
Bác xem xem có đúng lá số này không.
Lá số bác Happy Mom,
Bác tuổi Bính Ngọ - Thiên Hà Thủy, nước của trời.
Theo sách cổ có nói: “Bính Ngọ Đinh Mùi, Bính Đinh thuộc Hỏa, Ngọ nơi chốn Hỏa vượng mà nạp âm lại là Thủy, Thủy từ Hỏa xuất thì phải từ trên trời xuống nên gọi bằng Thiên Hà Thủy”
Hai cung Ngọ và Mùi, Ngọ là nơi Hỏa Vượng, Mùi là nơi đất Thổ trung hòa, là khó, khố để tích nạp của hành Hỏa. Hai cung này đều là nơi Hỏa vượng sinh ra Thủy nên Hỏa chỉ có thể từ trên trời rớt xuống.
Người có mệnh Thiên hà thủy cần được trời cho trí tuệ nữa thì mới hay. Người mệnh Thiên Hà Thủy thì có năng khiếu về các hoạt động xã hội, tôn giáo.
Người Thiên Hà thủy mà được ngồi vào ghế lãnh đạo, cầm cân nảy mực thời bình ắt là giúp đời, phát phúc phát lộc, mọi người đều yêu quý. Mệnh có nhiều hung sát tinh thì lại gặp khó khăn trên con đường kinh doanh hay làm chính trị.
Người tuổi Bính Ngọ thì can chi là Hỏa đều bị Thủy khắc do đó khi gặp hung vận thường khó ứng phó, cũng không coi là tốt đẹp.
Người mệnh thủy sinh vào đầu tháng 2 âm lịch là tháng mùa xuân, nơi mộc vượng thì mệnh Thủy sinh xuất cho Mộc nên chưa được mùa sinh, cũng là cái tiết giảm độ số. Chúng ta cần hòa hợp hoặc mùa sinh sinh cho hành bản mệnh. Tuy vậy, theo nghiên cứu thống kê thì trẻ em khi sinh mùa xuân thì sống vui tươi hơn và dễ thành công hơn so với mùa đông, trẻ mùa đông thường trưởng thành sớm hơn và dễ u buồn hơn.
Dương Nam mà mệnh lập tại cung Âm, Âm Dương điều hòa, vừa phải, không quá nhu mì gian manh cũng không quá cương cứng.
Âm Dương nghịch lý thì bản thân không hòa hợp với dòng chảy của vũ trụ, báo hiệu cuộc đời gặp nhiều khó khăn không hợp ý. Công danh sự nghiệp phải tự tay xây đắp nhưng cũng kích phát cái chí khí, trải qua nhiều khó khăn mà trui rèn nên bản lĩnh.
Mệnh cục tị hòa thì dễ hòa vào môi trường xung quanh. Ném tới đâu cũng tồn tại được.
Với mẫu người Âm Dương nghịch lý Mệnh Cục tì hòa thì đi đâu cũng hòa nhập và tồn tại được, bước đầu khó khăn nhưng sau một thời gian ngắn sẽ hòa đồng và tồn tại được trong môi trường mới này. Cuộc đời người này cũng không coi là may mắn, dù giàu có hay nghèo khổ thì cũng cảm thấy hơi mệt mỏi, không cảm thấy quá hạnh phúc vui sướng, nhẹ nhàng trong cuộc đời. Thường lắm suy tư.
Thân cư Tài Bạch. Một con người coi trọng giá trị của đồng tiền. Mẫu người coi trọng sự thực dụng hơn là danh tiếng, không quá quan tâm tới danh mà quan tâm tới lợi ích thiết thực. Thích kiếm tiền, dù giàu hay nghèo cũng tập trung vào việc kiếm tiền, ngay từ trẻ đã có suy nghĩ về chuyện tiền bạc. Bộ não luôn vận dụng vào các phương thức kiếm tiền. Mẫu người này phù hợp với một môi trường chộp giật và đòi hỏi sự cạnh tranh cao độ, dù trong môi trường ít cạnh tranh hay hỗn loạn thì vẫn tồn tại và tìm ra phương pháp kiếm tiền.
