách; qua đó mà hiểu cách cục kì dị xưa nay phần nhiều như thế. Phân biệt thêm như thế để ghi nhận lỗi của ta).

Thương quan gặp Quan, thường gọi là gặp trăm mối họa, duy Kim Thủy gặp được, trái lại trở thành tú khí. Có Quan nào mà không sợ Thương, nhưng điều hậu là cần kíp, phải tạm dùng vậy. Thương quan đới Sát, tùy giờ có thể dùng, như dùng đông kim, thì đẹp gấp bội.

Ấy là nói Kim nhật chủ, Thủy là Thương quan. Nguyệt lệnh Thương quan, vốn lấy Quan sát làm kị, riêng có Kim Thủy Thương quan, sanh vào mùa đông, kim hàn thủy lạnh, lấy hỏa làm dụng, chẳng luận Quan sát vậy. Nếu có thêm thân Ấn đều vượng, Tài Quan thông căn, mới thành quý cách. Như tứ trụ:

112 - Giáp Thân, Bính Tý, Canh Thìn, Giáp Thân

Mộc hỏa không có căn, tuy là tiểu phú nhưng mà chẳng quý, tạm không dùng Tài Quan, thân vượng lấy Thương quan tiết tú làm dụng, riêng Bính hỏa điều hậu, giúp phối hợp không thể thiếu được, như không có (Hỏa) tất là trụ thanh hàn vậy.

Có khi tuy được điều hậu mà thân nhược như:

113 - Đinh Tị, Nhâm Tý, Tân Tị, Đinh Dậu

Đinh hỏa tuy thông căn, nhưng nhật nguyên tiết khí quá, nên lấy Dậu kim phò thân là dụng, cũng là quý cách. Tùy nghi phối trí, đều không nhất định, riêng Kim Thủy sinh mùa đông, không thể thiếu hỏa, không định sẳn dụng thần là vậy.

Thương quan bội Ấn cũng tùy giờ mà dùng, nếu dùng mộc mùa hạ, thì đẹp gấp bội, gọi là thủy hỏa tương tế vậy.

Như thế cũng là có ý điều hậu vậy. Phàm bội Ấn tất nương theo thân nhược, nhưng Mộc Hỏa Thương quan, sanh mùa hạ thì Thủy là bội Ấn, nhuận Thổ sanh Mộc, được trung hòa là tốt đẹp. Như tứ trụ:

114 - Canh Thìn, Nhâm Ngọ, Giáp Thìn, Đinh Mão

Giáp mộc mùa hạ Đinh hỏa như hoa nở, ngày Thìn giờ Mão, thân không nhược, nên mừng gặp Nhâm thủy nhuận trạch, thêm được Canh kim sanh Ấn, 2 Thìn tiết cái táo của hỏa, sanh kim nuôi thủy, phối trí trung hòa, làm thanh Quan sát vậy.

Nhưng nếu Giáp Dần tọa lộc (ngày sinh là Dần), giờ gặp Mão mộc, nhật nguyên lại quá vượng, không thể bội Ấn, nên chỉ quý ít, mà chẳng kể đến bội Ấn là cách đẹp. Nếu như ngày là Kim Thủy thì tất đã mừng gặp hỏa vậy.

Thương quan dụng Tài vốn là quý cách, nhưng dụng Thủy mùa đông, tức là tiểu phú; như lại quá nhiều thủy thì trái ngược không quý, vì nước đá không thể sanh mộc.

Tiếp đoạn trên nói về kim thủy Thương quan. Kim thủy Thương quan, lấy mộc làm Tài, Thương quan sanh Tài, vốn là cách tốt, nhưng mùa đông không có hỏa, thấy Tài cũng không có dụng, vì nước đá không thể sanh mộc vậy. Còn như thủy mộc Thương quan, gặp Tài rất tốt, vì Tài tức là hỏa vậy. Tóm lại lấy điều hậu làm cần kíp. Như Giáp Tý, Bính Tý, Quý Hợi, Ất Mão, thủy mộc là Thương quan dùng Tài, danh lợi đều toàn vẹn; lại như Kỷ Mùi, Ất Hợi, Quý Hợi, Bính Thìn, trụ của Uông Đại Phát, dùng Bính hỏa Tài, cũng là ý điều hậu vậy. Sách có câu, " duy có thủy mộc Thương quan cách, Tài Quan đều mừng gặp thủy ", kỳ thật thủy mộc hỉ Tài, kim thủy hỉ Quan. Nên xét phân biệt cho rõ.

Thương quan dùng Tài, tức là tú khí, như dùng mộc mùa hạ, quý mà rất không đẹp, táo thổ rất không linh tú.

Tiếp đoạn trên nói về mộc thủy Thương quan. Mộc mùa hạ dùng Tài, như Mậu Tuất, Đinh Tị, Giáp Dần, Kỷ Tị, hỏa vượng mộc thiêu, mà tứ trụ không có Ấn, bất đắc lấy lấy thổ tiết khí của hỏa, hành Ấn vận bị thổ hồi khắc, không chỉ chẳng quý, mà cũng khó giàu nổi.

Mộc mùa xuân gặp hỏa, tất là mộc thông minh, nhưng mộc mùa hạ không thể luận như thế; kim mùa thu gặp thủy, tất là kim thủy tương hàm, nhưng kim mùa đông không thể luận như thế. Khí có suy vượng, nên chọn lấy dụng thần cũng khác nhau vậy. Xuân mộc gặp hỏa, mộc hỏa thông minh, gặp Quan bất lợi; nhưng kim mùa thu gặp thủy, kim thủy tương hàm, gặp Quan chẳng ngại. Giả như Canh sanh tháng tháng Thân, mà chi có Tý hoặc Thìn, hội thành thủy cục, thiên can thấu ra Đinh, lấy làm Quan tinh, cốt yếu Nhâm Quý không nên thấu lộ can đầu, mới thành quý cách, cùng luận thuyết như Thực thần Thương quan mừng gặp Quan, cũng là đạo điều hậu vậy.

Xuân mộc gặp hỏa, mộc hỏa thông minh; mộc mùa hạ gặp hỏa, hỏa vượng mộc thiêu; kim mùa thu gặp thủy, kim thủy tương hàm; kim mùa đông gặp thủy, thủy ngập kim chìm. Ấy là vì khí hậu suy vượng khác nhau, không thể cứ luận theo 1 kiểu. Mộc mùa hạ kim mùa đông, là chân Thương quan, chẳng đẹp bằng giả Thương quan hĩ. Mộc mùa xuân gặp hỏa thấy Quan, như Giáp Thân, Bính Dần, Giáp Thân, Canh Ngọ, mộc non kim cứng, Canh kim thông căn ở Thân, tất nên lấy Bính hỏa chế Canh làm dụng, nhờ đó có thể cứu mẹ. Như Canh kim khinh mà lại không có căn, tất bỏ đi không thể dùng, như Mậu Dần, Giáp Dần, Giáp Dần, Canh Ngọ, trái lại thành quý. Canh sanh tháng Thân mà hợp thủy cục, là kim thủy Thương quan giả, mừng thấy Quan tinh, cũng giống như kim mùa đông là Thương quan thật vậy. Nhâm Quý thấu lộ tất Thương hại Quan tinh, bất luận thu đông, đều cùng là kị.

Thực thần tuy gặp Chánh ấn, cũng là đoạt Thực, nhưng mộc mùa hạ hỏa thịnh, dùng ít thì tú nên quý, cũng luận giống như mộc hỏa Thương quan mừng gặp thủy, cũng cùng là điều hậu vậy.

Thực thần Thương quan cùng loại, Chánh ấn thì đoạt Thực, Thiên ấn thì chế Thương. Cốt yếu can chi không xung đột nhau, tất đều đắc dụng, bát tự như thế sở lấy quý ở chỗ phối trí thích nghi. Như trụ này Giáp Dần, Canh Ngọ, Ất Mão, Bính Tý, Thực khinh bị Ấn xung, Quan khinh không gặp Tài, lại bị Bính khắc, là số mệnh ăn mày vậy.

Những loại như thế nhiều lắm, không cần kể hết, học giả duỗi ra co vào, định thần tự nhiên sáng tỏ.

Xem phép biến hóa ở trên, có thể biết dụng thần cho đến phụ tá, quan trọng 1 là ngày chủ có mong hợp không. Như có thể hợp, gặp Thương quan chẳng ngại; cốt yếu không hợp, Tài Quan đều là vật có hại. Như có 2 thần thành tượng, như thủy hỏa trì đối nhau, không thể không lấy mộc điều hòa, như tứ trụ không mộc, tất phải đợi vận mộc, đắp đầy chỗ khuyết, mới có thể phát tích. Lấy mộc là chủ yếu như vậy gọi là thông quan. Ấy là chọn dụng ở bên ngoài tứ trụ, rất là kì lạ.

Phàm bát tự tất lấy trong hòa làm quý, thiên vượng 1 phương, như không có thần điều tể, tuy thành cách thành cục, cũng không tốt đẹp. Như

115 - Mậu Tuất, Kỷ Mùi, Mậu Tuất, Bính Thìn

là cách Giá sắc, tiếc là Thìn bị Tuất xung, hỏa thổ thiên táo, khí chẳng trung hòa, Tân kim trong Tuất không thể dẫn xuất, con cái khó khăn, khó mà phú quý nữa. Vận lấy đất kim làm tốt đẹp, vận tới đất Tài, nguyên cục không Thực thương được hóa, quần Kiếp tranh Tài, mất. Là trụ đứa cháu của tôi, cho thấy điều hậu rất đỗi trọng yếu vậy.

VULONG
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 707
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: Tử bình chân thuyên bình chú

Gửi bài gửi bởi VULONG » 07:06, 24/01/14

Chương 15 : Luận tướng thần khẩn yếu (hỷ thân)
.
Nguyệt lệnh đã có dụng thần, thì ở ngôi vị khác tất có tướng, như vua có tướng phò giúp vậy. Như Quan gặp Tài sanh, tất Quan là dụng, Tài là tướng; Tài vượng sanh Quan, tất Tài là dụng, Quan là tướng; Sát gặp Thực chế, tất Sát là dụng, Thực là tướng. Tuy phép nhất định mà thông biến kỳ diệu. Nói tóm lại, phàm cách toàn cục nhờ 1 chữ mà thành vậy, như vua nên có tướng vậy.

Tướng thần còn gọi là hỉ thần. Tài Quan Thực Ấn, giúp đỡ qua lại là dụng, tất phải có chủ, chủ là dụng, giúp cho chủ là tướng. Trong "Tam mệnh thông hội" xem Chánh quan cách, gặp Quan xét Tài, lấy Tài làm dẫn lộ, nghĩa là lấy Tài làm tướng vậy; nếu lấy Ấn hộ vệ, tức lấy Ấn làm tướng vậy; Chánh tài cách nên gặp Tài đón Quan, lấy Thực làm dẫn, tức lấy Quan lẫn Thực làm tướng vậy. Không Tài và Ấn, không thể dùng Quan; không Quan hoặc Thực, không thể dùng Tài, toàn cục thành cách là thế. Suy ra, phàm lấy cứu ứng toàn cục để thành cách, đều nhờ tướng hỉ vậy.

