Luận tuổi vợ chồng

Các bài viết trao đổi học thuật về môn thiên văn
Nội qui chuyên mục
Các bài viết trong chuyên mục này mang tính nghiên cứu và nghiệm lý. Không được đăng lá số để nhờ xem ở đây.
TAT
Nhị đẳng
Nhị đẳng
Bài viết: 399
Tham gia: 11:52, 05/03/12
Đến từ: Nha Trang-Khánh Hòa

Re: Luận tuổi vợ chồng

Gửi bài gửi bởi TAT »

^^! Bài Viết Kinh Vậy.
Thân!
Đầu trang

begauhn
Tứ đẳng
Tứ đẳng
Bài viết: 835
Tham gia: 19:03, 29/12/12

Re: Luận tuổi vợ chồng

Gửi bài gửi bởi begauhn »

tinhvo đã viết: 00:16, 17/06/12
Luận tuổi vợ chồng[/CENTER ALIGN]

Không ai là không muốn Vợ chồng sinh sống êm ấm gia đình hạnh phúc, làm ăn phát đạt. Từ xưa việc chọn một người hợp tuổi và tính cách để kết hôn là một điều rất quan trọng. Tuổi tác của một cặp vợ chồng là rất quan trọng, nó quyết định sự thành bại của gia đình. Khi một cặp vợ chồng hợp nhau, giúp đỡ nhau trong công việc và tình cảm thì gia đình hạnh phúc và phát đạt. Khi một cặp vợ chồng ngày nào cũng cãi lộn, tình cảm không mặn nồng thì gia đình làm sao có thể hạnh phúc được? Khi không có hạnh phúc thì công việc và cuộc sống sẽ đi xuống, làm ăn thua lỗ, sự nghiệp lụy tàn. Cho nên chọn đúng người để kết hôn là rất cần thiết.
Trong nhân gian lưu truyền phương pháp chọn tuổi vợ chồng mà tôi sẽ cùng chia sẽ cùng các bạn đọc ở bài viết này. Vậy thì phương pháp này dựa vào đâu và cái lý luận của nó như thế nào để làm nền tẳng vững chắc mà làm theo?
Khi xét tuổi vợ chồng có 4 yếu tố quan trọng trong âm dương ngũ hành cần xem xét: Thiên Can, Địa Chi, Mệnh, và quan trọng nhất đó là yếu tố NHÂN (con người: tính tình).
Mỗi một năm sinh có Thiên Can, Địa Chi, và Mệnh. Mỗi Thiên Can và Địa Chi có một ngũ hành đi cùng.
Hành của hàng Can như sau:
- Giáp: Dương Mộc
- Ất: Âm Mộc
- Bính: Dương Hoả
- Đinh: Âm Hoả

- Mậu: Dương Thổ
- Kỷ: Âm Thổ
- Canh: Dương Kim
- Tân: Âm Kim
- Nhâm: Dương Thuỷ
- Quý: Âm Thuỷ

Hành của Chi như sau:
- Tí : Dương Thuỷ
- Sửu: Âm Thổ
- Dần: Dương Thổ
- Mão: Âm Mộc
- Thìn: Dương Thổ
- Tỵ: Âm Hoả
- Ngọ: Dương Hoả
- Mùi: Âm Thổ
- Thân: Dương Kim
- Dậu: Âm Kim
- Tuất: Dương Thổ

- Hợi: Âm Thuỷ
Lục Thập Hoa Giáp (mệnh):
Việc sắp đặt thành lục thập hoa giáp là công của Đại Nạo thị, nhưng việc nạp âm lại do Quỷ Cốc Tử. Ngài tên là Vương Hũ, ẩn thân tu dưỡng tại hang quỷ cốc, rừng Thanh Lâm vào cuối đời nhà Châu, vì thế người đời mệnh danh là Quỷ Cốc Tử. Nối tiếp sự nghiệp của Quỷ Cốc Tử , Man - Xiến Tử tức là Đông phương Sóc mới hoàn thành tượng và danh từ lục thập hoa giáp.
- Giáp Tý - Ất Sửu là Hải Trung Kim.
Tý thuộc thuỷ, lại là hồ, nơi vượng của thuỷ và cũng là nơi tử của kim, kim gặp mộ ở Sửu. Thuỷ vượng mà Kim thì tử, mộ, do đó mới lấy tenlà Hải trung kim. Hình kim đi vào thuỷ lộ, tính yếu thể mạnh.

