Vô tình mày mò và phát hiện ra lá số Tử Vi của cụ Nguyễn Đình Chiểu đem lên để mọi người cùng thảo luận và nghiệm chứng. Đọc thơ “Lục Vân Tiên”, bỗng cảm đây là đang gửi gắm chính mình vào câu truyện, kể về cuộc đời Lục Vân Tiên nhiều cảm thán thấm đẫm đạo lý “không thành công cũng thành nhân.” “ Hiếu tử là hiếu tận “ giữ trọn đạo nghĩa và nhân cách.
Lục Vân Tiên là hình bóng phản chiếu phần nào cuộc đời của cụ, giữa hai cuộc đời có những mốc biến cố giống nhau: đều đi thi đỗ đạt, được nhà họ Võ hứa gả con gái, sau đó vì biến cố gia đình mà phải trở về chịu tang mẹ, rồi lâm vào cảnh mù lòa. Đây không phải sự trùng hợp ngẫu nhiên, mà cụ đang lấy cuộc đời mình để làm sườn cho câu chuyện, “ Lục Vân Tiên “ là nhân vật hư cấu mà cũng là khắc hoạ lại chính bản thân tác giả Nguyễn Đình Chiểu.
1 - Nguyễn Đình Chiểu là ai ?
Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày 13 tháng 5 năm Nhâm Ngọ (1 tháng 7 năm 1822) tại quê mẹ là làng Tân Thới, phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc phường Cầu ông Lãnh, Thành Phố Hồ Chí Minh). Mất 3 tháng 7 năm 1888 thọ 66 tuổi. ( 67 tuổi âm )
Tục gọi là cụ đồ Chiểu (khi dạy học), tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai (sau khi bị mù), là một nhà thơ lớn của miền Nam trong nửa cuối thế kỷ 19. Vào ngày 21/3/2021, ông được UNESCO công nhận là Danh Nhân Văn Hoá Thế Giới. Năm 1932 khu lăng mộ của ông đã được nhà nước công nhận là Khu di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia. Đến năm 2017, khu di tích này tiếp tục được Bộ VH-TT&DL cấp bằng công nhận Khu di tích văn hoá, lịch sử cấp Quốc gia đặc biệt.
A - Tác phẩm nỗi bật:
- Lục Vân Tiên ( khoảng 1851 )
- Dương Từ Hà Mậu ( Khoảng 1854 )
- Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Duộc ( 1861 )
- Ngư Tiểu Y Thuật Vấn Đáp ( Khoảng 1867 )
Và những tác phẩm khác...
B - Mốc biến động cuộc đời nỗi bật:
- Năm Quý Mão (1843): Cụ đỗ Tú tài tại trường thi Gia Định, khi 21 tuổi (22 tuổi âm). Lúc bấy giờ có một gia đình họ Võ ngỏ ý hứa gả con gái cho cụ. ( Đại Vận Quý Mão 14 – 23. Hạn khoa cử - Tình duyên chưa cưới gã )
- Năm 1847: Cụ ra Huế tiếp tục học để chờ khoa thi Kỷ Dậu (1849). Trong chuyến đi này, cụ dẫn theo em trai là Nguyễn Đình Tựu, khi ấy mới khoảng 10 tuổi. Biến cố ập đến mẹ mất và tai họa mù lòa.
- Năm 1848, mẹ cụ qua đời tại Gia Định. Nghe tin dữ, cụ lập tức bỏ kỳ thi, dẫn em theo đường bộ trở về Nam để chịu tang mẹ. Do quá thương khóc mẹ, đến Quảng Nam cụ lâm bệnh nặng. Trong thời gian ở lại chữa bệnh tại nhà một thầy thuốc thuộc dòng dõi Ngự y, tuy bệnh không khỏi hẳn nhưng cụ đã học được nghề thuốc. Cụ rơi vào cảnh mù lòa, lại thêm việc hôn ước bị bội ước, gia cảnh sa sút. Cụ đóng cửa chịu tang mẹ cho đến năm 1851, sau đó mới mở trường dạy học và bốc thuốc tại Bình Vi (Gia Định). Nhiều khả năng truyện thơ Lục Vân Tiên cũng được cụ bắt đầu sáng tác vào giai đoạn này.
( Đại Vận Giáp Thìn 24-33. Hạn tang mẹ - Tai hoạ mù loà – Từ hôn cưới hụt )
Năm 1854: Cụ kết hôn với Lê Thị Điền. ( Đại Vận Giáp Thìn 24-33. Hạn Lấy Vợ ).