Các sao quan trọng Tử Vi cư Ngọ gặp Kình Dương – Công Danh khó.
Thiên Tướng ngộ Tuần có lúc Đới ấn hồi triều.
Thiên Phủ gặp Hình, Kị, xấu.
Thái Dương ngộ tuần, Thái Âm gặp hỏa Tinh, kiếp sát. Xấu.
Lộc Tồn ngộ triệt xấu.
Quốc Ấn/Hóa Lộc ngộ Địa Không xấu.
Người mạng Thủy mệnh đóng đất Hỏa thì xung khắc, may là mệnh mình khắc cung nên coi như chế hóa được. Chưa coi là xấu nhất nhưng cũng chưa được coi là vững.
Tam hợp Dần Ngọ Tuất là tam hợp hỏa có năng lượng mạnh nhất nên có tính xung động lớn. Hơn thế nữa, tam hợp Dần Ngọ Tuất khắc tam hợp mệnh Tị Dậu Sửu hành Kim, do đó chế hóa được bản mệnh, giảm bớt những bất trắc có thể gặp phải. Mệnh có xấu cũng bớt xấu.
Mệnh lập tại cung Tị là Âm Hỏa, thuộc đất tứ Sinh – Tứ Mã. Điều này báo hiệu người này cả đời bôn ba, đến khi xế bóng vẫn bôn ba chưa chịu ngồi yên.
Mệnh ở đất Tị thuộc tam hợp Tị Dậu Sửu, Tị là hỏa khắc Kim, Kim bị khắc thì sinh thủy, thủy khắc lại hỏa nên mệnh tài quan đóng ở cung Tị hay gặp trục trặc.
Mệnh Triệt thì thường sinh non, thiếu tháng hay đẻ mổ, hồi nhỏ khó nuôi. Triệt ở mệnh cũng là sự phá cách, triệt lộ không vong, ngăn chặn sự hối chiếu từ các cung về bản mệnh, do đó chỉ luận các sao trong cung.
Mệnh an vòng Tràng Sinh thuộc tam hợp Mộc – Suy – Tuyệt thì bản thân thường có công việc bấp bênh, hay có sự thay đổi, bản thân hay lạc hướng. Tuyệt ở mệnh thường là người bon chen, giành giật, đố kị người hác. Rất may có Triệt ở mệnh thì phá đi sự bon chen, dố kị trong tính cách, âu cũng là cách hay không phá cái phúc của bản thân.
Mệnh có Thiên Cơ là áo chủ về đầu, Thiên Cơ hành Mộc sợ Linh Hỏa đánh phá. Ở đây Thiên Cơ gặp Linh Tinh là cách xấu, có Triệt thì phá bỏ bớt cái xấu, nếu không thì đầu óc hay có vấn đề, khi xử lý vấn đề rắc rối hay phát bực thiếu kiểm soát. Gặp triệt ở đây sẽ giảm cái sự mất kiểm soát này.
Mệnh có Trực phù thường là người đa nghi nhưng rất tinh ranh. Nếu biết tự cân bằng giữa niềm tin và sự đa nghi thì dễ thành công lớn trong sự nghiệp. Người anfy dám đánh đổi tất cả để đạt mục đích, dám nằm gai nếm mặt để tìm trái ngọt. Thường những người có trực phù ở mệnh thuộc tam hợp Âm Long Trực là người nhún ngường, chủ động chịu thiệt về mình để đạt thành tích kết quả. Những người như này càng về hậu vận càng đông bạn lắm bè, càng dễ thành công.
Mệnh có Hóa Quyền chủ về ý muốn vượt trội nắm giữ uy quyền, gặp triệt giúp giảm bớt cái tôi, âu cũng là hợp với trực phù càng có lợi.
Mệnh có phá toái gặp triệt, giọng nói không quá to nhưng không nhỏ, hay bị bệnh về amidan, viêm họng.
Mệnh có thiên cơ hay bị bệnh về da liễu, bệnh về xương khớp, thoát vị đãi đệm.
Mệnh có linh tinh thì không nên nghiện thứ gì, nếu nghiện dễ trở nên nghèo hèn vì thứ mê nghiện đó.
