Luận Hành Vận - Những ví dụ mẫu

Các bài viết trao đổi học thuật về môn tử bình (tứ trụ)
Nội qui chuyên mục
Các bài viết trong chuyên mục này mang tính nghiên cứu và nghiệm lý. Không được đăng lá số để nhờ xem ở đây.
Trả lời bài viết
VULONG
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 730
Tham gia: 22:55, 23/12/09

Luận Hành Vận - Những ví dụ mẫu

Gửi bài gửi bởi VULONG »

Luận Hành Vận - Những ví dụ mẫu

Ví dụ này tôi lấy ở chủ đề "Mong anh NOVA-S hữu duyên xem giúp em lá số Tứ Trụ" ở mục "Luận Giải Tứ Trụ" của trang web này.

Nam sinh ngày 19/10/1976 lúc 8.45' có Tứ Trụ : Bính Thìn - Mậu Tuất - Giáp Thìn - Mậu Thìn

Sơ đồ dùng Toán học để xác định Thân vượng hay nhược và dụng thần :

Hình ảnh

Qua sơ đồ tính toán trên nếu ta cho rằng cách Tòng Tài không thể được thành lập thì dĩ nhiên Thân sẽ là nhược và dụng thần phải là Ất mộc tàng trong Thìn trụ năm (vì Tài là kỵ thần 1).

Nếu vậy thì vào vận Nhâm Dần có Nhâm hưu tù ở vận còn bị 2 Mậu vượng ở vận xung khắc nên Nhâm thành vô dụng nhưng vì Thủy không thấu lộ trong Tứ Trụ nên Nhâm ở vận này bị vô dụng cũng không ảnh hưởng gì tới Thủy trong Tứ Trụ. Có Giáp nhật can là dụng thần cường vượng ở vận và chi vận là Dần xung khắc 4 chi Thổ là kỵ thần trong Tứ Trụ nên vận này không đẹp nhiều thì phải đẹp ít nhưng thực tế thì ngược lại. Do vậy ta phải chấp nhận Cách Tòng Tài ở đây phải được thành lập, nếu vậy thì dụng thần phải là Mậu ở trụ tháng và hỷ thần là Hỏa và Kim còn kỵ thần là Thủy và Mộc.

Qua sơ đồ trên ta thấy Tài (Thổ) chỉ hơn Kiêu Ấn và Thân 10đv nên cách Tòng này là quá yếu, rất dễ bị thương tổn (thường phải lớn hơn tối thiểu 20đv). Như vậy cách cục này là kém mà hành vận hỷ dụng lại hưu tù, tử tuyệt (như Kỷ thai ở Hợi, Canh tử ở Tý còn Tân dưỡng ở Sửu). Cho nên vào các năm hỷ dụng thần có phát cũng yếu không thể đại phát Tài hay Quan được mặc dù trong Tứ Trụ có thông tin “Thực thần (Bính) sinh Tài (Mậu) thì phú quý tự nhiên đến“.

Ta xét các vận :

Vận Kỷ Hợi, Canh Tý và Tân Sửu đều là các vận hỷ dụng thần

Vận Tân Sửu đẹp nhất trong các vận này vì có thêm thông tin “Bính hợp Tân sinh là tướng nắm binh quyền“ nên năm Đinh hợi vào tháng 4 là Giáp Thìn được thăng chức trưởng phòng (vì nó TKĐX với trụ tháng Mậu Tuất) đúng với câu “Tài Quan tàng ẩn không xung không phát“ (Quan là Tân tàng trong Tuất trụ tháng)

Vận Nhâm Dần xấu bởi vì mặc dù có 2 Mậu vượng ở vận Dần xung khắc Nhâm hưu tù làm cho kỵ Nhâm gần như vô dụng là đẹp nhưng không may nhật can Giáp (hung thần) cường vượng ở vận Dần và thêm chi vận là Dần (hung thần) xung khắc 4 chi Thổ (là dụng thần) trong Tứ Trụ nên là xấu (vì cách Tòng này quá yếu rất dễ bị thương tổn).

Chú ý : Cách Tòng chỉ có thể bị phá khi vào các vận đó phải được tính lại điểm vượng trong vùng tâm mà sau khi tính lại thì cách cục đó không thể Tòng.

Vận Quý Mão cũng là vận kỵ thần vì can chi của nó là kỵ thần. Ta thấy vào vận này có Mão hợp Tuất hóa Hỏa thành công nhưng bị phá cục còn hợp vì trụ ngày Giáp Thìn TKĐX với trụ tháng Mậu Tuất (vẫn còn hợp vì lực xung của Thìn với Tuất yếu hơn lực hợp của Mão với Tuất). Có 2 Mậu tranh hợp thật với Quý và chi Tuất bị hợp bởi Mão. Trong 6 can chi Thổ mà có tới 3 can chi Thổ bị hợp nên cách cục này bị thương tổn nặng.

Vận Giáp Thìn và Ất Tị đều là vận hung thần vì chúng khắc dụng thần Thổ, xấu nhiều vào các năm Giáp, Ất , Dần hay Mão.

Đây là ví dụ đầu tiên có hành Tòng không lớn hơn các hành đối nghịch của nó 20 đv nên chưa thể khẳng định cách Tòng Tài này là đúng 100% nên cần phải có thêm nhiều ví dụ tương tự để kiểm nghiệm thì mới có thể kết luận chính xác nó đúng hay sai.
Được cảm ơn bởi: Nguyen tran thai, chân thật, chieunam
Đầu trang

Trả lời bài viết

Quay về “Nghiên cứu tứ trụ”