Tổn thương dụng thần tức là tổn thương thân, tổn thương tướng chính là tổn thương dụng thần. Như Giáp dùng Dậu Quan, thấu Đinh gặp Nhâm, tất hợp Thương giữ lại Quan để thành cách vậy, toàn là nhờ ở Nhâm giúp; Mậu dùng Tý Tài, thấu Giáp và Kỷ, tất hợp Sát giữ lại Tài để thành cách vậy, toàn là nhờ ở Kỷ giúp; Ất dùng Dậu Sát, năm Đinh tháng Quý, giờ gặp Mậu, tất hợp mất Ấn Quý khiến Đinh có thể chế Sát vậy, toàn là nhờ ở Mậu giúp.

Tiết “Thành bại cứu ứng” viết: "Trong thành có bại, tất nhiên là kị; trong bại mà thành, toàn là nhờ cứu ứng ", thần cứu ứng tức là tướng thần vậy. Hợp mất kị thần là do tướng, chế hóa kị thần cũng là tướng. Như Giáp dùng Dậu Quan, gặp Đinh là Thương, thấu Nhâm hợp Đinh, thấu Quý chế Đinh, hợp Thương hay chế Thương, đều là trừ cái kị để thành cách, đều là tướng hỉ. Mậu dùng Tý Tài, như có Kỷ kiếp tranh Tài, can thấu Canh Tân Thực Thương hóa Kiếp để sanh Tài, đấy là công lao của tướng . Trên đây đã luận thiên can là tướng.

Quý sanh tháng Hợi, thấu Bính là Tài, Tài gặp nguyệt kiếp (bản khí của Hợi là Nhâm), thêm Mão Mùi tới hội, tất hóa thủy ra mộc mà chuyển Kiếp để sanh Tài vậy, đấy là nhờ ở Mão Mùi là tướng hỉ thần. Canh sanh tháng Thân, thấu Quý tiết khí, không thông nguyệt lệnh nên kim khí chẳng ứng nghiệm, nếu có Tý Thìn hội cục, tất hóa kim ra thủy mà thành kim thủy tương hàm vậy, chính nhờ ở Tý Thìn là tướng. Các loại như thế, đều chủ yếu dùng tướng thần vậy.

Như thế là cứu ứng bằng địa chi, tam hợp, lục hợp cùng 1 công dụng. Như Quý sanh tháng Hợi, không gặp Mão Mùi mà gặp Dần, tất Dần Hợi hóa mộc, chuyển ra sanh Tài, cũng là tướng vậy. Có khi lấy hội hợp giải xung làm cứu ứng, như Canh dùng Ngọ Quan, gặp Tý xung cách Sửu, tất Tý Sửu hợp mà giải xung, Quan cách thành, thế là dùng Sửu làm tướng. Gặp Dần Mão, tất thủy sanh mộc, mộc sanh Ngọ hỏa để giải xung, tất Dần Mão cũng là tướng vậy. Có khi Giáp dùng Dậu Quan, gặp Ngọ là Thương, được Tý xung mất Ngọ nên Quan cách thành, Tý là tướng. Thiên biến vạn hóa, cốt yếu tùy ở phối trí của cục. Đó là đã luận địa chi là tướng hỉ thần của bát tự.

Tướng thần không gặp phá, quý cách thành công; tướng thần bị thương, cách bị bại ngay. Như Giáp dùng Dậu Quan, thấu Đinh gặp Quý Ấn, chế Thương để hộ Quan, như lại gặp Mậu, Quý hợp Mậu không thể chế Đinh, tướng thần Quý thủy bị thương; Đinh dùng Dậu Tài, thấu Quý gặp Kỷ, Thực chế Sát để sanh Tài, như lại thấu Giáp, Kỷ hợp Giáp nên không chế Quý, tướng là Kỷ thổ bị thương. Như thế đều là có tình mà hóa ra vô tình, cách hữu dụng mà biến thành vô dụng vậy.

Phần trên đã nói cách thành mà trở nên bại, tất là đới kị, gặp kị mà lại không có thần cứu ứng, vậy là phá cách, hoặc thần cứu ứng bị thương, cũng là phá cách, gọi là tướng thần bị thương vậy. Giáp dùng Dậu Quan, thấu Đinh gặp Quý, Quý là ấn, chế Thương hộ Quan, làthần cứu ứng vậy, như lại gặp hợp Quý, tất thần cứu ứng bị thương. Không riêng thiên can như thế, địa chi cũng vậy. Như tiết trước Quý sanh tháng Hợi, thấu Bính là Tài, Tài gặp tháng Kiếp, gặp Mão tới hội, hoặc gặp Dần tới hợp, tất hóa Kiếp ra Tài mà thành cách; như Mão gặp Dậu xung, Dần gặp Thân xung, tất Dần Mão là hỷ thần bị thương thành ra phá cách. (Xem thêm tiết “Dụng thần biến hóa cùng thành bại cứu ứng”).

Phàm khi an định bát tự, tất chỉ có 1 loại nghị luận, 1 loại tác dụng, 1 loại dụng khí, tùy địa thế mà thay hình, không nên nghĩ nông cạn, người học mệnh không nên sao nhãng.

Phàm xem bát tự, tất xét toàn cục, cái nào là dụng, cái nào là tướng, chỉ có 1 loại lý luận, dụng thần tất cốt yếu nên hợp nhật nguyên hay không, tướng thần cốt yếu có nên hợp dụng thần hay không. Phân cho minh bạch, tự sẽ thấy lý nhất định bất dịch vậy. Thí dụ như sau:

116 - Mậu Tuất / Giáp Tý / Kỷ Tị / Mậu Thìn

Hành vận: Ất sửu / bính dần / đinh mão / mậu thìn / kỷ tị / canh ngọ / tân mùi

Nguyệt lệnh Thiên tài, là Tài của ta, vốn đáng lấy Tài là dụng, tiếc là sanh tháng 11, thủy hàn thổ đóng băng, điều hậu là cấp yếu, lấy Bính hỏa trong Tị làm dụng thần vậy. Hiềm vì Tỷ kiếp trùng trùng, tranh Tài là bệnh, Giáp mộc Quan tinh chế trụ Tỷ kiếp, khiến quần Kiếp không thể tranh Tài, kiêm sanh Bính hỏa nên Giáp mộc là tướng thần vậy. Vận hành đất mộc hỏa, phú quý kiêm toàn. Xem thêm thiên “Tinh thần”.


Chương 16 : Luận tạp khí như hà thủ dụng

Tứ mộ đều chứa tạp khí. Tại sao gọi là tạp khí? Ấy là vì tàng chứa nhiều, dụng thần bất nhất, nói là tạp khí vậy. Như Thìn vốn tàng Mậu, Thìn lại là thủy khố, Ất dư khí, cả 3 đều có, nên chọn dùng cái nào? Rất đơn giản, chọn cái thấu ra can trở thành thanh (rõ ràng) mà dùng, tạp mà chẳng tạp vậy.

Kim mộc thủy hỏa, đều vượng 1 phương, thổ ở trung ương, không lúc nào không vượng, gửi ở 4 góc, 4 tháng Thìn Tuất Sửu Mùi, đều vượng 18 ngày. Tại sao đều là tạp khí? 12 chi trừ Tý Ngọ Mão Dậu khí chuyên ra, Dần Thân Tị Hợi và Thìn Tuất Sửu Mùi đều tàng 3 can. Do tàng nhiều ít, vốn là tạp, riêng khí tàng trong Dần Thân Tị Hợi, chính là sanh khí và đương vượng khí, trường sanh lộc vượng, khí thế tương thông, so với tàng của Thìn Tuất Sửu Mùi thì không giống. Như Thìn tàng Mậu vốn là bản khí, trong 18 ngày đầu, Ất còn dư khí, thủy là mộ khố, ý nghĩa hiệu dụng khác biệt, nên nói là tạp. Phép chọn dụng thần, như can đầu thấu ra, chi Thìn hội thành cục, tất nhờ thấu ở can, hội thành cục là dụng, vì hễ thấu tất dụng rõ ràng, hội tất lực mạnh vậy. Không thấu chẳng hội, tất lấy thổ luận, vì vật tàng gửi mà không nắm lệnh, lực lượng nhược, không thể dùng vậy. Lại như Thìn Sửu là thấp thổ, Tuất Mùi là táo thổ, cách dùng khác biệt, cũng không thể dùng bao quát tóm tắt.

Nguyên văn: Thấu can là sao? Như Giáp sanh tháng Thìn, thấu Mậu tất dụng Thiên tài, thấu Quý tất dụng Chánh ấn, thấu Ất tất dụng Nguyệt Kiếp là thế. Hội là sao? Như Giáp sanh tháng Thìn, gặp Thân Tý hội cục (tam hợp Thủy), tất dụng thủy Ấn vậy. Chỉ thấu 1 tất dụng 1, kiêm thấu tất kiêm dụng, thấu mà lại hội, tất thấu và hội đều dụng. Như hợp mà có tình là tốt, hợp mà vô tình tất xấu.
Thấu can là thiên can trong các chi tàng lộ ra. Bát tự phàm tàng trong chi, tất nên thấu ra can; muốn dụng thiên can, tất nên thông căn. Tích thiên tủy viết: "Thiên toàn nhất khí, bất khả sử địa đức mạc chi tái; địa toàn tam vật, bất khả sử thiên đạo mạc chi dung." Tam vật tức là 3 can tàng trong chi vậy. Thấu ở can, tức là có thể dung thiên đạo (lộ diện); thiên can thông căn, tức là có thể tải địa đức vậy (lộ khí). Thí dụ như Thìn thổ thấu Mậu, là khí đương vượng, không cần phải nói, Ất Quý tuy lực lượng chẳng đủ, nhưng nếu thấu ra can, tác dụng sẽ hiển hiện. Hội chi là ví như chi Thìn hội với Tý Thân tất hóa thủy, hợp Dậu tất hóa kim. Hội hợp thành cục, khí thế cường thịnh, bất luận là hỉ hay kị, đã thấu can hội chi, tất không thể bỏ qua. Hỉ tất là có tình nên cát, kị tất là vô tình nên hung.

Có tình là sao? Thuận mà thành cách rõ ràng vậy. Như Giáp sanh tháng Thìn, thấu Quý là Ấn, như lại hội Tý hội Thân để thành cục, cách Ấn thụ, thanh mà chẳng tạp, nhờ thấu can và hội chi, hợp nên có tình vậy. Lại như Bính sanh tháng Thìn, thấu Quý là Quan, như lại gặp Ất là Ấn, Quan Ấn tương sanh, mà Ấn lại có thể khử ám thổ trong Thìn trở thành "thanh quan" (quan thanh liêm) (đó là nói Ất khắc Mậu), nhờ cả 2 can đều thấu, hợp nên có tình vậy. Lại như Giáp sanh tháng Sửu, thấu Tân là Quan, hoặc hội Tị Dậu thành kim cục, như lại thấu Kỷ Tài sanh Quan, Tài Quan cả 2 can đều thấu, gặp hội hợp nên có tình vậy.

Thế nên chuyên luận can chi thấu là có tình hay vô tình, không nói toàn cục là hỉ hay kị vậy. Như Giáp sanh tháng Thìn, nguyệt lệnh Thiên tài thấu Quý, như lại hội Tý hội Thân, tất Tài hóa ra Ấn, thành Ấn thụ cách. Thân cường Ấn vượng, hoặc lấy Thực thương (Bính Đinh) để tiết tú, hoặc lấy Tài tinh (Mậu Kỷ) để tổn Ấn (nhưng trên can giờ nếu có Tài tinh, Thìn thổ đã hội hợp hóa thủy cục, không thể lấy Tài để tổn Ấn). Thực thương với Tài, là tương thần ở trên, lại trở thành cách cục, không nhờ can thấu chi hội, làm sao dùng được như vậy. Bính sanh tháng Thìn, Quý Ất đều thấu, Quan Ấn tương sanh là có tình. Thân cường lấy Quan là dụng, riêng lấy Tài sanh Quan; thân nhược lấy Ấn là dụng, tức lấy Ấn hóa Quan, Giáp sanh tháng Sửu cũng thế. Tuy kiêm dụng, tất nên chú trọng, xem hỉ kị toàn cục, mới định được cốt yếu của nhật nguyên.