Mệnh có Lộc Tồn, Lộc Tồn sợ triệt, phá cái lộc của trời cho nên coi như bỏ ở đây.
Mệnh xung với cung tử tức, không hợp tính con cái, khó chia sẻ hòa đồng, khó ở chung.
Mệnh có tả phụ có thể làm trợ lý, đi xa làm việc. Cung Phúc Đức VCD nên đi xa lập nghiệp thì tốt hơn.
Mệnh tam hợp Tị Dậu Sửu hành Kim khắc tam hợp Phúc Phối Di – Mão Mùi hợi hành Mộc, Mệnh mạnh hơn Di thì ra ngoài có đấu tranh cũng thắng lợi.
Thiên Mã hành Kim sinh xuất cho Mệnh thủy là tốt. Mã Tang Tuế Điếu thì dễ nhận những quả đắng, Mã kéo xe tang, xét nhân quả cũng chưa phải là cách tốt.
Âm Dương xấu, mắt nhanh kém, mắt phải kém hơn mắt trái.
Cung tật có hóa khoa(D). Hóa khoa đắc địa ở tật chỉ ra bản tính của đương số là người khá bình tĩnh trước biến cố xảy ra. Khi gặp bệnh chủ động tự tìm hiểu, học thêm để tự chữa, quan tâm tới sức khỏe. Ngoài ra hóa khoa ở tật thì cũng chỉ ra thân thể chủ đương số cân đối không béo phì cũng không quá gầy.
Đương số khi bị tai ách, kiện tụng…. thì bình tĩnh xử lý tình huống, phân kế hoạch, nghiên cứu rõ ràng rồi làm từng bước mà không phải kiểu có bệnh vái tứ phương.
Đương số người dong dỏng cao, da trắng, không được coi là đẹp trai, bị phá tướng.
Cung Thiên Di là cách người ngoài nhìn nhận đương số, cách đương số tương tác với môi người ngoài gia đình. Cung Thiên Di ở Hợi thì ra ngoài vẫn gặp nhiều trục trặc chứ chưa coi là thuận lợi nhưng vẫn chiến thắng được.
Thiên Di có sao Thái Âm miếu chiếu, đương số lại sinh vào chiều tối nên coi như ăn được cái tốt của Thái Âm. Xa nhà có quý nhân phù trợ phát tài, có thể đi nước ngoài, vượt biển để học làm, thành công và phát tài.
Thiên Di có thiên khôi chỉ quý nhân, trước 40 khi ra ngoài hay gặp những người đứng đầu các lĩnh vực trợ giúp, sau 40 thì là quý nhân của người khác, tức giúp đỡ người khác cũng coi là phát được cái phúc ra ngoài.
Thiên khôi cư thiên di thì người ngoài nhìn vào đương số là người giản dị, nhẹ nhàng, đa tài, có nóng tính cũng chỉ là đôi khi và do ép buộc.
Có nguyệt đức, phi liêm, từ phù, kiếp sát – lúc ra ngoài hay đặt nhiều nghi ngại, đi xa về gần, làm việc thiện.
Nhiều việc quan trọng, đướng ố đi làm vào buổi tối, sau giờ tan tầm từ thân tới giờ sửu thì dễ thành công.
Thiên Di nhị hợp cung tử, đương số nhiều lần phải đi giải quyết chuyện con cái gây ra – dù đương số và con không hợp tính nhưng luôn phải lo lắng.
Sau khi lập gia đinh, lập thân:
Thân cự đồng hóa lộc, địa không, quốc ấn, bệnh phù đất suy. Sức khỏe kém đi, miệng nói ra tiền, có danh có tiếng, uy nghi, nói được làm được. Là quý nhân của người khác, khả năng ăn nói tốt nhưng dễ giúp người làm ơn mắc oán.
Tính sẽ dần hơi lười mà không quá chăm chỉ như trước.
Gia cảnh:
Phụ Mẫu cung Ngọ có Tử Vi là đế cư đế vị quyền tinh, cha mẹ dễ làm nhà nước và có danh tiếng quý hiển. Có kinh dương (h), cha mẹ mệnh tạo hay có cãi nhau. Cha của đương số có thể làm nhà nước về ngành kim khí – kĩ thuật.
