Thương - Sứ, Kẻ định đoạt Sinh Tử, liệu có đúng?

Trao đổi kiến thức về bộ môn tử vi
Nội qui chuyên mục
Đây là chuyên mục trao đổi kiến thức về tử vi dành cho thành viên chính thức. Các bài viết trao đổi cần có nội dung kiến thức hoặc cung cấp thông tin nghiệm lý. Muốn nhờ xem, luận giải lá số vui lòng đăng tại mục Xem tử vi.
Không được đính kèm lá số của trang web khác. Các bài viết và thành viên vi phạm sẽ bị xử lý.
Chia sẻ
alodie
Chính thức
Chính thức
Bài viết: 56
Tham gia: 06:40, 18/12/15

Thương - Sứ, Kẻ định đoạt Sinh Tử, liệu có đúng?

Gửi bài gửi bởi alodie »

1 - Định Nghĩa:
Theo lập luận về Hà Đồ của Bắc Phái. Có 2 cung chức mang hàm ý rất rõ , nhưng ít người nắm bắt được. Chúng quyết định vận mệnh đời người bằng cách điều khiển Sinh - Tử đời người.

Nguyên lý “xoay cung hoán vị” cho các bạn biết một cung chức có bao nhiêu ý nghĩa, vào vận hạn cho biết xảy ra được những khả năng gì.

Nhưng xét về sinh tử , phải xem xét hai cung Nô - Tật. Tại sao?
Bởi chúng được trao “ Hắc Bạch phán quan” , đó chính là Thiên Thương - Thiên Sứ.
Ta biết Thìn Tuất được an La Võng - nhưng chỉ nói về cung vị .
Nhưng Thương - Sứ được an theo cung chức.

Điểm cung chức khác cung vị thì các bạn biết rồi, cung vị cao hơn và chứa cung chức. Nhưng cung chức nó thể hiện được tượng ý có thể xảy ra nhiều hơn. Hai khái niệm, tôi nhắc lại để các bạn không bị nhầm lẫn về cách gọi và ngữ nghĩa.

2 - Nguyên lý:

Theo Hà Đồ, khi bạn lấy Mệnh lập cực => Mệnh là số 1.
Theo chiều quay => Di là số 7
Tuyến Mệnh - Di hợp thành tuyến Bản ngã, Hoạt động.
Hàm nghĩa của tuyến Mệnh - Di thì rất rộng, xem lại bài “ Lục Tuyến”. Ở đây ta chỉ xét về tượng ý “ khát vọng” mà cung Thiên Di thể hiện. Tức nhìn sao trong cung Thiên Di, biết được người đó có khát vọng, ước mơ cao đến đâu.

Lúc này, muốn đạt đến ước mơ của mình, người đó phải từng bước tiến tới và chạm vào “ ước mơ” đó. Vậy phải đi từ Mệnh đến Di .
Hai con đường để đến Di ngắn nhất là: ngược chiều đồng hồ ( tức đi từ Mệnh - Bào - …. Di). Thuận ( Mệnh - Phụ - …. - Di).
Đường đi thuận được gắn với vật chất , ngoại lực. Đường đi ngược gắn với tình cảm, nội lực.
Làm rõ hơn chút, đạt được ý đồ theo lối ngoại lực cần ý chí ( phúc) , bản lĩnh ( quan) … mới đến thành tựu ( Di)
Hoặc có thể đi theo lối nội lực cần trợ lực tinh thần ( Phối), cách đối đãi ( Tài) … đến Di
Như vậy, có thể hiểu để đạt được “ ước mơ” của mình , có 1 trong 2 lối đi ngắn nhất.

Nhưng quan sát cuộc sống thực tế, có thành tựu nào mà không trải qua cay đắng. Có gì dễ dàng mà miễn phí. Thầy trò thỉnh kinh còn phải trả kiếp nạn 81 cuối cùng khi qua sông…. Nếu ai có ước mơ cũng có thể dễ dàng đạt được … thì sự “tồn tại” mất đi ý nghĩa.

Và kiếp nạn được đặt ở đâu? Chính là cung Nô - Tật. Hàm ý là gần tới thành tựu phải “tất toán” một cái giá. Cái “giá” này to hay nhỏ thì phải xem tình hình toàn cục.

Ở bài tổng quan về xoay cung hoán vị ,ta biết cung chức nó bao hàm 12 tượng ý đơn khi xoay cung cấp 1…. Lại có thể thành 12 x12 = 144 tượng ý khi xoay cấp 2… rồi còn cấp 3…. Việc gắn Nô - Tật trực tiếp làm kiếp nạn, thì khó thể hiện tượng ý Sinh - Tử. Bởi có các tượng ý không mang nghĩa sinh tử.