- Bính Dần - Đinh Mão là Lô Trung Hoả:
Dần là tam dương, Mão là tứ dương, nơi đây hoá đắc vị lại được Dần Mão mộc sinh hoả. Lúc đó trời đất là lò, muôn loài mới sinh, cho nên mới gọi là Lô Trung Hoả. Trời đất là lò, âm dương là than. Hình tới dương địa, thế lực càng tăng núi non cao vút.

- Mậu Thìn - Kỷ Tỵ là Đại Lâm mộc:
Thìn là đồng ruộng, Tỵ là lục dương, mộc đến chỗ lục dương thời cành lá xum xuê, cho nên lấy tên là Đại Lâm mộc, tiếng reo khắp chín phương trời, bóng che muôn dặm. Nơi đây rồng rắn tàng hình, khí tụ thành hình, lộ ra mộc.

- Canh Ngọ Tân Mùi là Lộ bàng thổ: ở trong Mùi có Mộc và sinh cho ngọ Hỏa thàng vượng. Vì Hỏa quá vượng nên mùi thổ bị hình, do đó thổ ở đây không đủ khả năng để sinh dưỡng vạn vật, đó là thể chất của đất ven đường.

- Nhâm Thân -Quý Dậu là Kiếm phong kim: Thân Dậu là chính vị của Kim, và Kim đến cung Thân là Lâm quan, ở đây Kim ở thế sinh vượng nên thật cứng rắn, kim cứng rắn không gì hơn là ở mũi kiếm vì thế gọi là Kiếm phong Kim.

- Giáp Tuất - Ất Hợi là Sơn đầu Hỏa: Tuất Hợi là cửa Trời, hỏa chiếu ở cửa trời thời ánh sáng cao vọi cho nên mới gọi là Sơn Đầu hỏa.

- Bính Tý - Đinh Sửu là Giản hạ thủy: Thủy vượng ở Tý , suy ở Sửu, vượng rồi lại suy thời khó thành sông biển cho nên lấy tên là giản hạ thủy (nước dưới khe).

- Mậu Dần - Kỷ Mão là Thành đầu thổ: Mậu kỷ thuộc Thổ, Dần thuộc cung Cấn là núi , vì vậy đất chưa thành núi mới lấy tên là đất trên chóp thành.

- Canh Thìn - Tân Tỵ là Bạch lạp kim: Kim gặp dưỡng ở Thìn, sinh ở Tỵ, hình chất mới thành, chưa được rắn cứng vì vậy gọi là vàng sáp ong.

- Nhâm Ngọ - Quý Mùi là dương liễu mộc: Mộc gặp Tử ở cung ngọ và mộ ở mùi, mộc ở vào thế Tử Mộ, dù có được thiên can là Nhâm Quý sinh cho cũng chỉ là loại mộc yếu ớt vì thế lấy tên là Dương liễu mộc.

- Giáp Thân - Ất Dậu là Tuyền trung thủy: Kim gặp lâm quan ở Thân, đế vượng ở Dậu, kim ở thế sinh vượng thời nhờ đó mà thủy được sinh. Nhưng thủy ở vào lúc mới sinh, lực lượng chưa lớn cho nên lấy tên là nước trong suối.

- Bính Tuất - Đinh Hợi là ốc thượng thổ: Bính , đinh thuộc hỏa, Tuất hợi là thiên môn, hỏa đã bốc cháy lên, thời thổ không thể sinh ra ở dưới, cho nên lấy tên là đất trên nóc nhà.

- Mậu Tý - Kỷ Sửu: là Tích lịch hỏa: Sửu thuộc Thổ, Tý thuộc Thủy, Thủy ở Tý là chính vị, vậy mà nạp âm lại là Hỏa, như vậy trừ phi Hỏa này là do Long thân sinh ra thời không có Hỏa nào khác, cho nên lấy tên là lửa sấm sét.

- Canh Dần - Tân Mão là Tùng bá mộc: Mộc gặp lâm quan tại Dần, Đế vượng ở Mão, Mộc ở thế sinh vượng thời không thể so sánh với những loại mộc yếu ớt, cho nên gọi là Tùng bá mộc.

- Nhâm Thìn - Quý Tỵ là Trương Lưu Thủy: Thìn là Mộ khố của Thủy, Tỵ là trường sinh của Kim, Kim sinh Thủy, Thủy được tồn trữ ở Thìn lại được Kim sinh ở Tỵ, dòng suối không bao giờ hết cho nên mệnh danh là dòng nước chảy dài mãi mãi.