Kết hợp với đó có Thái Tuế, cha mẹ thiếu hòa khí, hay có sự tranh chấp. Cha mẹ và đương số không hợp tính. Tuy vậy, đướng số vẫn nể sợ cha mẹ.
Thiên Quý cư phụ mẫu thì bản thân đương số sẵn sàng bỏ công sức, làm mọi việc để tăng phúc thọ cho cha mẹ.
Có Lực Sĩ thì sức khỏe cha mẹ đương số cũng tốt, không mấy khi ốm đau bệnh tật.
Cung phụ mẫu ở Ngọ, cung Dương lấy sao từ cung Nhị hợp là cung Mùi có Thanh Long, cho thấy cha mẹ đương số là người có học, có công đèn sách. Cha mẹ đương số cũng là người có khả năng ăn nói lưu loát, có tài ăn nói. Cha mẹ đương số cũng không có bệnh di truyền gì truyền lại cho đương số.
Thái Dương ngộ Tuần, Thái Âm bị hỏa tinh, kiếp sát đánh phá nên chưa coi là đẹp. Phúc thọ của cha mẹ đương số chưa coi là trường.
Về huynh đệ tỉ mụi trong nhà, bản thân cho rằng tối đa có thêm một người. Cũng không hợp tính nhau, do cả bản thân đương số và người cùng bào.
Người này có nhiều sở thích xấu như ăn chơi, chi tiêu quá đà, dễ dính tới kiện tụng.
Về phúc đức vô chính diệu thì theo cụ Thiên Lương thì là tốt. Phúc ở cung thổ là thế vững vàng. Xung chiếu có Cự Đồng, Lưu Hà mộ dòng họ dễ có ruộng, nước ở xung quanh. Tuy vậy chưa được đẹp, vẫn cần đóng góp để ton tạo tu bổ. Đương số cũng phải bỏ nhiều công sức, tiền bạc để chăm nom tạo phúc dương tại đây.
Sao Thiên Tài cư Di, Thiên thọ cư Phúc- đương số đối xử tốt với bên ngoài thì ắt phúc sẽ tốt.
Thiên Không cư phúc VCD có địa không, Hỏa Tinh chiếu về thì phúc chưa cường cần vun đắp. Số này dễ đi xa lập nghiệp, gặp nhiều khó khăn.
Về gia đạo:
Cung điền trạch có ân quang, trong nhà thờ cúng đang hoàng. Gia đình sống có nề nếp, gia giáo, biết nhường nhịn nhau trọn đạo phu thê, cha con.
Cung Thê Thiếp an tại mão thuộc tam hợp cục Hợi mão Mùi hành Mộc, Mệnh Thủy thì tương sinh cho nhau. Âm Dương chưa được coi là sáng sủa. Do đó, vợ chồng vẫn sống được với nhau dù có nhiều trắc trở. Hành của đướng số sinh xuất cho hành của thê thiếp thì yêu bớt bản mệnh, vợ dễ nắm chủ đạo.
Hai vợ chồng có giúp nhau qua lại nhưng hạn chê.s
Cung thê nhị hợp với cung Nô, cung thê là âm mộc xuất sang cung Tuất là Dương thổ. Vợ của đương số chủ động kết thân và quen thân với bạn bè của Đương số.
Vợ chồng đương số dễ nảy sinh quan hệ trước hôn nhân do có Phục Binh – Đào Hoa.
Có sao đẩu quân, thien hỉ, vợ đương số là người hay nói, cũng vui vẻ, tính hòa đồng tốt lành. Có năng lực nghiên cứu, truyền tải kiến thưc, nói chung là có năng lực sư phạm tốt.
Sao đẩu quân, thái dương có sự chậm muộn trong hôn nhân nhờ tuần giảm bớt sự xấu này đi cũng coi là tốt.
Vợ đương số khá khắc khẩu, xung khắc với anh anh của đương số.
Vợ đương số hay có việc giấu trong lòng, hạn chế chia sẻ với đương số, sau một thời gian chán chê mê mỏi mới nói ra.
Vợ đương số có thể là con thứ 2 trong gia đình vợ.