Vô tình là sao? Là trái ngược lại. Như Nhâm sanh tháng Mùi, thấu Kỷ là Quan, như địa chi lại hội Hợi Mão trở thành Thương quan cục, thế là Quan thấu và chi hội, bị hợp mà trở nên vô tình vậy. Lại như Giáp sanh tháng Thìn, thấu Mậu là Tài, lại thấu Nhâm hoặc Quý là Ấn, thấu Quý tất Mậu Quý tác hợp, Tài Ấn đều mất, thấu Nhâm tất Tài Ấn đều bị thương, lại tham Tài hại Ấn, thế là 2 can đều thấu, hợp mà vô tình vậy. Lại như Giáp sanh tháng Tuất, thấu Tân là Quan, như lại thấu Đinh Thương quan, chi tháng lại hội Dần hội Ngọ trở thành Thương quan cục, thế là 2 can đều thấu, với chi hội hợp vô tình vậy.

Hợp mà vô tình, tức là gặp kị, trong cục lại không có cứu ứng, tất là bại cách. Như Nhâm sanh tháng Mùi, can thấu Quan mà chi hội Thương, trụ có trọng Ấn, chế Thương để hộ Quan, hoặc thân vượng có Tài, hóa Thương để sanh Quan, đều gọi là cứu ứng vậy. Giáp sanh tháng Thìn, Nhâm Mậu là Tài Ấn đều thấu, như Tài Ấn chia ra ở năm giờ, cách bởi Quan, Quan hóa Tài sanh Ấn, cách bởi Kiếp, chế Tài hộ Ấn, hoặc cách bởi Đinh hỏa Thương quan, hợp mất Ấn để tựu Tài, đều gọi là cứu ứng vậy. Giáp sanh tháng Tuất cũng thế. Như không có cứu ứng, là bại cách, cục bần tiện vậy.

Lại hữu tình mà rốt cuộc trở thành vô tình, là sao? Như Giáp sanh tháng Thìn, gặp Nhâm là Thiên Ấn, như lại gặp Bính, Ấn thụ vốn là hỉ, tiết thân là tú, tự thành cách hĩ, nhưng hỏa sanh thổ, lại tự giúp Mậu trong Thìn, Ấn cách chẳng thanh, như can Nhâm thấu mà chi lại hội Thân hội Tý, tất Bính thấu cũng không ngại. Lại như Giáp sanh tháng Thìn, thấu Nhâm là Ấn, tuy không lộ Bính nhưng chi gặp ngôi Tuất, Tuất với Thìn xung, tháng xung nên thổ động, can Nhâm khó thông nguyệt lệnh, Ấn cách chẳng thành, thế là đều có tình mà rốt cuộc vô tình, phú mà chẳng quý vậy.

Có tình mà rốt cuộc vô tình, nên xem địa chi phối trí như thế nào. Như Giáp sanh tháng Thìn, mà năm Bính tháng Nhâm Thìn, tất Bính hỏa bị Nhâm thủy chế, không thể tiết Giáp mộc cho đẹp. Như là ngày Giáp giờ Bính Dần, Bính cùng với Thìn thổ cách nhau, tất Bính hỏa tiết tú mà không thể sanh Thìn thổ vậy. Hội Thân hội Tý, tất Ấn cách thanh, nhưng không thể dùng Bính tiết tú, nhưng nên xem kỹ ngôi vị, 1 ví dụ không kể hết vậy. Nhâm tự thấu Thìn, thủy phò lộ, không thể là dụng, thế là Ấn cách thành mà chẳng thành, phú mà chẳng quý vậy. Thế là trọc mà chẳng thanh, nếu không dùng Ấn tức khả lấy phú cách là vậy.

Lại có khi vô tình mà kết cục trở thành hữu tình, là sao? Như Quý sanh tháng Thìn, thấu Mậu là Quan, lại hội Thân hội Tý trở thành thủy cục, can thấu với chi hội khắc nhau. Nhưng Kiếp bị khắc, ví như Nguyệt Kiếp dùng Quan, hà thương chi có? Lại như Bính sanh tháng Thìn, thấu Mậu là Thực, như lại thấu Nhâm là Sát, thế là 2 can đều thấu, mà tương khắc vậy. Nhưng khắc Thiên quan, ví như Thực thần đới Sát, Sát gặp Thực chế, cả 2 đều là cách tốt, cục như thế càng quý. Thế là đều vô tình mà kết cục trở thành có tình vậy.

Vô tình mà kết cục trở thành có tình, chính nhờ tương khắc mà thành vậy. Nguyên văn rất rõ, chuyên dùng Quan thì Quan nên vượng; như dùng Tài để sinh Quan và nên thấu ra can, lại không nên bị Tỷ kiếp đoạt; hoặc nên có Thực để hóa Kiếp, cùng 1 kiểu với "Nguyệt kiếp dụng Quan". Bính sanh tháng Thìn, Mậu Nhâm đều thấu, tất Mậu cường mà Nhâm nhược vì Mậu là khí đang vượng. Nhâm Sát nên có Tài sanh, Ấn hóa mới có thể dùng (Sát), so với cách "Thực thần đới Sát, Sát gặp Thực chế" cùng loại. Như Từ Nhạc Ngô: Bính Tuất, Nhâm Thìn, Bính Thân, Bính Thân, Nhâm thủy trong Thìn thấu ra, lấy Ất mộc trong Thìn hóa Sát là dụng vậy (Sanh sau Thanh minh 1 ngày ất mộc nắm lệnh, nên khả dụng).

Đại loại như thế, không thể kể hết, ví dụ là như thế, coi lấy để mà ngộ.


VULONG
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 707
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: Tử bình chân thuyên bình chú

Gửi bài gửi bởi VULONG » 07:08, 24/01/14

Chương 17 : Luận mộ khố hình xung chi thuyết
.
Thìn Tuất Sửu Mùi mừng gặp hình xung, Tài Quan nhập khố không xung chẳng phát, tuy rất nhiều tục thư theo thuyết ấy, nhưng tiên sanh Tử Bình lập mệnh không nói như vậy. Như tạp khí thấu can hội chi, chẳng phải tốt lắm sao? Cớ chi phải cần hình xung? Như Giáp sanh tháng Thìn, Mậu thổ thấu ra không phải Thiên tài sao? Thân Tý hội không phải Ấn thụ sao? Còn như Mậu thổ không thấu, mà Thìn Tuất xung nhau, Tài cách do thế mà chẳng được thanh vậy. Hoặc như thấu Nhâm là Ấn, có Thìn Tuất xung nhau, khiến Ấn bị lụy, sao lại có thể là xung khai Ấn khố?

Thuyết Tài Quan nhập khố không xung không phát rất là sai lầm. Xung là khắc, khắc là khử bỏ mất. Nhưng Thìn Tuất Sửu Mùi đều thuộc thổ, hình xung cùng khí nên không ngại lắm. Ta còn ngờ rằng vì hình xung mà tổn cách phá dụng, như hội hợp mà thế cường, các chi đều như thế, tạp khí sao lại khác? Giáp sanh tháng Thìn, thấu Nhâm là Thiên Ấn, Thìn là gốc của Nhâm thủy, nếu bị Tuất xung tất bật gốc, không thể không có hại, sao có thể nhờ xung mà phát được? Rõ là tục thuyết không có căn cứ vậy.

Huống hồ trong tứ khố, tuy ngũ hành đều có, nhưng rốt cuộc đều lấy thổ là chủ. Thổ xung tất ứng nghiệm, còn kim mộc thủy hỏa, sao nói lấy xung 4 khố để động? Có câu Tài Quan đều thuộc thổ, xung tất khố mở ra, như Giáp dùng Mậu Tài mà gặp Thìn Tuất xung, Nhâm dùng Kỷ Quan mà được Sửu Mùi xung đại loại như thế. Nhưng rốt cuộc lấy can Mậu Kỷ thấu ra rõ ràng là dụng, can đã thấu, tức không xung thì cũng đắc dụng rồi. Hoặc như Tài Quan là thủy, xung tất thành phiền não, như Kỷ sanh tháng Thìn, Nhâm thấu là Tài, Tuất xung tất Mậu Kiếp động, có ích chi chứ? Đinh sanh tháng Thìn, thấu Nhâm là Quan, Tuất xung tất Mậu Thương quan động, sao lại không hại? Như thế thì gặp xung mà Tài khố Quan khố của Nhâm thủy có mở ra đâu?

Tài Quan thuộc thổ, xung tất khố mở ra, cũng là tục thuyết. Nên nhớ Giáp sanh tháng Thìn, chỉ có thủy là gặp khố (Nhâm dương thủy), Mậu thổ là bản khí, Ất mộc là dư khí, đều không phải khố. Như thổ là dụng, xung tất thổ động, sao có thể không sợ? Lấy Ất mộc là dụng, nếu xung tất Tân kim trong Tuất trổi dậy khắc mộc, cũng là chuyện chẳng tốt; như thủy mộc thấu can, tất gốc rễ bị tổn, không thấu tất vốn là không thể dùng, xung hay không có quan hệ chi?

Người thời nay chẳng biết lý ấy, thậm chí lấy xuất khố cho là nhập khố. Như Đinh sanh tháng Thìn, Quan Nhâm thấu can, không kể là Nhâm trong khố, thấu ra can, mà lại nói ngược là Nhâm can gặp Thìn là nhập khố nên cầu mong Tuất để xung, há chẳng thấy là Quan sẽ bị thương ư? Thật là đáng cười, nếu nguyệt lệnh chẳng là tứ mộ, dụng thần khác biệt (ý nói khác biệt với lệnh tháng là Tứ Khố), trong năm tháng ngày giờ có 1 can gặp mộ, mới mong cầu hình xung; còn ngày lâm tứ khố lại không kể là thân đóng khố có gốc (rất quý), lại đi cho là thân chủ nhập khố và đi cầu xung để giải! Các loại lý luận ấy đều là sai lầm, chớ nên nghe theo.

Thuyết đầu khố nhập khố đều do người thuật lại mà không chịu giảng rõ nguyên lý, nên nghe sai lại truyền đi sai vậy. Kỷ dùng Nhâm là Tài gặp Thìn tất thủy dừng lại không chảy nữa, gọi là Tài quy khố; Đinh dụng Nhâm là Quan, gặp Thìn là Quan đầu mộ. Cũng có khi lấy quy khố đầu mộ là cát, gặp xung phản là bất lợi, cho dù không phải là mộ khố, cũng đương cầu dẫn hóa ở phương (tam hội), không phải hình xung là có thể giải vậy. Thảng hoặc mộ khố tại chi năm ngày giờ, có hội hợp tất lấy ngũ hành của hội hợp để luận (như Thìn hội Tý lấy thủy mà luận, Tuất hội Ngọ lấy hỏa mà luận). Như khí hội đủ cả 1 phương, tất lấy ngũ hành của phương hội đó mà luận (như Thìn hội Dần Mão lấy mộc mà luận, Tuất hội Thân Dậu lấy kim mà luận). Không hội hợp liên tiếp, tất lấy thổ luận. Ngày lâm khố, như Nhâm Thìn, Bính Tuất đều có thân thông căn khố. Còn như Bính Thìn, Nhâm Tuất, tức chẳng là khố của thân vậy (vì Bính mộ Tuất, không phải ở Thìn; Nhâm mộ ở Thìn, không phải ở Tuất).

