Ví dụ số 22 : Nam bị mổ nặng may thoát chết

Qua sơ đồ trên ta thấy Thân nhược mà Thực Thương là kỵ thần 1 (hay nhiều vì có 2 can chi được lệnh) nên dụng thần đầu tiên phải là Kiêu Ấn (Kim), can làm dụng thần chính là Tân tàng trong Tuất trụ năm, hỷ thần là Thủy còn kỵ thần là Mộc, Hỏa và Thổ.
Tai họa xẩy ra vào năm Canh Ngọ (1990), nó thuộc đại vận Giáp Ngọ, tiểu vận Mậu Tý và Kỷ Sửu. Ta thấy Ngọ đại vận và Ngọ lưu niên hợp với Dần trụ tháng và Tuất trụ năm và Tuất trụ giờ hóa Hỏa thành công (vì Bính trụ năm làm thần dẫn).
Vì có 2 Tuất trong tứ trụ hợp với tuế vận hóa Hỏa khác hành nên phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm. Ta thấy Hỏa quá cường vượng nhưng không thể Tòng Hỏa vì có Nhâm trụ ngày là Quan Sát của Hỏa. Hỏa là hành kỵ vượng lại quá cường vượng nên tai họa dễ xẩy ra vào tháng Ngọ (của lưu niên 1990) thuộc tiểu vận Kỷ Sửu (vì đã qua ngày sinh nhật 17/2).
Giáp đại vận hợp Kỷ tiểu vận không thể hóa Thổ vì Kỷ tọa trên đất ướt là Sửu nên Giáp là Mộc sống (vì có Kỷ ướt nuôi nó hay Sửu tiểu vận không thể dẫn hóa cho can tiểu vận ?).
Điểm vượng của các can chi động trong tứ trụ chính là điểm vượng trung bình của chúng ở lưu niên. Do vậy Bính trụ năm động (vì khắc Canh lưu niên và Canh trụ tháng) nên điểm vượng trung bình của nó ở lưu niên Ngọ là: Có 2,7đv trong vùng tâm, 10đv tại Ngọ đại vận và 2 lần 10đv ở lưu niên Ngọ thành (2,7+10+2.10)/4đv = 8,18đv. Tính tương tự Canh trụ tháng có 5,72đv, Giáp trụ giờ có 4,5đv (động vì bị Canh lưu niên khắc), Tuất trụ năm có 7,93đv, Dần trụ tháng có 3,6đv và Tuất trụ ngày có 8,18đv (vì hợp với tuế vận). Điểm vượng của các hành trong vùng tâm sau khi tính lại được diễn tả trong sơ đồ trên.
Sau khi tính lại ta thấy Thân vẫn nhược nhưng Thực Thương (Mộc) không còn là kỵ thần 1 mà là Tài tinh (Hỏa). Do vậy dụng thần đầu tiên phải là Tỷ Kiếp (Thủy), nên can làm dụng thần chính là Quý tàng trong Thìn trụ năm, hỷ thần là Kim, các hành còn lại đều là kỵ thần. Hỏa thành hành kỵ vượng và quá vượng nên tai họa dễ xẩy ra vào các ngày đầu của tháng Ngọ (năm Canh Ngọ), nó thuộc tiểu vận Kỷ Sửu.
Tính thêm các can chi động ở tuế vận thì Giáp đại vận có 3đv, Kỷ tiểu vận có 7,5đv, Canh lưu niên có 7đv, Ngọ đại vận và Ngọ lưu niên mỗi chi có 10đv. Điểm vượng trong vùng tâm sau khi tính thêm ở tuế vận được diễn tả trong sơ đồ trên. Sau khi tính lại Hỏa được thêm 1đv (vì trong tứ trụ có 4 can chi Hỏa). Sau khi tính thêm ở tuế vận Hỏa được thêm 1,5đv (vì Hỏa có thêm 2 chi Hỏa ở tuế vận). Hỏa là kỵ vượng lớn hơn hỷ dụng 1 là Kim trên 30đv. Ta thấy nếu điểm kỵ vượng được tăng gấp 3 thì Tổng điểm hạn quá cao nên ta thử cho tăng gấp đôi xem sao ?
1 - Dụng thần Quý tử tuyệt tại lưu niên Ngọ có 1đh.
2 - Nhật can Nhâm hưu tù ở lưu niên có 0đh.
3 - Sửu tiểu vận có 1 hung thần có 0,13đh.
4 - Điểm hạn của tam hợp Hỏa có 5 chi được tăng gấp đôi có 2.5.0,25đh = 2,5đh. Điểm kỵ vượng của mỗi chi Ngọ hóa Hỏa được tăng gấp đôi có 2.0,5đh kỵ vượng.
5 - Bính trụ năm được lệnh và vượng ở lưu niên khắc Canh lưu niên và Canh trụ tháng mỗi lực có 0,7đh, có 0đh can động.