- Giáp Ngọ - Ất Mùi là Sa Trung Kim: Ngọ là nơi Hỏa vượng, Hỏa vượng thời kim phải nát, Mùi là nơi Hỏa suy mà Kim lại ở vào vị trí quan đới. Kim ở vào thế bại và quan đới chưa có, khả năng công phạt nên gọi là vàng lẫn cát.

- Bính Thân - Đinh Dậu là Sơn Hạ Hỏa: Thân là Địa Hộ (cửa của đất , vì thân thuộc quẻ Khôn), Dậu là vị trí Mặt trời đi vào bóng tối, mặt trời đến đấy thời ánh sáng bị che khuất nên gọi là lửa dưới núi.

- Mậu Tuất - Kỷ Hợi: là Bình địa Mộc: Tuất được coi là đồng ruộng (giống như Thìn), Hợi là vị trí sinh của Mộc. Mộc đã sinh ở đồng ruộng bao la thời không chỉ giới hạn ở một cây, một gốc nên gọi là Mộc ở bình nguyên.

- Canh Tý - Tân Sửu là Bích thượng thổ: Sửu là vị trí chính của Thổ, nhưng Tý là nơi vượng của Thủy. Thổ mà gặp chỗ nhiều Thủy thời là đất bùn dùng để trát vách nên mới gọi là đất trên vách.

- Nhâm Dần - Quý Mão là Kim Bạch Kim: Dần Mão là nơi Mộc vượng, Kim suy, kim hoàn toàn bất lực cho nên gọi là vàng thếp (dùng để dát chữ trên câu đối, hoành phi...)

- Giáp Thìn - Ất Tỵ là Phú đăng hoả: Thìn là lúc dùng bữa, Tỵ là mặt trời lên khá cao, mặt trời sắp đến ngọ thì ánh sáng rực rỡ tràn ngập bầu trời ví như ngọn đèn chụp treo lơ lửng giữa nhà.

- Bính Ngọ - Đinh Mùi là Thiên hà thuỷ: Bính Đinh thuộc hoả, ngọ là vị trí vượng của Hoả thế mà nạp âm là thuỷ, như vậy là thuỷ bắt nguồn từ hoả trừ phi thuỷ ở sông ngân, sông hán trên trời thời không có thứ thuỷ nào khác, vì vậy gọi là Thuỷ ở thiên hà.

- Mậu Thân - Kỷ Dậu là Đại dịch thổ: Thân nằm trong vị trí của quẻ Khôn, Khôn là đất . Dậu nằm trong vị trí quẻ Đoài, đoài là chằm (???). Mậu Kỷ cũng là Thổ lại vào ở vị trí của đất và chằm tất nhiên là loại đất phù sa mỏng manh, nên gọi là Đại dịch Thổ (chữ Dịch theo nghĩa cận đại là trạm dùng để đưa thư).

- Canh Tuất - Tân Hợi là Thoa xuyến kim: Kim đến Tuất thì gặp suy, đến Hợi gặp Bệnh. Kim mà gặp suy bệnh là thứ vàng non yếu nên gọi là vàng để trang sức.

- Nhâm Tý - Quý Sửu là Tang đố mộc: Tý thuộc thuỷ, Sửu thuộc Kim (Thân - Tý - Thìn Thuỷ, Tỵ - Dậu - Sửu Kim) Mộc ở đây vừa được Thuỷ sinh nhưng lại bị Kim khắc , giống như cây dâu được tưới nước cho xanh tốt rồi dùng dao mà chặt cho nên gọi là Tang đố mộc (cây dâu) rất sợ gặp kim.

- Giáp Dần - Ất Mão là Đại Khê Thuỷ: Dần và Mão đều thuộc phương Đông, nước chảy về Đông là thuận dòng chảy nên nước ở sông ngòi ao đầm đều nhập lại mà chảy theo nên gọi là đại khê thuỷ (khê là nước từ các khe núi chảy xuống).

- Bính Thìn - Đinh tỵ là Sa trung thổ: Thổ gặp mộ khố ở Thìn mà tuyệt ở Tỵ. Vậy mà Bính ĐInh là Hoả gặp quan đới ở Thìn, lâm quan ở Tỵ, Thổ gặp mộ tuyệt nhờ gặp Hoả vượng mà tái sinh nên gọi là thổ ở trong cát.

- Mậu Ngọ - Kỷ Mùi là Thiên Thượng Hoả (đời xưa gọi là Viên thượng hoả). Ngọ là vị trí vượng của Hoả, Mộc ẩn ở trong Mùi lại có cơ hội sống lại (1). Đặc tính của Hoả là bốc lên, nên gọi là lửa trên trời.