Nhưng cũng có khi gặp xung mới phát, là sao? Như Quan tối kị xung, nhưng Quý sanh tháng Thìn, thấu Mậu là Quan, Thìn với Tuất xung nhau, không gặp phá cách, tứ khố mừng được xung, như thế cũng đủ dụng. Tý Ngọ Mão Dậu là cừu địch nhau, xung ấy là xung khắc, còn như tứ mộ thổ tự xung nhau, xung ấy là xung động, chẳng phải là xung khắc vậy. Như đã lấy thổ là Quan, có hại chi đâu?

Quý sanh tháng Thìn, thấu Mậu thổ Quan tinh, gặp xung chẳng phá cách vậy, tức vì Thìn Tuất cùng 1 khí, nên nói chẳng ngại lắm, xung chẳng nên mừng là khi Dần Thân Tị Hợi xung nhau là tối kị, ấy vì là sanh địa của ngũ hành bị xung vậy. Tý Ngọ Mão Dậu xung nhau, có thành có bại, tất lấy cả 4 đều là bại địa, cũng là vượng địa. Kị bị xung mất là thành, hỉ gặp xung là bại, còn như xung mộ khố thì không đáng ngại lắm. Nhưng cũng nên chú ý, xem dùng nhân nguyên thế nào. Như Ất mộc trong Thìn, 10 ngày sau Thanh minh, do Ất mộc dư khí còn vượng, tất trước chọn Ất mộc là dụng, trường hợp này bị xung tất có không có quan hệ gì.

Nguyên văn: Nên nói tứ mộ tuy chẳng kị hình xung, nhưng hình xung chưa chắc đã thành cách. Lý ấy rất rõ, nghe phải hiểu.

Tứ mộ tuy chẳng kị hình xung, nhưng gặp hình xung chưa chắc đã thành cách. Chỉ có 12 chữ mà rất đổi tinh vi, người đọc nên chú ý.


Chương 18 : Luận tứ cát thần năng phá cách

Tài Quan Ấn Thực, là 4 cát thần, nhưng cũng có khi không thể dùng, mà lại cũng có thể phá cách.
Quan sát Tài Ấn Thực thương, chỉ là những đại danh từ dựa theo ngũ hành sanh khắc, chỉ là nói cho gọn, không ngoài ý nghĩa cương nhu tương phối, nên tên gọi tuy có thiên chánh, chẳng có gọi là cát hay hung vậy. Cốt yếu ở chỗ hợp với ta, tức là cát, không hợp, tức là hung. Thành cách phá cách, cho tới hỉ kị, không ngằm ở tên gọi vậy. Xem kỹ chương thành bại cứu ứng.

Như Thực thần đới Sát, thấu Tài là hại, Tài có thể phá cách vậy; xuân mộc hỏa vượng, gặp Quan tất kị, Quan có thể phá cách vậy; Sát gặp Thực chế, thấu Ân không có công, Ấn có thể phá cách vậy; Tài vượng sanh Quan, lộ Thực tất tạp, Thực có thể phá cách vậy.
Thực thần đới Sát, lấy Thực chế Sát là dụng. Gặp Tài tất Thực sanh Tài theo giúp Sát, là phá cách, như không đới Sát, tất Thực thần cách mừng gặp tài hĩ. Xuân mộc hỏa vượng, là mộc hỏa Thương quan, gặp Quan phá cách. Sát gặp Thực chế, gặp Ấn đoạt Thực, Tài vượng sanh Quan, gặp Thực tất thương khắc Quan tinh, thảy đều là phá cách.
Cho nên nói Quan là dụng thì Thực là phá, Ấn là dụng thì Tài là phá. Ví như dùng thuốc, linh sâm vốn là thuốc bổ, dùng sai cũng có thể hại người. Quan kị Thực thương, Tài sợ Tỷ kiếp, Ấn sợ Tài phá, Thực sợ Ấn đoạt, tham hợp thác tống, đều rất kỳ diệu. Nhược thì lấy sanh phò là hỉ, cường gặp sanh phò trở thành hại; suy thì lấy Tài ức chế là kị, quá vượng thì Tài ức chế trở thành có ích. Cát hung hỉ kị, toàn coi ở hợp hay không, chứ không vì tên gọi có phân biệt vậy.

Chương 19 : Luận tứ hung thần năng thành cách
.
Sát Thương Kiêu Nhận, là 4 hung thần, nhưng có khi gặp được, cũng có thể thành cách. Như Ấn thụ căn khinh, thấu Sát là trợ, Sát có thể thành cách vậy. Tài gặp Tỷ kiếp, Thương quan có thể giải, Thương có thể thành cách vậy. Thực thần đới Sát, Kiêu thần đắc dụng, Kiêu có thể thành cách vậy. Tài gặp thất Sát, Nhận có thể giải ách, Nhận có thể thành cách vậy.

4 hung thần có thể thành cách là, khi lấy Sát Thương Kiêu Nhận là tương thần vậy. Ấn khinh thấu Sát, lấy Sát sanh Ấn mà thành cách. Tài gặp Kiếp đoạt, lấy Thương hóa Kiếp mà thành cách. Thực thần đới Sát, lấy Kiêu chế Thực hóa Sát mà thành cách. Tài gặp Thất sát, lấy Nhận phân Tài chống đỡ sát mà thành cách. Cốt yếu hợp với ta, đều có thể lấy làm trợ giúp vậy.

Cho nên nói Tài không sợ Thương, Quan không sợ Kiêu, Sát không sợ Nhận, như phép trị nước thì thương dài kích lớn, vốn không phải là dụng cụ tốt, nhưng khéo dùng dẹp yên loạn lạc.

Tài nên có gốc sâu, rất nên gặp Thực thương tương sanh; Quan nên có Ấn hộ, Kiêu ấn cùng công; Kiếp nhận quá vượng thì gặp Quan sát đều tốt. Dùng thích hợp, đều là giúp cho ta, há vì cái tên gọi mà có phân biệt chứ !



Chương 20 : Luận sanh khắc tiên hậu phân cát hung
.
Nguyệt lệnh dụng thần, phối với tứ trụ, mỗi 1 chữ lấy sanh khắc mà chia ra cát hung, nhưng có khi cùng là sanh khắc, mà đóng ở trước hay sau cũng chia ra cát hung nữa, mệnh thật là áo diệu vậy.

Địa vị trước hay sau, rất là khẩn yếu, có khi cùng 1 bát tự, mà ở chỗ này là cát, ở chỗ kia là hung, ở chỗ này có thể dùng, ở chỗ kia không thể dùng, nghèo giàu, sang hèn, thọ yểu tuyệt nhiên bất đồng. Biến hóa vô định, chẳng có công thức để mà thuyết minh. Toàn ở sanh khắc chế hóa, như nói Quan kị Thương, Ấn kị Tài, đều là áp dụng 1 cách ngu ngốc, cốt ở trình tự trước sau, tất theo hoạt pháp. Ngốc pháp nói được, mà hoạt pháp không có gì để nói, người còn thần minh, học giả lấy thực tập mà tự ngộ. Như trụ của tôi: Bính Tuất, Nhâm Thìn, Bính Thân, Bính Thân, sanh sau Thanh minh 1 ngày, Ất mộc dư khí còn dùng được, lấy Ấn hóa Sát (xem " mệnh giám "), năm nay đã tới tuổi tri mệnh, như sanh 20 ngày sau Thanh minh, thổ vượng thì không luận dụng thần như vậy. Em họ tôi, là Bính Tuất, Bính Thân, Bính Thân, Nhâm Thìn, bát tự hoàn toàn như nhau, nhưng sanh tháng 7, Ất mộc hưu tù, không thể là dụng, lấy Tài gánh sát công thân, thanh niên chết yểu. Ấy là 1 ví dụ.

Như Chánh quan cùng gặp Tài Thương đều thấu, mà trước sau có khác nhau. Như Giáp dụng Dậu Quan, Đinh trước Mậu sau, tất lấy Tài hóa giải Thương, tức tuy không thể quý, nhưng hậu vận tất có kết cục. Nhược Mậu trước mà Đinh sau ở giờ thì, tất là Quan gặp Tài sanh, nhưng vì về sau bị thương phá, tức thuận theo vận trên thì, về sau chẳng có kết cục, con cháu khó khăn.

Chánh quan cách gặp Thương, thấu Tài được giải. Nhưng cũng có khi không giải nổi, là vì trình tự trước sau có khác biệt vậy.

117 - Đinh niên / Kỷ Dậu / Giáp nhật / Mậu Thìn

Tài vượng sanh Quan, Thương quan tiết khí ở Tài, Quan tinh không hề tổn chút nào. Như thay đổi ngôi vị, như ví dụ sau:

118 - Mậu niên / Tân Dậu / Giáp Thìn / Đinh Mão

Tức là tài sanh Quan mà gặp phải thương phá vậy. Lại cũng có khi tuy là Đinh trước Mậu sau, mà cũng không giải nổi, như:

119 - Tân niên / Đinh Dậu / Giáp Ngọ / Mậu Thìn

Tân kim thấu xuất ở năm, Dậu kim trùm đầu Đinh hỏa, tuy có Mậu thổ ở giờ, cũng không giải nổi, vì hỏa kề cận vậy. Lại như:

120 - Nhâm niên / Kỷ Dậu / Giáp Thìn / Đinh Mão

Tuy đinh hỏa Thương quan tại giờ, lại chẳng hại Quan tinh, nhờ có được Kỷ thổ hóa Thương, Nhâm Ấn hợp Thương nên giải được. Năm Đinh giờ Nhâm cũng vậy.

Lấy tài hóa Thương là như thế, so với lấy Ấn chế Thương hộ Quan, lý như nhau. Như:

121 - Giáp niên / Quý Dậu / Giáp Thìn / Đinh Mão

Đinh hỏa Thương quan, bị Quý Ấn chế, chẳng hại nổi Quan tinh. Như đổi lại là năm Kỷ, tất Ấn bị Tài phá, hỏa lại thành Thương quan hĩ. Lại như:

122 - Quý niên / Tân Dậu / Giáp Thìn / Đinh Mão

Tuy có Quý thủy Ấn, nhưng Đinh hỏa vẫn thương tổn Quan tinh, là vì ngăn cách vậy; Quan tinh gặp trước tiên phải bị thương, Ấn không đủ cứu hộ nổi hĩ.

Ấn cách đều mong có cách khôi Ấn, nhưng trước sau có khác biệt. Như Giáp dụng Tý Ấn, Kỷ trước Quý sau, tức khiến cho không giàu, nhưng về già thuận hơn; nhược Quý trước mà Kỷ sau ở giờ, về già lại khốn khổ hĩ.