Về con cái; Con cái của đương số sinh ra có sức khỏe chưa tốt, nhiều bệnh. Con của đương số lúc bé gầy lớn lên béo tốt.
Con của đương số đi làm dễ nắm quyền, nói có uy. Khá tin vào bói toán, tướng số. Việc học có chút lỡ dở mà không học cao hẳn lên.
Con cái chủ đương số khá có năng khiếu chuyện bắt chó, bắt mèo. Khả năng tư duy tốt. Được cho ăn học tốt và có kiến thức.
Con cái đương số thích tích cóp, có khả năng tích rút kinh nghiệm nhanh chóng, suy nghĩ thoáng đạt và thích động hơn tĩnh lặng.
Cung tử tức an tại Dần khá là vượng, dù có vũ khúc, thiên tướng gặp tuần nhưng chắc sẽ có từ 2-3 con mà không phải một.
Về công danh sự nghiệp:
Quan Lộc ở đất Dậu, thì thường là người làm nghề chứ không phải lãnh đạo hay buôn bán lớn.
Có Thiên Việt trong công việc hay gặp người giỏi. Đương số cũng là người khá quyết đoán trong công việc.
Quan VCD – đương số không quá quan tâm tới chức tước.
Hữu bật cư quan, đương số đa phần là trợ lý giúp đỡ.
Có hoàn loan – đương số sớm có danh có tiếng trong công việc. Thiện về làm quảng cáo, quan hệ công chúng, sale, marketing.. Hồng loan cư quan chiếu mệnh thì cũng là người có làn da trắng.
Tướng quân cư quan thì trong công việc có sự ương bương, không nển sợ ai, hay bạo miệng. Phong cách làm việc không hợp lý, hay phải làm việc quá giờ, làm thêm giờ, làm đêm ảnh hưởng sức khỏe. Quan ở đất mộc dục, hồng loan - Trong công việc dễ có đồng nghiệp nữ thích, dễ vướng lưới tình một đêm.
Đồng nghiệp nơi làm việc của đương số là người có bằng cấp, có chức vị, làm việc liên quan tới tài chính, luật tài chính và hay dính phải điều tiếng. Đương số hay bị thua thiệt trước đồng nghiệp bởi họ hay sử dụng những mẹo nhỏ, khôn vặt để vượt lên và cũng hay gặp phải hình phạt, vấn đề pháp luật liên quan tới việc tắc trách khôn vặt đó. Đương số do có phong thái làm việc bạo ngôn nên hay có tranh cãi, điều tiếng với đồng nghiệp về cách hành xử. Tuy vậy đồng nghiệp của đương số có khả năng tranh luận, tranh tụng tốt và lấp liếm được nhiều việc nhỏ.
Cung tài bạch ở đất sửu âm thổ, tài ở thổ tức tài nhập kho khố là lợi. Tài suy thì tiền bạc ngày một kém. Có bệnh phù thì gặp nhiều trục trặc. Đương số dễ làm về các ngành liên quan tới khả năng ăn nói, giao tiếp, nói ra tiền. có thể làm về tư vấn, lời nói có trọng lượng, trong việc kiếm tiền, chia tiền có tiếng nói quyết định. Tuy vậy việc kiếm tiền chi tiêu có vấn đề lớn. Dễ chi quá đà, có việc xay ra mà hao hán tiền của không theo mong muốn.
Tài nhị hợp tật, tài cung âm thổ xuất sang dương thủy cung Tý. Dòng tiền chảy nhiều về cung tật ách, chi nhiều cho việc giải quyết khó khăn, tai ách nhưng chi một cách đúng mực.
Phá quân cư điền thì tiền cũng chảy một khaorn lớn vô điền trạch và mất tiền cho khoản điền trạch cũng lớn.
Điền là kho khố, điền cư cung thân nhị hợp cung tị, cung tứ sinh rất tốt thì coi như điền sản vững vàng. Mã ngộ trường sinh đắc lộ thanh vân, có tiểu hao. Nhà dù hơi méo nhưng nở hậu. Có lộc về buôn bán nhà đất nhưng lúc được lúc mất.