2 – Trích thơ Lục Vân Tiên làm căn cứ tìm lá số.
Vân Tiên nghe nói liền thưa:
"Tiểu sanh chưa biết nắng mưa buổi nào.
Song đường tuổi hạc đã cao
Xin thầy nói lại âm hao con tường".
Tôn sư nghe nói thêm thương,
Dắt tay ra chốn tiền đường coi trăng.
Nhân cơ tàng sự dặn rằng:
"Việc người chẳng khác việc trăng trên trời.
Tuy là soi khắp mọi nơi,
Khi mờ khi tỏ khi vơi khi đầy.
Sau con cũng rõ lẽ này,
Lựa là con phải hỏi thầy làm chi?
SỐ CON HAI CHỮ KHOA KÌ,
KHÔI TINH ĐÃ RẠNG, TỬ VI THÊM LOÀ
Hiềm vì ngựa chạy đường xa,
Thỏ vừa ló bóng gà đà gáy tan.
Bao giờ cho tới bắc phang,
Gặp chuột ra đàng con mới nên danh.
Sau dầu đặng chữ hiển vinh,
Mấy lời thầy nói tiền trình chẳng sai.
Trong cơ bĩ cực thới lai,
Giữ mình cho vẹn việc ai chớ sờn".
Thơ Lục Vân Tiên - Nguyễn Đình Chiểu
Trước khi đi xa thầy của Lục Vân Tiên đã đoán số cho học trò rằng: Vân Tiên sinh năm Ngọ, tới năm mão có tiếng tăm chút ít, nhưng qua năm dậu gặp nạn, thêm trắc trở công danh. Dẫn đến năm tý mới nên danh rỡ ràng. ( Nguyễn Đình Chiểu sinh năm ngọ, những mốc thời gian này cũng rất giống với ông )
A- Lá số Tử phủ ở cung Dần lấy theo 2 câu thơ “ Số con hai chữ khoa kì, Khôi tinh đã rạng Tử-vi thêm lòa “ .
[url=http://]http://
[/url]Phú tử vi : “ Văn khoa củng chiếu, Giả nghị niên thiếu đăng khoa “
- Sao văn-Khoa vây chiếu thì như Giả Nghị tuổi trẻ đăng khoa.( Xương-khúc, long trì, Thiên tài, Hoá khoá hội hợp )
Giả Nghị là một nhà chính trị, học giả và văn nhân nổi tiếng thời Tây Hán của Trung Quốc. Ông nổi tiếng vì tài năng xuất chúng khi còn rất trẻ, Khoảng hơn 20 tuổi đã nổi tiếng học rộng, giỏi chính luận.
Đến đại vận 14-23 tuổi, sao thiên khôi nhập vận ứng với câu “ Khôi tinh đã rạng mà mệnh Tử-vi thêm lòa “. Có bộ hồng-hỷ báo tin hỷ sự - tình cảm, cũng ứng với việc hứa gã nhưng gặp không- kiếp nên chưa báo chuyện cưới hỏi ngay.
B - Tại sao tài hoa hơn người mà không làm quan?
Cung quan lộc Liêm-Tướng rất đẹp, Thiên tướng là vui vẻ phục vụ, Liêm trinh làm làm quan viên công chức. Nhưng mà khó làm quan là vì Hoả-Linh giáp kề quan lộc thành bại cục. Mệnh lại chủ về người có danh tiếng.
-“ Hoá khoa độc hiềm Thiên Không Tuần không, ngộ tắc hư danh” – có danh mà không có lợi ích. ( ở đây tôi an Thiên Phủ - Hoá khoa nên hoá khoa ở mệnh gặp triệt không vong)
- Nếu an sao Văn Khúc – hoá khoa của can Nhâm, thì theo câu : “ Khoa – Quyền đối cũng, dược tam cấp vu vũ môn “ – thăng tiến vượt cấp chủ về người đỗ đạt.
Bài luận này chỉ mang tính khái lược nên khó tránh khỏi những chỗ thiếu sót. Mong quý thầy cùng các anh chị em yêu thích Tử Vi hoan hỷ góp ý, chia sẻ thêm góc nhìn của mình trên tinh thần giao lưu và học hỏi lẫn nhau.
Xin chân thành cảm ơn!