Nguyệt lệnh Ấn thụ như gặp Tài tinh, phi tất bất cát, là vì tham Tài khôi Ấn, tất Ấn khinh mà Tài trọng. Nhật nguyên cốt yếu Ấn thụ tư sanh, Ấn bị Tài phá, lại không có Tỷ kiếp cứu ứng (xem phần luận Tài luận Ấn trong chương Tài Ấn tịnh dụng). Đều là khôi Ấn, mà trước sau có khác biệt, giờ là quy túc chi địa. Giờ gặp hỉ thần sanh vượng, về già tất tốt đẹp; giờ gặp kị thần sanh vượng, về già tất khốn khó. Nên nói Giáp dụng Tý Ấn, Kỷ trước Quý sau, thì tuy gặp Tài phá, nhưng được Ấn sanh. Như Quý trước mà Kỷ ở giờ, kết cục là Ấn, bị Tài phá vậy. Cũng nên xem kỹ tứ trụ phối hợp ra sao, như con của Mỗ phú ông ở Chiết Tây, Canh Thân, Mậu Dần, Bính Thân, Ất Mùi, Tài tinh khôi Ấn, tuy Ất Ấn ở giờ, Tài trước Ấn sau, nhưng Ất Canh hóa hợp, đắc khí ở Thân, có cứu ứng mà chẳng giải, như trung niên hậu vận tốt, còn có kết cục, lại hành Tài vận, tất vô thiện quả.

Thực thần đồng thị Tài Kiêu tịnh thấu, nhi trước sau có khác. Như Nhâm dụng Giáp Thực, Canh trước Bính sau, về già tất hanh thông, cách cũng được phú mà không quý. Nhược Bính trước mà canh ở giờ, về già tất đạm bạc, phú quý đều không có hĩ.

Thực thương sanh Tài, lấy Kiêu ấn đoạt Thực chế Thương là bệnh, nhược Ấn ở trước, mà Thực thương sanh Tài ở sau, tất Ấn tư sanh nhật nguyên, nhật nguyên vượng nên tiết tú, giống như Ấn vượng dụng Thực thương (xem chương luận Ấn dụng Thực thương), cách chủ phú quý. Thực thương mừng hành Tài địa, có Tài chế Ấn, Kiêu để hộ Thực thương vậy. Nhược không có Bính Tài, tất là bị bệnh mà chẳng có thuốc vậy. Như Canh Thân, Mậu Dần, Nhâm Tý, Giáp Thìn, Canh kiêu đoạt Thực mà không có Tài để cứu ứng, vận hành Tài địa, tuy tạm bổ cứu 1 chút, hiềm vì nguyên cục không có Tài sanh, tới Thân vận, Canh kim đắc địa, tức khó lòng cứu vãn (xem "Tích thiên tủy" quyển 4 chương chân giả), ấy bởi vì không có Tài nên bệnh vậy. Như Bính trước mà Canh ở giờ, tất thủy tú phát, sau bị Tài đoạt, phú quý đều không, thế lực cùng cực vậy. Như trụ nữ sau:

123 - Đinh Mùi / Nhâm Dần / Ất Mão / Kỷ Mão

Hành vận: Quý mão / giáp thìn / ất tị / bính ngọ / đinh mùi / mậu thân

Ất mộc thân vượng, đinh hỏa tiết tú, lấy Đinh là dụng thần, Nhâm thủy là bệnh, Kỷ thổ chế Nhâm thủy là dược. Tiếc là Đinh Nhâm hợp hóa mộc, khử thủy tuy là tốt, nhưng chẳng nên khử luôn hỏa. Dụng thần tại năm bị tổn, nên nói xuất thân hàn vi. Kỷ thổ ở giờ là cứu cánh, nên nói giúp chồng và gia đình, con nối dõi tốt đẹp. Vận hành nam phương đắc địa, phúc trạch lâu dài. Nam nữ cùng 1 lệ vậy (xem " tích thiên tủy chinh nghĩa " quyển 6 nữ mệnh chương).

Thất sát gặp Tài Thực cùng thấu, nhi trước sau mà khác xa. Như Kỷ sanh tháng Mão, Quý trước Tân sau, tất trước lấy Tài trợ làm dụng, mà sau thì Sát dùng Thực chế, chẳng mất đại quý. Như Tân trước mà Quý ở giờ, tất Sát gặp Thực chế, mà Tài chuyển Thực a dua theo Sát, không chỉ chẳng quý, hậu vận tiêu tác, thêm khó thọ hĩ.

Sát dùng Thực chế là, lấy Sát làm dụng, lấy Thực làm hỷ, thấu Tài là phá cách. Nhưng cách trước sau, nên có khi phá cách mà cũng có khi chẳng phá cách, xem ví dụ sau:

124 - Quý niên / Ất Mão / Kỷ nhật / Tân Mùi

Tuy Tài sanh Sát vượng, nhưng được can giờ Thực thần chế Sát, phú quý chẳng mất. Như đổi là tháng Quý Mão tháng như sau:

125 - Nhâm niên / Quý Mão / Kỷ nhật / Tân Mùi

Đều là Tài trước Thực sau, lại không tránh khỏi Thực thần sanh Tài a dua theo Sát hĩ.

Đến như thực trước tài sau, cách cục đổi khác xa hơn nữa. Như:

126 - Bính Ngọ / Tân Mão / Kỷ Hợi / Quý Dậu

Bính hỏa hợp mất Thực thần, Dậu kim sanh Tài a dua theo Sát, chẳng gặp cứu ứng hĩ. Lấy Thực chế Sát như thế, hay lấy Ấn hóa Sát cũng vậy. Như năm Quý tháng Ất Mão ngày Hỷ giờ Đinh mão, Tài không phá Ấn, Sát tuy trọng nhưng gặp Ấn hóa giải. Như năm Đinh tháng Quý Mão, hoặc năm Giáp Kỷ tháng Đinh Mão mà giờ Quý dậu, đều là Tài phá Ấn để a dua theo Sát vậy.

Đại loại như thế, làm ví dụ minh họa. Cũng do thế mà cát hung thay đổi vậy, Bính sanh tháng Giáp Dần, năm Quý giờ Mậu, Quan sanh Ấn, mà chẳng sợ Mậu hợp; Mậu tiết thân đẹp, lại không thể vượt Giáp để hợp Quý, là đại quý cách vậy. Giả sử năm tháng Mậu Quý mà giờ Giáp, hoặc năm Giáp mà tháng Quý giờ Mậu, tất Mậu không cách chi hợp được với Quý, là đại phá cách hĩ.

Ấy cũng bởi vì ngôi vị có khác nhau, liệt kê ra như sau thì rõ:

127 - Quý niên / Giáp Dần / Bính nhật / Mậu thời
Quan năng sanh ấn, mậu bất năng việt giáp dĩ hiệp quý dã.

Quan sanh Ấn, Mậu không thể vượt Giáp để hợp Quý. Giả sử như hai trụ sau:

128 - Quý niên / Mậu Ngọ / Bính nhật / Giáp Ngọ

129 - Giáp niên / Quý Dậu / Bính nhật / Mậu thời

Trụ 1 được Giáp mộc tách ra, Mậu Quý không thể hợp, mọi thần đều đắc dụng nên thành cách. Trụ 2, 3, Mậu Quý bị hợp, không có Giáp mộc để tách ra, nên phá cách hĩ.

Bính sanh Tân Dậu, năm Quý giờ Kỷ, vì Thương cách bởi Tài, nên Thương vô lực, cách ngôi nên tiểu quý. Giả như sanh Quý Kỷ mà không được Tân ngăn cách, cách cục bị phá nát.

Ấy cũng bởi vì ngôi vị có khác nhau, liệt kê ra như sau:

130 - Quý niên / Tân Dậu / Bính nhật / Kỷ thời

Bính hỏa nhật nguyên, lấy Quý làm quan, lấy kỷ làm Thương, được Tân kim Tài tinh cách giữa, tất Thương quan sanh Tài, Tài sanh Quan, trong phú có quý. Giả sử như trụ sau:

131 - Kỷ niên / Quý Dậu / Bính nhật / Tân thời

Tân kim không thể hóa Thương, Kỷ thổ trực tiếp hại Quan tinh, cách cục bị phá nát hĩ (năm quý tháng kỷ cũng tương tự).

Tân sanh tháng Thân, năm Nhâm tháng Mậu, giờ có Bính Quan, chẳng sợ Nhâm vì có Mậu ngăn cách, cũng hứa hẹn quý cách. Giả sử năm Bính tháng Nhâm mà giờ Mậu, hoặc năm Mậu tháng Bính mà giờ Nhâm, tất Nhâm đi khắc Bính, chẳng mong gì quý.

Ngày Tân giờ Bính, lấy Quan làm dụng, lấy thương là bệnh, lấy Mậu làm thuốc cứu ứng. Liệt kê ra như sau:

132 - Nhâm niên / Mậu Thân / Tân nhật / Bính thời

Nhâm Bính xa nhau, được Mậu ngăn cách, tất Nhâm thủy chẳng thể thương hại nổi Quan tinh.

133 - Bính niên / Nhâm Thìn / Tân nhật / Mậu thời

Nếu đổi lại Mậu thổ ở giờ, Quan Thương đều bày ra ngang nhau.

134 - Mậu niên / Bính Thìn / Tân nhật / Nhâm thời

2 trụ trên Nhâm thủy trực tiếp thương hại Bính hỏa Quan tinh, Mậu không cứu nổi.

Như ở trên lấy Quan tinh làm ví dụ, như Ấn sợ Tài phá, Tài sợ Tỷ kiếp, Thực thương kị Kiêu ấn, ý nghĩa như nhau. Phép cứu ứng cũng là thế.

Các loại như thế, không thể kể hết, thật ra cát hung vài lời khó nói hết. Nhiên tế tư kỳ cố, lý rất rõ ràng, đặc nan vi thiển giả đạo nhĩ.

Chương này luận sanh khắc trước sau cát hung, chuyên lấy thiên can làm ví dụ, mà địa chi mới là trọng yếu, có khi còn hơn thiên can nửa. Thí dụ như sau:

135 - Quý Dậu / Giáp Tý / Đinh Mão / Bính Ngọ

Hành vận: Quý hợi / nhâm tuất / tân dậu / canh thân / kỷ mùi / mậu ngọ

Tý Ngọ Mão Dậu, vốn là tứ xung, mà trụ này chẳng những không xung, lại trở thành tứ trợ. Mão Dậu cách nhau bởi Tý thủy, Tý Ngọ cách bởi Mão mộc, kim thủy mộc hỏa, nhờ đó tương sanh, lấy Ấn hóa Sát làm dụng. Thủy được mộc dẫn hóa, kim được thủy dẫn hóa, chẳng thương Ấn thụ dụng thần, tuy xung mà chẳng xung.

136 - Tân Mão / Đinh Dậu / Mậu Tý / Mậu Ngọ

Hành vận: Bính thân / ất mùi / giáp ngọ / quý tị / nhâm thìn / tân mão

Trụ này thổ kim Thương quan dụng Ấn, mà Mão Dậu xung, Quan tinh không thể sanh Ấn; Tý Ngọ xung, ấn căn bị Tài phá; địa chi mộc hỏa bị xung, thiên can hỏa thổ trở thành hư thoát. Không khỏi 1 đời bơ vơ, bản thân còn gặp tai nạn hĩ.

Cũng có khi mừng được xung khắc, như Càn long hoàng đế nhà Thanh:

137 - Tân Mão / Đinh Dậu / Canh Ngọ / Bính Tý

Hành vận: Bính thân / ất mùi / giáp ngọ / quý tị / nhâm thìn / tân mão / canh dần / kỷ sửu

Dương nhận cách cục, lấy Sát chế Nhận làm dụng. Hiềm thu kim không Ấn, chẳng vượng, mà Quan sát thông căn Mão Ngọ, chế nhận thái quá. Hay ở chỗ Mão Dậu xung nhau, khiến cho Mão mộc không sanh Hỏa, Tý Ngọ xung nhau, khiến cho ngọ hỏa chẳng phá Dậu kim, dù cho Bính Đinh Quan Sát nhưng được thông căn. Ức chế cái thái quá, thành trung hòa, tất là huyền chi hựu huyền, không thể nói hết. Trụ trên đơn cử Tý Ngọ Mão Dậu làm ví dụ, cũng có vì hội hợp trước hay sau mà tính chất thay đổi lại có không xung không hợp, mà cách nhau sanh khắc trước sau, cát hung khác biệt. Không thể kể hết, học giả luyện tập thuần thục, tự nhiên lĩnh ngộ.