Phá quân thuộc thủy hao tinh, nên có hao hụt. Tiểu hao (D) chủ động, tích tụ nên có thể thấy có thời gian bác làm về chuyện nhà đất buôn bán. Có thể thấy cung điền của bác vững vàng, dù lúc được lúc mất những cũng tích tụ được một diện tích đất không nhỏ, và không chỉ 1 mảnh.
Ân quang cư điền tức sẽ được của thừa kế của cha mẹ để lại, không nhiều.
Về hậu vận:
Ngày tang ma thì vẫn có làm cơm mặn. Tật có văn xương thì giảm thọ của đương số.
Ngày chết có nhiều nến, nhiều hoa viếng, nhiều bàn ghế.
Có người viết bài điều văn rất hay, rất mùi mẫn.
Có nhà sư hoặc cha sứ tới niệm.
Lúc mất dễ chỉ có 1,2 người ở bên.
Đương số được chào đón ở thế giới bên kia.
Về đại vận:
Lúc nhỏ hơi khó nuôi, dễ bị ngã cây. Năm 12-13 tuổi người lắm nụn nhọt.
Đại vận 12-21, mệnh thủy khắc cung hỏa, tam hợp mệnh bình hòa với tam hợp cung. Đại vận có tử vi, thái tuế, lực sĩ – Kình Dương.
Đại vận tử vi, thái tuế gặp nhiều, dễ có thành công thành đạt. Có kinh dương – lực sĩ, lý quảng nan phong, có những việc dù cố gắng nỗ lực nhưng lại chưa thành công theo ý mình, coi như làm công cốc. Dễ có chuyện mổ xẻ.
Đại vận 22-31, đại vận cung thổ là chủ có chuyện thay đổi lớn trong đời. đại vận vcd, thiên không đất dưỡng. Đại vận này đương số phải năng đi lại, làm việc có thành ít nhưng bại nhiều. Có lúc tưởng như mất phương hướng, lang bạt vô định nhưng tích cóp được nhiều kinh nghiệm. Nhiều khả năng bác lấy vợ trong đại vận này.
Đại vận 32-41, đại vận cung Thân, tam hợp Thân Tí Thìn – Thủy khắc Dần Ngọ Tuất bản mệnh thì thiên thười xấu. Cung Thân thành kim sinh xuất cho bản mệnh Thủy, địa lơi tốt. Nhập hạn Trúc La – Sát Phá Tham thì rất xấu cho người mệnh thiên cơ. Vận có mã ngộ trường sinh đắc lộ thành vân, có tiểu hao (D) thì vận này ăn nên làm ra dù không nhiều nhưng có tích cóp so với vận trước. Công việc gắng sức mà làm cũng có thành công.
Đại vận 42-51, tam hợp Hỏa khắc tam hợp đại vận cung Dậu hành Kim là mình khắc chế được đại vận, mình chế áp được những việc xảy ra thì có phấn đấu sẽ có thành quả. Dù khó khăn thì mình vẫn chiến thắng được.
Địa lợi, vận Kim sinh cho Thủy là tốt.
Tam hợp có hóa lộc, hóa quyền là cầu công danh, lơi lộc tốt. có thể phát tài.
Vận có không kiếp đánh phá, đầu tư nhiều dễ gặp vận rủi trắng tay.
Có hồng loan, địa kiếp – dễ gặp đau ốm, phải mổ nhưng sớm khỏi.
Dễ nảy sinh quan hệ ngoài luồng, tình cảm gia đình có điều không hợp ý.
Có sinh ly tử biệt.
Tổng hợp lại là vận này có mưu cầu được danh lợi, tiền bạc nhưng cũng có mất mát lớn. Lúc kiếm rất nhiều, lúc mất rất nhiều.
Đại vận 52-61, cung Tuất – Dương thổ là có sự biến động lớn.
Tam hợp mệnh bình hòa với Tam Hợp đại vận – bình thường. đại vận cung thổ khắc mệnh Thủy, xấu, địa lợi không thuận.
Vận này có nhiều biến động, có hóa kị, thiên hình, quan đới thì vận này khó thoát khỏi kiện tụng, tranh cãi, bệnh nặng một hồi.
Tạm thế này vậy.
Mong bác phản hồi lại.




