Phần lớn sẽ luận là Thân nhược tài vượng
1/ 1 thầy bát tự manh phái khá nổi tiếng trên mạng xã hội luận là lá số này tân kim nhược tốt hơn tân kim vượng và cần dụng thủy
2/ 1 bác khác luận ngược lại phần lớn số đông là Tân kim, sinh sau lập xuân đúng 3 ngày, lúc này khí mộc chưa mạnh mà vẫn còn dư khí thổ của tháng Sửu, nhưng đã chuyển dương nên là Mậu thổ tư lệnh, Tân kim gặp Mậu là đắc thời, trụ năm có Mùi thổ, thấu Kỷ sinh Tân là đắc thế, đắc thời đắc thế là thân vượng. Nguyên đến đây là đã thấy khác hẳn các luận đoán theo lý thuyết khác rồi. Còn đối với Giáp tài thì sao, khí Mậu nắm quyền nên Giáp thất thời, được một thế từ Dần và một thế từ Hợi, thất thời được 2 thế thì thân vẫn nhược, kết luận là thân vượng tài nhược. Hợi chứa Mậu Giáp Nhâm, Nhâm sinh Giáp là cách cục thực thương sinh tài.
3/ 1 bác khác thì luận Tân kim sinh Hợi thủy (Thực thương), Hợi thủy lại tiếp tục sinh Dần mộc (Chính tài), tạo thành một dòng chảy Thực thần sinh Tài. Tuy nhiên, tháng Dần là nơi mộc đắc lệnh, tài tinh rất mạnh, trong khi Tân kim nhật chủ lại thường xuyên rơi vào thế yếu vì bị Hợi thủy tiết khí và Dần mộc tiêu hao.
"Tài tinh đắc viên tịnh phi phú, trùng khan thân chủ định vinh khô". Tài tinh đắc địa vượng (ở Dần) chưa hẳn đã là phú quý; cần xem xét kỹ thân chủ (Tân kim) mạnh yếu ra sao.
Lá số này sinh tháng Dần (Mộc vượng), trên thiên can lại thấu xuất Giáp Mộc, tạo thành thế Chính Tài cực kỳ cường vượng.
Nhật nguyên Tân kim vốn đã mềm yếu, lại bị hai chữ Hợi thủy ở chi ngày và chi giờ, cùng Quý thủy ở can năm thi nhau tả tiết nguyên khí (Kim sinh Thủy).
Lá này thuộc cách cục Giả tòng tài cách, không quan trọng nhật nguyên vượng hay suy. Tuy nhiên, do trên can giờ vẫn xuất hiện một Kỷ thổ (Ấn tinh) là thần trợ giúp cho Nhật chủ, mặc dù Kỷ thổ này hư nhược và bị khắc chế, nó vẫn khiến cho thế "tòng" bị pha tạp, không được thuần túy (tòng không chân).
Vì vậy, về mặt lý thuyết chính xác, đây là Giả Tòng Tài cách. Các vận sắp tới đi quá dày đặc thổ kim nên đánh giá lá số này không đẹp mà sẽ gian truân.