VULONG
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 707
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: Tử bình chân thuyên bình chú

Gửi bài gửi bởi VULONG » 07:12, 24/01/14

Chương 21 : Luận tinh thần vô quan cách cục

Luận Thần-sát mà không lý đến Cách cục

Nguyên văn:
Cách cục Bát tự chú trọng lấy nguyệt lệnh phối với tứ trụ, còn về phần tinh thần tốt xấu, đã không dùng đến cái lẽ sinh khắc thì dùng cái gì để đo lường thành bại? Huống chi trong cách cục có cản trở, tức các thứ tốt như Tài Quan thành ra không được việc, thì sao gọi là cát tinh được? Còn dụng được cách cục, như Thất Sát Thương Quan, chẳng lẽ gọi là hung thần sao? Cách cục đã thành dù cho trong trụ đầy Cô thần nhập bọn với Sát chẳng lẽ làm hại đến quý cách? Cách cục bị phá, chả nhẽ Thiên đức quý nhân đầy trụ thì lại thành công? Người nay không biết đến khinh trọng, cứ thấy cát tinh liền tập trung cho nó mà bỏ qua dụng thần (đúng) bất kể tứ trụ thế nào, để rồi luận bậy về quý tiện, nói sai về họa phúc, thật là nực cười.

Từ chú thích:
Những sai lầm khi nói về Thần/Sát đều là do không nghiên cứu kỹ đến ngọn nguồn của nó. Phép Tử Bình biến đổi từ khoa Ngũ tinh, vốn lấy năm là chủ, dùng Thần Sát để phán cát hung. Thần sát đều có ở mỗi mệnh bàn, mỗi năm đều có sự khác nhau cho nên phép Tử bình xưa lấy năm làm chủ. Thử lật lại sách xưa như "Lý Hư Trung Mệnh thư", "Tam mệnh tiêu tức phú" của Lạc Lục Tử, cho đến các nhà chú giải mệnh lý Từ Tử Bình, Thích Đàm Oánh, Lý Đồng, Đông Phương Minh có thể thấy thời kỳ này đều lấy năm làm chủ. Đến Tam Mệnh Thông Hội của Vạn Dục Ngô đời Minh thì phép xem này có sự thay đổi, phép này bắt nguồn từ thời nhà Minh đến nay cũng trải qua vài trăm năm rồi. Sách Lan Đài Diệu Tuyển chuyên bàn về cách cục mà thần sát cho đến nạp âm cũng an từ năm mà ra, rất nhiều thuật ngữ thừa kế từ khoa Ngũ tinh chưa hề được cải biến. Phép Tử bình nay đã đổi từ năm sang dùng ngày để luận, Thần sát và nạp âm cũng không còn được sử dụng nhiều. Dùng các tác phẩm đó để thi thố vốn không phải là không nên, nhưng dùng để đoán họa phúc, há không làm cho kẻ hiểu biết cười cho ư? Rồi thêm chuyện bọn thuật sĩ giang hồ khi hành nghề đều dùng đến phép thần sát rồi tự cho là thông minh hiểu biết mà bỏ mất ngọn nguồn thì thật đáng cười nhạt. Nếu như hiểu rõ pháp xem Thần sát thì mấy ông thầy Địa lý thời nay đã không đánh mất chân truyền. Tử Bình và Phong Thủy tuy không cùng một con đường nhưng chẳng lẽ góc độ chuyển động của Thần sát trên trời lại có hai ư?

Nguyên văn:
Huống chi trong sách nói đến Lộc Quý, thường chỉ nói đến Chính quan mà không phải bàn đến Lộc đường quý nhân. Hay như Chánh Tài đắc Thương Quý là kỳ cách, mà Thương Quý gọi đầy đủ chính là Thương Quan sinh Tài, Chánh Tài đắc nó mới gọi là kỳ, nếu chỉ quý nhân thì Thương Quý là thứ gì vậy? Lại như câu "nhân đắc lộc nhi tị vị" (vì được lộc mà quên nhiệm vụ), thì đắc lộc chính là đắc Quan cách, vận hạn đến đất Quan đương nhiên thăng quan tiến tước; nhưng giả như Tài dụng Thương Quan Thực Thần, vận thấu Quan thì trật tự bị phá hỏng, Chính Quan vận lại gặp Quan thì trùng lắp nhiều quá, nên các loại này chỉ có thể là "tị vị". Nếu cho đó là Lộc Đường thì không những không đúng lý mà cứ cố cho là "đắc lộc tị vị" thì văn phạm đối chỏi nhau, cổ nhân viết sách lẽ nào không thông thạo ngữ pháp!

Từ chú thích:
Ở đây tức là danh từ của Ngũ tinh và Tử Bình làm cho làm lẫn lộn. Lộc cũng chính là Quan, có khi cũng gọi là Quý, về ngũ hành thì vị trí Lâm quan cũng gọi là Lộc Đường. Mã cũng là Tài; Đức cũng chính là Ấn; Thiên trù thọ tinh là Thực thần. Lúc đó để cho tiện mới giả dụng danh từ Thần sát của khoa Ngũ tinh, người sau không được giải nghĩa rõ ràng chính là khiên cưỡng gán ghép rồi thần thánh hóa lời đó. Tam Kỳ Lộc mã cũng chỉ là nói đến Tài Quan (tham khảo phần khởi lệ). Như niên Bính gặp Quý Dậu là Quan tinh lâm quý; Bính nhật gặp Quý Dậu là Quan tọa Tài hương (Quan đóng nơi đất Tài); ngày Nhâm tọa Ngọ gọi tên là Lộc mã đồng hương cũng tức là Tài Quan đồng cung. Đây là tự mượn Tam kỳ Lộc mã, tên khác nhưng thực ra là như nhau, mà dùng. Còn như Thương Quý, Thương Quan (Nhâm) mà gặp Đinh Mão, Giáp dụng Kỷ thổ làm Tài mà gặp Kỷ Mùi đều thế cả. Nhưng việc nầy chẳng qua cũng chỉ là giải thích hai chữ thương quý, chứ phép Tử Bình thì thứ gì hợp với đòi hỏi của Nhật nguyên tức là quý, còn không hợp thì không quý. Chữ Thương Quý, v.v... ở đây chỉ là một tu từ (lối nói khoa trương), cho nên không cần câu chấp. "Đắc lộc tị vị" là Lộc đường của Quan hay là Lộc đường của nhật nguyên? Nếu Quan trùng lắp mà gặp Lộc đường của Quan thì tự ứng với "tị vị", còn nếu Quan trùng lắp mà gặp Lộc đường của nhật nguyên thì lại ứng với thăng quan tiến tước rồi. Tóm lại thì hợp với nhu yếu thì thành quý, còn Thần sát cát hay hung thật ra không quan hệ đến họa phúc.

Nguyên văn:
Như nữ mệnh, có câu "Quý chúng tắc vũ quần ca phiến" (Quý mà nhiều thì chỉ là hạng kỹ nữ múa hát tầm thường). "Quý chúng" chính là "Quan chúng", nữ lấy Quan làm chồng, chả lẽ xuất hiện ra hai chính phu? Một nữ nhiều chồng thì ý chỉ đến giới ca múa phục vụ đàn ông thời phong kiến, một lý lẽ tất nhiên. Nếu cho từ đó là quý nhân, là sao trên trời, cũng không phải là chồng, thì e gì ít hay nhiều mà gán cho là hạng gái cầm ca?

Từ chú thích:
Quý tức là Quan, Quý nhiều tức là Quan nhiều. Như lấy Thiên Ất để nói, từ Hạ chí đến Đông chí dụng Âm quý, từ Đông chí đến Hạ chí dụng Dương quý. Lại cần phải thích hợp với Dụng thần và Tài cũng phải sinh vượng. Nếu Tài đa Thân nhược thì phải chọn Tỷ Kiếp chẻ Tài ra thì mới tốt, Quý nhiều nhanh thành bệnh mà thôi. Về phần "quý chúng, vũ quần ca phiến", chính là lấy Quan làm phu tinh. Quan nhiều cần phải làm tổn Quan hoặc hóa bớt Quan để trở thành phu tinh, không nhất định phải dụng Quan. Quan Sát khắc ta, trong tứ trụ có Quan sát, trước tiên cần an định nó, không nhất định phải dùng, điều này thì bất luận nam nữ đều thế cả. Nếu Dụng thần không gặp Thiên Ất, hoặc Thiên Ất lại lâm nơi Kị thần là Âm dương tịnh kiến, chồng chéo hỗn tạp đều chưa đủ phán cát hung, không liên quan đến khinh trọng, có thể bỏ qua không luận.

Nguyên văn:
song Thần sát trong mệnh thư cũng có đề cập đến, kẻ đọc sách tâm không tốt thường câu chấp, không tường lẽ biến thông. Như "Quý nhân đầu thượng đới Tài Quan, môn sung tứ mã" (Quý nhân thấu lộ mà có cả Tài Quan thì như ngoài cửa có sẳn xe tứ mã), đó là vì Tài Quan như người diện mạo đẹp đẽ, quý nhân như quần áo đẹp thì mới làm vẻ đẹp diện mạo lộ rõ ra được. Thực ra Tài Quan thành cách, tức không có quý nhân xuất lộ, thì lại không có "môn sung tứ mã"! Còn "Cục thanh quý, hựu đới nhị đức, tất thụ vinh phong" (cách cục thanh quý lại mang cả nhị Đức tất thụ hưởng vinh phong). Nếu chú trọng nhị Đức thì tại sao không nói đầy đủ là "đới nhị Đức thụ lưỡng quốc chi phong", mà còn phải cho rằng không được có Sát cái đã (đòi hỏi cục thanh quý)? Nếu cho rằng mệnh phùng cách xấu, trụ có nhị Đức là phùng hung hữu cứu, tránh được nguy hiểm thì tuy có nói đến cách cục nhưng mà chung quy cũng là không liên can đến quý tiện của cách cục.

Từ chú thích:
Thần sát so với Dụng thần, mỗi thứ đều phải cần thích hợp. Như Quan tinh cần Thiên Ất, Ấn thụ thích hợp với nhị Đức (Thiên Nguyệt đức quý nhân), Tài thích hợp với Dịch Mã, Thực Thươngthích hợp với Văn Xương, Từ Quán Học Đường. Dụng Quan mà Quan lâm Thiên Ất, cẩm thượng thêm hoa; dụng Ấn mà Ấn lâm Thiên nguyệt nhị Đức, là người tố thực từ tâm (ăn chay làm việc thiện). Cái đẹp gặp được nó thì tăng điều tốt, khi gặp hung thì giảm được tai họa, chứ chẳng phải dựa vào nó mà luận thành cách đâu. Nếu bỏ Dụng thần để luận Thần sát thì khi xét vận hạn cát hung thì sử dụng phép nào đây? "Vô sát đới nhị đức" thì Sát là chỉ Kị thần, chứ chẳng phải chỉ Thất sát. Người đọc cần gắng thành tâm lĩnh hội ý nghĩa thực chứ đừng cho rằng cổ nhân viết lách ngu muội. Tóm lại, Tử Bình có cách xem của Tử Bình, chớ nên xem hỗn tạp với Thần sát làm hoa mắt rồi không biết cái nào là chính yếu cả.