Canh lưu niên vượng ở lưu niên có -0,5đh can động bị giảm 70%đh (vì bị Bính khắc) còn -0,5.30%đh = -0,15đh. Canh khắc Giáp trụ giờ có 1đh nhưng bị giảm 70% (vì bị Bính khắc) còn 0,3đh.
Canh trụ tháng thất lệnh nhưng vượng ở lưu niên có -0,5đh can động nhưng bị giảm 70% còn -0,15đh. Canh khắc Giáp trụ giờ có 1.30%.50%đh = 0,15đh (bị giảm 70% do Bính khắc và giảm 50% vì cách 1 ngôi).
Giáp trụ giờ được lệnh nhưng nhược ở tuế vận có -0,5đh can động (điểm hạn này không bị giảm).
6 - Nạp âm Đất ven đường của lưu niên có Canh vượng ở lưu niên khắc Kim trong cát ở đại vận có 1đh nhưng bị giảm 75% vì bị Bính khắc 1 lực có 0,7đh còn 0,25đh. Chi của nạp âm là Ngọ đã hóa Hỏa có thể sinh cho nạp âm Đất ven đường của nó max 0,25đh, nhưng chỉ bị giảm 50%đh của nó chắc vì ở đây không phải chỉ có chi Ngọ mà là Hỏa cục (có từ 2 chi trở lên) còn 0,13đh. Nếu chi Ngọ không hóa cục thì chắc lực sinh bị giảm giống nạp âm là 75% còn 0,07đh.
Tổng số có 7,06đh, ta thấy tam hợp giữa tứ trụ với tuế vận hóa cục có 5 chi mà có 3 chi trong tứ trụ nên có -(1+2.0,25)đh = - 1,5đh còn 7,06đh - 1,5đh = 5,56đh. Tương tự theo ví dụ 21 trên ta thấy có 2 chi giống nhau trong tứ trụ hóa cục khác hành nên tổng điểm hạn được giảm 1/7 còn 5,56.6/7đh = 4,77đh. Số điểm này có thể chấp nhận được vì nó phù hợp với thực tế là mổ nặng tới mức may mắn thoát chết.
Vì theo định nghĩa của tôi thì hạn nặng từ 4,75đh đến 4,89đh có thể coi là may mắn thoát chết, từ 4,9đh đến dưới 5,00đh có thể bị chết lâm sàng, còn từ 5,00đh trở đi có thể bị chết thật nếu không có cách nào giải cứu kịp thời.
Nếu điểm kỵ vượng ở đây được tăng gấp 3 thì tổng điểm hạn quá cao là không thể chấp nhận được. Ta thấy các ví dụ có tai họa nặng tới mức thoát chết thì xác định điểm hạn của các quy tắc là dễ dàng và chính xác nhất.
Tổng điểm hạn ở tiểu vận Mậu Tý có (7,06- 0,13- 1,5).6/7đh = 4,65đh (vì không có 0,13đh của hung thần). Số điểm hạn này là thấp không thể gọi là may mắn thoát chết.
Năm Canh Ngọ có Hỏa là hành kỵ vượng lại quá cường vượng do có tới 5 chi hóa Hỏa và các điểm kỵ vượng đều được tăng gấp đôi nên tai họa dễ xẩy ra vào các ngày đầu của mùa hè là tháng Nhâm Ngọ (của năm Canh Ngọ). Trong mấy ngày đầu tháng Nhâm Ngọ (từ ngày 6/6) ta thấy có ngày Bính Ngọ (10/6) là ngày đáng ngại nhất ?
Từ ví dụ này ta đưa ra các quy tắc :
1 - Lực nạp âm khắc nạp âm khác bị giảm 75%đh của nó khi can của nó bị khắc bởi 1 lực có 0,7đh (vds 22), thành vô dụng khi can của nó bị khắc bởi 1 lực có 1đh.
2 - Chi của nạp âm hóa cục có khả năng sinh cho nạp âm của nó max 0,25đh, số điểm hạn này chỉ bị giảm 50% khi can của nạp âm bị khắc bởi 1 lực có 0,7đh (vds 22), còn nếu chi của nạp âm không hóa cục thì bị giảm 75% (?).
3 - Một hành từ khi sinh không lớn hơn hỷ dụng 1 thì khi tính lại và tính thêm ở tuế vận nếu là kỵ vượng thì điểm hạn kỵ vượng chỉ có thể tăng gấp đôi khi nó lớn hơn hỷ dụng 1 từ 30đv trở lên (vds 22).
4 - Tam hợp ngoài tứ trụ có ít nhất 4 chi hóa cục, trong đó có ít nhất 3 chi trong tứ trụ thì 3 chi đầu tiên có -1đh còn từ chi thứ 4 trở đi mỗi chi có -0,25đh (giống tam hội ngoài tú trụ, chỉ khác tam hợp phải có ít nhất 4 chi), nếu có 2 chi trong tứ trụ giống nhau hóa cục khác hành thì Tổng điểm hạn được giảm 1/7 (vds 21;22), còn hóa cục cùng hành thì...