- Canh thân - Tân Dậu là Thạch lựu Mộc: Thân là tháng bảy, Dậu là tháng tám. Ở vào thời điểm này nói chung các lại mộc đều tiêu điều vì lâm vào vị trí tuyệt, chỉ có cây thạch lựu là kết quả vào tháng 7 tháng 8. Vì vậy mới lấy tên là Thạch lựu mộc.

- Nhâm Tuất - Quý Hợi là Đại Hải thuỷ: Tuất là vị trí quan đới của Thuỷ và Hợi là vị trí Lâm quan. Ở vị trí này lực lượng của Thuỷ rất hùng hậu. Hơn nữa Hợi cũng là sông lớn không thể so sánh với thuỷ ở khe suối nên gọi là đại hải thuỷ.
NGŨ HÀNH SINH KHẮC
Sinh:
- Kim sinh Thuỷ
- Thuỷ sinh Mộc
- Mộc sinh Hoả
- Hoả sinh Thổ
- Thổ sinh Kim
· Kim sinh Thuỷ, vì nấu thì chảy thành nước lỏng
· Thuỷ sinh Mộc, vì nước nuôi cây tươi tốt.
· Mộc sinh Hoả, vì cây cháy thành lửa
· Hoả sinh Thổ, vì lửa đốt mọi vật thành đất.
· Thổ sinhKim, vì trong đất có sinh quặng kim khí.

Khắc:
- Kim khắc Mộc
- Mộc khắc Thổ
- Thổ khắc Thuỷ
- Thuỷ khắc Hoả
- Hỏa khắc Kim
· Kim khắc Mộc, vì đao kiếm kim khí chém được gỗ.
· Mộc khắc Thổ, vì cây che đất,hút chất thổ của đất.
· Thổ khắc Thuỷ, vì đất hút nước và ngăn chặn nước.
· Thuỷ khắc Hoả, vì nước dập tắt lửa.
· Hoả khắc Kim, vì lửa thiêu huỷ kim khí.
Ngũ hành sinh khắc và nguyên tắc Âm Dương đều thiết yếu trong việc giải đoán,

nên cần phải nhớ!

Còn tiếp
Xin có chút đóng góp ý kiến .
Kim khắc Mộc . Nhưng cũng tạo thành thế điêu khắc , nhờ có kim , mộc mới thành bàn thành ghế , thành vật hữu dụng , trải qua tôi luyện mà trưởng thành . 1 khúc gỗ vô chi làm sao so sánh đc các tác phẩm điêu khắc gỗ nghệ thuật , các vật dụng hữu ích .

Mộc khắc thổ , nhưng cũng giúp thổ trở nên có giá trị . 1 mảnh đất cằn cỗi sỏi đá , sao có giá bằng 1 mảnh đất màu mở cây trái phì nhiêu .
Tiếp nữa nếu ko có mộc trên đất , lấy đâu ra Hỏa mà sinh ngược lại mộc , phải có chất đốt là mộc , mộc bị đốt thành tro , tro bồi lại xuống đất , ấy mới là tương sinh . Vì vốn Hỏa ko thể tự sinh ra Thổ , nếu Thổ ấy ko có Mộc ở trên ,

Tương tự nếu ko có Hỏa , Kim ko thể thành vật hữu dụng , 1 miếng sắt ko nung ko rèn trong lửa , làm sao thành kiếm báu đc .

Bản chất ngũ hành , vốn ko có tương sinh tương khắc , chu kỳ khắc sẽ mở ra 1 chu kỳ sinh , tất cả đều ràng buộc chặt chẽ ko tách rời , tất cả đều cần có nhau , đây là mối quan hệ cần , chứ ko phải khắc .
Người xưa truyền đạt lại ngắn gọn và dễ hiểu nhất , nhưng chính sự ngắn gọn ấy , vô hình chung sinh ra hiểu lầm trong sách , 1 cuốn sách luôn muốn truyền đạt đủ ý , và theo hướng copy , tái bản bổ xung , vì sao phải tái bản ? Vì nó còn thiếu .
Ko cuốn sách nào dám chắc đây là lần tái bản cuối cùng , cái đích của ngũ hành vốn phải giải nghĩa là tương trợ mật thiết với nhau , chứ ko thể giải nghĩa theo hướng xung khắc .
Được cảm ơn bởi: Qúy Dậu
Đầu trang

Trả lời bài viết

Quay về “Nghiên cứu thiên văn”