138 - Kỷ Mùi / Quý Dậu / Đinh Tị / Đinh Mùi

Đại vận: Nhâm Thân - Tân Mùi - Canh Ngọ - Kỷ Tị - Mậu Thìn - Đinh Mão

Đây là mệnh của Viên Hạng Thành (tức Viên Thế Khải), xem sơ qua thì thấy Thân cường Thực Thần chế Sát mà thôi, nhưng biện chi tiết thì lấy năm làm chủ, năm là Kỷ Mùi, Mùi Dậu giáp thân là quý; lấy ngày làm chủ thì Đinh quý nhân tại Dậu, lấy Sát làm dụng mà Sát quý tại Tị cho nên thân Sát hỗ hoán đắc quý nhân. Thất sát là thần đối nghịch với ta, quý nhân hỗ hoán ví như được triều đình nhà Thanh biết đến mà trọng dụng, mà cũng là dấu hiệu triều đình bị ta phản phúc. Địa chi Tị Mùi Dậu giáp lộc giáp quý, toàn trụ đầy Lộc và Quý nhân ủng hộ nên ứng với Nguyên thủ quốc gia. Đến vận Mão, Sát đối nghịch lâm Quý nhân đắc thế mà xung với Quý nhân của bản thân nhật chủ, bị cô lập hoàn toàn, hết sức hiển nhiên vậy.

139 - Ất Mão / Bính Tuất / Quý Dậu / Bính Thìn

Đại vận: Ất Dậu - Giáp Thân - Quý Mùi - Nhâm Ngọ - Tân Tị - Canh Thìn

Đây là mệnh của Từ Đông Hải (tức Tổng thống Từ Thế Xương, sinh năm 1855, mất 1939, bản thân đậu Tiến sĩ, từ năm 1879 đã kết nghĩa huynh đệ và sau thành mưu sĩ cho Viên Thế Khải, sau làm đến Thủ tướng rồi năm 1918 được Quốc hội bầu làm Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc), ban đầu nhìn vào chỉ thấy Tài được Thực sinh, nhưng mà Quý quý nhân tại Mão, Bính quý nhân tại Dậu, Thìn Mão Dậu Tuất là hai phương đông tây đối đầu, mà cũng là lưỡng hợp giải xung cho nhau (Thìn hợp Dậu, Mão hợp Tuất), thủy hỏa tương tranh nhưng đắc quý nhân Ất mão đóng vai người thương thuyết mà hòa bình với nhau. Viên là võ nhân, dụng Sát vi quyền còn Từ là văn thần (***), dụng Thực sinh Tài, đây lẽ nào là ngẫu nhiên ư?

Chú Thích (***):
Từ Thế Xương còn được gọi là "Văn trị Tổng thống", tức là Tổng thống lãnh đạo thành công về mặt văn hóa và giáo dục.

140 - Mậu Dần / Kỷ Mùi / Giáp Dần / Ất Hợi

Đại vận: Canh Thân -Tân Dậu -Nhâm Tuất -Quý Hợi -Giáp Tý -Ất Sửu

Niên Mậu nhật Giáp, đều lấy Mùi làm quý nhân; bản thân Giáp vượng gánh được Tài, nguyệt lệnh có Kỷ thổ chân quý nhân lộ ra làm Dụng thần; hơn nữa hỷ Tứ trụ vô kim, Dần Mùi tàng hỏa, Thực Thương sinh Tài, cách cục hết sức thanh thuần. Niên nguyệt là tổ nghiệp, được quý nhân xuất lộ là hưởng phúc ấm, quý nhân Mùi trực tiếp làm dụng thần nghĩa là bản thân được quý nhân nâng đỡ. Đây là mệnh của người Hợp Phì tỉnh An Huy Lý Quốc Quân, được Tổng thống Hạng Thành trọng dụng, thời Dân quốc sơ niên từng giữ chức Quảng Đông Tuần án sứ giả (mệnh của Viên Hạng Thành là Kỷ Mùi kỳ cách hơn).

141 - Mậu Tuất / Giáp Tý / Kỷ Tị / Mậu Thìn

Đại vận: Ất Sửu -Bính Dần -Đinh Mão -Mậu Thìn -Kỷ Tị -Canh Ngọ -Tân Mùi

Tài sinh Quan vượng, Bính hỏa Điều hậu làm dụng. Nguyệt lệnh Thiên Ất là quý chổ thừa hưởng phúc ấm tổ tiên. Quý nhân là Tài nhằm sinh Quan là quý nhân gián tiếp, hơn nữa do Tài Quan tháng chạp cần hỏa để Điều hậu, Dụng thần tại Tị mà không phải Tý, quý nhân ở đây được dùng gián tiếp. Đây cũng là mệnh của một ông người Hợp Phì họ Lý. Vận đến Bính Dần Đinh Mão kế thừa sản nghiệp lớn, mà cái quý của mệnh so với tứ trụ trước thì hơi kém một chút. Hơn nữa do Kỷ Giáp hợp Quan để hộ Tài, nên Mậu (Kiếp) không thể tranh đoạt, vì thế một mình thừa hưởng được sản nghiệp rất lớn. (Lâm chú thích: Tứ trụ này thủy không có kim sinh cho, một bầy thổ bao vây, không luận là Tài vượng. Năm thổ mà chỉ có một hỏa, biến thành Tòng vượng cách, hỏa thổ là hỷ dụng thần kiêm nhiệm Điều hậu, Tý thủy là Bệnh. Trong 70 năm Đại vận, ngoài chữ Thìn bán hợp cục với Tý thủy ra, các chữ còn lại đều là hỷ dụng hoặc đóng vai trò trừ khử Bệnh thần, Kị thần. Nhập Tòng cách mà được vận trình trường thịnh như vậy đúng là hiếm thấy.)

142 - Tân Tị / Tân Sửu / Canh Thân / Tân Tị

Đại vận: Canh Tý -Kỷ Hợi -Mậu Tuất -Đinh Dậu -Bính Thân -Ất Mùi -Giáp Ngọ

Kim gặp tháng rét thổ, cần dụng hỏa Điều hậu. Mà Tị Sửu hội hợp, Tị Thân hình hợp, cách cục liền chuyển đổi. Khí toàn kim thủy, đành phải thuận theo vượng khí, nên hành vận thổ kim thủy là mỹ vận. Đây là mệnh Lý Quốc Kiệt, người Hợp Phì (tỉnh An Huy). Tân kim tạp xuất mà chỉ có một Canh kim đắc quý, tuy anh em rất đông mà một mình mình kế tục ngôi vị, "quý do di ấm" là chổ đó, cho nên niên nguyệt trụ thích hợp đóng quý nhân. Vừa vào vận Mùi, lưỡng quý tương xung, hơn nữa gặp phải lưu niên Giáp Tuất, tam hình hội hợp, hình thương đến lưỡng quý mà bị họa tù ngục. Tứ trụ này nếu như thời thấu một thủy thì vận cuối không đến nỗi cùng khốn. Có thể thấy Thần sát không hoàn toàn vô căn cứ.

Lại thầy quý nhân của người họ Lý, đầu tiên là mệnh Văn Trung Công (tức Lý Hồng Chương):

142a - Quý Mùi / Giáp Dần / Ất Hợi / Kỷ Mão

Khúc trực nhân thọ cách, cho đến mệnh Lý Quốc Kiệt có kim cục mà quý bị tuyệt diệt, hưởng ngôi vị đến đây thì tận số, cũng đều là kỳ cả. Đây là đạo lý của vận hạn trinh nguyên (***), nghiên cứu Bát tự thì vô cùng tận, cần chuyện tâm thì mới sáng tỏ.

Chú thích:
(***) Bát Tự lấy niên là “nguyên”, nguyệt là “hanh”, nhật là “lợi”, và thời là “trinh”. Niên nguyệt cát thì tiền vận cát, nhật thời cát thì hậu vận cát. Còn về Đại vận thì lấy 15 năm đầu là nguyên, 15 năm kế là hanh, 15 năm giữa là lợi, 15 năm cuối là trinh.

VULONG
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 707
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: Tử bình chân thuyên bình chú

Gửi bài gửi bởi VULONG » 07:14, 24/01/14

Chương 22 : Luận Ngoại Cách Dụng Xả

(Bàn về dùng và không dùng Ngoại Cách)

Nguyên văn:
Dụng thần của bát tự đã chú trọng tìm ở nguyệt lệnh, vậy tại sao còn có ngoại cách nữa? Có Ngoại cách là do nguyệt lệnh vô dụng, phải tùy cơ ứng biến mà dùng nên gọi là ngoại cách.

Từ chú thích:
Bài này bàn luận tựa hồ chưa rõ ràng, do sách vở lấy nguyệt lệnh là kinh, Dụng thần làm vĩ. Dụng thần là yếu tố then chốt của toàn cục. Thần khí nguyệt lệnh không có khả năng làm đầu mối trọng yếu ảnh hưởng đến toàn cục của tứ trụ thì phải từ đó chọn ra một can chi riêng để dùng. Dụng thần tuy chọn riêng nhưng trọng tâm của nó lại ở nguyệt lệnh, như mộc sinh tháng mùa đông, thủy vượng mộc trôi, chọn Tài thì tổn Ấn nên phải dùng hỏa để điều hậu, chính là bởi nguyệt lệnh tuy thủy vượng nhưng lại rét buốt; mộc sinh tháng thu, kim quá cứng nên mộc bị sứt mẻ, chọn hỏa chế kim hoặc chọn thủy để hóa kim, chính là do nguyệt lệnh khí kim quá vượng. Những trường hợp này đều không có tên gọi riêng. Ngoại cách, chính là trường hợp riêng của chính cách, khí thế vượt thắng nên không thể lấy thường lý để chọn dụng thần, ở vào ngoại lệ của "con đường đúng", cho nên mới gọi là ngoại cách.

Nguyên văn:
Như mộc mùa xuân, thủy mùa đông hay thủy sinh vào tháng tứ quý, khi cùng ngày cùng tháng thì khó mà thấy tác dụng, đều có thể rơi vào loại tượng, hình tượng, xung tài, hội lộc, hình hợp, hay các cách Diêu nghênh (hay Dao tị ? ), Tỉnh lan, Triều dương..., tất cả đều có thể. Nếu nguyệt lệnh tự có Dụng thần, có nên đi tìm ngoại cách? Lại có người mộc sinh mùa xuân, thủy sinh mùa đông, can thấu bên trên có cả Tài Quan Thất Sát, mà bỏ đi để theo ngoại cách, cũng quá sai lầm. Đó là lý do can thấu có Tài, dụng gì để xung Tài? can thấu Quan, dùng gì để hợp lộc? Thư nói rằng: "Đề cương hữu dụng đề cương trọng ", mà cũng nói "Hữu Quan mạc tầm cách cục", chính là một lời nói bất di bất dịch.