Việc đặt hai sao Thiên Thương - Thiên Sứ vào cung chức này, là báo hiệu rõ ràng và trực quan nhất cho tượng ý Sinh Tử. Đời người ai cũng phải trải qua hai tai kiếp này. Hạn tốt có thể qua 1 lần, hạn xấu thì không còn gì.
Ở đây, Thiên Thương thể hiện cho Tai ương - ngoại cảnh tác động. Thiên Sứ thể hiện cho Bệnh Tật - ở trong phát ra.

3. Cách sử dụng:

Hiểu cách thành lập Thương - Sứ. Như cụ Thiên Lương coi như hai chốt chặn Sinh - Tử, nó báo hiệu tai ương - bệnh tật tuổi xế chiều. Hạn nhìn thấy chúng thì nguy lắm.

Nhưng tại sao người ta vẫn có người ra đi tuổi thanh xuân, trứng nước… có người lại viên mãn tuổi già?

Thiên Thương đại diện cho tai nạn, ách vận… nên nó gắn liền với những sự cố về tai nạn, “ra đi” bất ngờ, tai nạn nhóm…. Vậy để xem xét đời người có tai nạn nặng hay không phải xem cung Nô.

Đồng thời , phải xét niên hóa có nằm trục Bào Nô hay không? Càng nhiều hóa xấu thì khả năng bị tai nạn nặng càng cao, số lượng tai ách tính bằng số hóa nhiều hay ít. Tính chất tai ách và kiểu tai ách thì phải xem Sao ( Ví dụ : Nô - Bào có Cơ Âm - Tức ở Dần Thân thì khả năng trong đời bị đụng xe Cơ kỵ hoặc bị đánh nhầm Âm kỵ rất cao…).

Thiên Sứ đại diện cho tật ách, sức khỏe … nên nó gắn liền với sự cố về bệnh tật, tâm sinh lý bên trong phát ra.
Vẫn là quy tắc xem trục Phụ - Tật có Hóa gì? Tổ hợp sao như nào? Mà tìm tượng ý liên quan ( Ví dụ: Phụ Tật có Phá Quân … hệ bài tiết khó tránh khỏi phát bệnh. Kết hợp với phương vị Xương trên Khúc dưới, Tả phải Hữu trái mà tìm bộ phận tương ứng).

Cuối cùng, để trả lời câu hỏi hạn Sinh Tử tính như nào? Có phải ai đến hạn Thương - Sứ đều “ yên nghỉ”. Phải tổng hợp phi hóa và bộ Sao mà định đoạt . Phán Sinh Tử cho người là 1 trong 3 đại kỵ mà người tìm hiểu “chân chính” luôn né tránh.

Hiểu rõ hoán vị, bạn cũng biết 1 cung chức mang nhiều tượng ý. Nên hạn báo hiệu xấu về Nô.. thì sẽ có 1 tập hợp các khả năng có thể xảy ra. Nên không thể nói bừa mất khí. ( Ví dụ: Nô ngoài ý nghĩa là tai ách của Mệnh, cũng là Quan của Phụ, cũng là Tài của Tử… nên hạn xảy ra có thể bản thân gặp tai ách, cũng có thể Bố biến động công việc, hoặc con trưởng biến thiên tài lợi….).

Nghe có vẻ rắc rối, nhưng Tử Vi vốn không thể rõ ràng, nếu biết rõ ngày mai xảy ra chuyện gì? Hôm nay cần gì cố gắng? Nếu đúng thì môn học đầu tiên và duy nhất được dạy là “ Tử Vi”. Lý luận này , tôi nhắc lại rất nhiều lần để các bạn hiểu rõ.

Tóm lại, Hạn Nô - Tật mà xấu, có thể xảy ra nhiều loại trường hợp khác nhau.
Nhưng một người đến hạn Sinh - Tử, chắc chắn phải gặp hạn Nô - Tật. Từ đó, có thể dùng các cung tương ứng mà lập cực xét hạn cho tỏ tường, nguyên nhân gốc rễ và những điều ám muội. Thậm chí còn có thể dùng để “ tìm thông tin bát tự” cho chuẩn.

Phần tiếp theo , tôi sẽ phân tích một ứng dụng nhỏ của Thương - Sứ để giải thích cho một vài vấn đề cuộc sống. Xét cho cùng, việc đoán “già hay non” phải nhìn từ thực tế mà thành. Vậy mới khoa học.

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Claude [Bot], Majestic-12 [Bot], Meta web [Bot], Perplexity [[Bot]49 khách.