Từ chú thích:
Xuân mộc đông thủy chính là Dương Nhận kiến Lộc, cần biết rằng Nhận Lộc tuy không thể làm dụng, nhưng quan hệ với Dụng thần lại ở nguyệt lệnh. Như Sát Nhận cách, chọn Quan Sát chế Nhận, đó là dụng tại Quan Sát; kiến Lộc Thân vượng, lấy thần tiết tú thành tốt đẹp, đó là dụng tại Thực Thương. Thổ sinh tứ quý, dụng mộc làm tơi thổ, hoặc dụng kim tiết tú, đó là dụng tại mộc kim. Các loại này đều chẳng phải ngoại cách. Cần khí tượng tứ trụ thiên hướng về một phương, như xuân mộc mà chi liên kết thành Dần Mão Thìn, hoặc Hợi Mão Mùi, tứ trụ không thể phù ức. Ngày và tháng giống nhau thì tòng Cường, tòng Vượng; ngày tháng không giống mà nhật nguyên lâm Tuyệt, thì tòng Quan Sát, tòng Tài, tòng Thực Thương. Hoặc Nhật can hóa hợp thì thành hóa khí, như loại tượng thuộc về một loại hình thì mới thành ngoại cách. Ngoại cách tuy rất quy cách, nền nếp nhưng bản thân cũng có một ý nghĩa là không rời xa chính lý ngũ hành thì mới được. Nếu gặp các cách đảo xung, hình hợp, Diêu nghênh, Triều dương, lý ngũ hành chưa thông thì cũng không đủ tin tưởng (Tỉnh Lan tức Thực Thương cách). Còn khi nguyệt lệnh có Dụng thần, Tứ trụ được phù ức, sao lại bỏ cái riêng mà chọn cái lẽ chung? "Đề cương hữu dụng đề cương trọng" là lời nói luận Dụng thần phải để ý đến sự quan trọng của nguyệt lệnh; còn "Hữu Quan mạc tầm cách cục" là ý nói tứ trụ có đủ phù ức, không nhất thiết phải tìm cách cục riêng biệt (không nên câu chấp đến chữ Quan trong câu phú). Đây chính là khuôn phép bất di bất dịch để chọn đúng Dụng thần.

Nguyên văn:
Song, cái gọi là "nguyệt lệnh vô dụng" vốn là nguyệt lệnh không có Dụng thần, người nay không hiểu thường gán cho các loại như Tài bị Kiếp đoạt, Quan bị Thương hủy hoại,... Dụng thần đã bị phá thì cũng coi như nguyệt lệnh không tuyển chọn được Dụng thần, liền bỏ đi để theo ngoại cách là sai lầm của sai lầm vậy.

Từ chú thích:
Câu "Tài bị Kiếp, Quan bị Thương" là nay xem không có thần khí cứu ứng, mà vô cứu ứng tức phá cách (xem tiết: thành bại cứu ứng). Bản lai Bát tự tốt thì ít, xấu thì nhiều, người phú quý ít ỏi, người bần tiện đầy rẫy, và cũng thế, người thành công thì ít mà người thất bại thì nhiều. Tiếc là người đem mệnh để phán đoán, trong tâm ôm ấp hoài bảo chưa thực hiện được hy vọng sẽ đến trong tương lai, nhưng lại hỏi việc xấu mà không hỏi việc tốt, chẳng qua là lời đầu môi chót lưỡi, nên nếu nghe nói Tài bị Kiếp, Quan bị Thương thì họ lại không bịt lỗ tai mà chạy ư? Thế là thuật sĩ hành nghề liền đoán ý hùa theo tâm lý thân chủ, thường giải đoán mà không bàn Dụng thần, chỉ chú trọng lấy Thần sát, cách cục, nạp âm ra để nói qua quýt. Sai lầm này đã tồn tại lâu rồi, người nói chuyện Mệnh lý cần nhận thức được điều này.



Chương 23 : Luận Cung Phận Dụng Thần Phối Lục Thân

(Bàn về Cung phận dụng Thập thần phối với Lục thân)

* Thân nghĩa là gần gũi thương yêu. Lục thân là sáu hạng người gần gũi thương yêu nhất của mình: Cha, mẹ, vợ, con, anh (chị), em.

* Cung phận: cung được gán cho một nhiệm vụ cụ thể, ví như một "danh phận" của cung.

Nguyên văn:
Con người có Lục thân, Bát tự phối với nó để định ra số mệnh.

Từ chú thích:
Danh từ Lục thân xuất phát từ rất lâu, nghĩa đơn giản mà rất đầy đủ. Thời đại nhà Hán, hai nhà Tiêu-Cống (***) khi giải thích quẻ liền lấy khắc ta là Quan Quỷ, ta khắc là Thê Tài, sinh ta là Phụ mẫu, ta sinh là Tử Tôn, đồng khí chất là Huynh đệ, đều là Lục thân của bản thân ta (xem chi tiết ở sách Mệnh Lý Tầm Nguyên). Phối hợp Lục thân trong Mệnh Lý thực tế thoát thai từ đây, tên gọi tuy khác nhau nhưng lý luận chỉ là một.

Nguyên văn:
Do sự phối hợp của cung phận, tuần tự niên nguyệt nhật thời tức là từ trước ra sau mà phối thành tổ phụ thê tử (ông cha vợ con), cũng là từ trên xuống dưới, (thiên) phối với địa so khớp, thỏa mãn mà tạo thành các ngôi vị bất biến trong mệnh lý.

Từ chú thích:
Cung phận chính là nói đến chức phận của mỗi địa chi, niên chi là gốc tổ tiên, nguyệt chi là cung cha mẹ, nhật chi là cung Thê, chi giờ là cung Tử tôn (con cháu), đây là quy luật từ trên xuống dưới, phối hợp các chi và các địa vị (tôn ti) với nhau. Phàm hỷ dụng tụ vào chi năm hay chi tháng thì tổ tiên giàu có sung túc, cha mẹ được thừa hưởng phúc ấm này còn bản thân mình từ nhỏ đã thừa hưởng gia nghiệp này. Nếu hỷ dụng tụ tại chi ngày, thê thiếp giúp ích cho mình; tụ vào chi giờ, con cháu ắt hẳn có năng lực và vào cuối đời càng tốt hơn nữa. Năm là nơi xuất thân, giờ là chốn đi về hay kết cuộc của một đời người. Xuất thân tốt, thì có thể biết rằng bản thân sẽ hưởng thụ phúc ấm tổ tiên, còn kết cuộc tốt tức hiểu rằng con cháu năng lực đầy đủ, cùng là lẽ tự nhiên mà thôi.

Nguyên văn:
Còn dùng Thập Thần để phối hợp thì Chính Ấn là mẹ, để tạo thân thể ta phải có người sinh ra ta. Nhưng Thiên tài là thứ ta khắc chế thì sao lại thành cha ta? Thiên tài chính là chồng của mẹ, mà Chính ấn là mẹ thì Thiên tài là cha. Chính tài là vợ, là bị ta khắc chế, chồng là chủ đạo nên vợ phải theo. Nhưng Quan Sát như kẻ khắc chế ta, vậy tại sao thành con cái? Quan Sát là do Tài sinh, mà Tài là thê thiếp của ta, tức Quan Sát là con cái của ta rồi. Còn Tỉ kiên là Huynh đệ thì lý lẽ hiển nhiên.

Từ chú thích:
Thiên Tài là chồng của mẹ, như Giáp lấy Quý làm Chính Ấn, Mậu là Thiên Tài, Mậu Quý hợp như vợ chồng kết duyên với nhau. Bính lấy Ất làm Chính Ấn, Canh là Thiên Tài, Ất Canh hợp nhau, các thần khác cứ thế mà suy. Năm loại can âm theo 5 can dương mà chọn ra, như sinh ngày Ất lấy Quý làm mẹ, lấy Mậu làm cha. Giáp Ất nhật can như có Mậu mà vô Quý thì lấy Nhâm thủy làm phụ mẫu. Tóm lại, nói rằng cha mẹ là người che chở cho ta, Thê tài là kẻ hầu hạ ta, Quan quỷ là kẻ khắc chế ta, Tử tôn là kẻ hậu duệ của ta, Huynh đệ là kẻ đồng khí với ta, thật là dại dột mới cho đây là định luật. Đến như Thiên tài là thứ ta khắc, sao cho là cha ta? Khắc ta là Quan sát, sao gán thành con cái của ta? Đây xuất phát từ lẽ tự nhiên ở đời, người thường chịu sự cấm đoán của cha mẹ thì ít, còn chịu sự ràng buộc của con cái thì nhiều. Sách "Trích Thiên Tủy chinh nghĩa" lấy Ấn làm Phụ mẫu, lấy Thực Thương làm con cái, có phần phù hợp với Dịch Kinh Tiêu, lý luận này thông đạt rồi nên không cần bàn nữa. Lại có thuyết cho rằng Thiên Ấn là mẹ kế, Tỉ Kiên là anh, Kiếp Tài là em, mỗi thuyết đều có ứng nghiệm. Tóm lại, để dùng thập thần phối với lục thân càng cần phải xét kỹ lưỡng các cung phân định địa vị cùng với hỷ kị của nó thì cơ bản khó sai lầm. Số mệnh thường không rõ rệt lắm, thí dụ như triều đại nhà Thanh trước đây, khi có đại tang cha mẹ là làm thăng trầm mất một giai đoạn quan trường, xem ở vận hạn hiển hiện dễ thấy (trong mệnh số thấy có thì thực tế đời người cũng có); còn người ngày nay các lễ nghi đều hủy bỏ, sự tồn vong của cha mẹ cũng không quan hệ đến sự tiến thoái hoạn lộ nên trong mệnh vận không hiện rõ ràng lắm. Thê cung gắn liền với hạnh phúc cuộc đời, đắc lực hay không rất là rõ ràng, học giả thông minh sáng suốt tự mình có thể giải thích được.

Nguyên văn:
Trong đó có hay không đắc lực, hoặc cát hoặc hung, cứ lấy tứ trụ mà xét hoặc lấy niên nguyệt hoặc nhật thời định ra Tài Quan Thương Nhận, quan hệ với tượng nào, sau đó lấy Lục thân phối dụng thập thần. Xem trong cách cục biến ra hỷ kị ra làm sao và xem thêm sự phối hợp của nó thì khả dĩ không sai được.

Từ chú thích:
Lấy Ấn làm mẫu, lấy Tài làm vợ, toàn cục nếu vô Tài Ấn thì sẽ ra sao? Dụng Thực mà gặp Ấn đoạt Thực, dụng Ấn mà gặp Tài phá Ấn, là ra làm sao? Ở đây phải đánh giá linh hoạt rồi đúc kết lại, không thể câu chấp. Đại khái từ hỷ kị của Ấn để xem về phụ mẫu, không ắt hẳn phải lấy Ấn làm mẹ; từ hỷ kị của Tài để xem Thê cung, bất tất coi Tài là vợ. Nhật chủ hỷ Ấn mà gặp Tài phá, tổ nghiệp lụn bại; Nhật chủ kỵ Ấn mà gặp Tài phá, lại thành hưng gia lập nghiệp. Thân vượng hỷ Tài mà gặp Tỉ Kiếp phân đoạt thì khắc thê, ngược lại Thân nhược Tài trọng, thì dù không có Tỉ Kiếp phân đoạt cũng khắc thê. Phần Thương Nhận phối hỷ kỵ ra sao thì xem, tiết "Luận Thê tử" phía sau. Lục thân phối hợp thì sách "Trích Thiên Tủy chinh nghĩa" quyển 5 tiết Lục thân luận bàn rất rõ ràng, cần nên tham khảo.

Chú thích(***):
Tức hai ông Tiêu Cống và Kinh Phòng. Lý thuyết lục thân trong Bói dịch được các nhà nghiên cứu công nhận người phát minh đầu tiên là Tiêu Cống sau truyền cho Kinh Phòng. Lý thuyết tượng quẻ liên quan đến hai người này gọi là Kinh Tiêu Dịch (khác với Mai Hoa Dịch), nhưng nay không còn được dùng.


Trả lời bài viết

Quay về “Kiến thức tứ trụ”

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: 30 khách.