Cụ Nguyễn Khuyến tam nguyên Yên Đổ lận đận gần 30 năm đèn sách, 9 khóa lều chõng, thành công ở vận Liêm Tham Thái Tuế

Xem, hỏi đáp, luận giải về tử vi
Nội qui chuyên mục
Đây là chuyên mục dành cho việc xem lá số tử vi. Các bài mang tính trao đổi học thuật xin vui lòng đăng trong mục Kiến thức tử vi.
Không được đính kèm lá số của trang web khác. Các bài không liên quan sẽ bị chuyển khỏi chuyên mục này.
Chia sẻ
hacvt9a
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 711
Tham gia: 11:09, 08/07/20

Cụ Nguyễn Khuyến tam nguyên Yên Đổ lận đận gần 30 năm đèn sách, 9 khóa lều chõng, thành công ở vận Liêm Tham Thái Tuế

Gửi bài gửi bởi hacvt9a »

Danh nhân Nguyễn Khuyến có tên thật là Nguyễn Thắng, hiệu là Quế Sơn, tự Miễn Chi. Ông sinh giờ Tý, 15/ 2/ 1835 (tức ngày18 tháng giêng năm Ất Mùi), tại làng Ngòi, xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên (Nam Hà), ông mất ngày 5/2/1909.

( nguồn giờ sinh: thptnguyenkhuyen.angiang.edu.vn gioi-thieu tieu-su-nguyen-khuyen)

Cuộc đời: lận đận bao lần, đến năm 34 tuổi, 7 lần thi chỉ một lần đậu Hương năm 1864. Sau đó, ông đổi tên thành Nguyễn Khuyến để tự khích lệ mình cố gắng dùi mài kinh sự.

Mấy câu thơ hay của cụ:

Nghĩ tôi lại gớm cái mình tôi,
Tuổi đã ba mươi kém một thôi...
Bốn khoá Hương thi không đậu cả,
Một mảnh vườn hoang bán sạch rồi.


( nguồn: thptnguyenkhuyen.angiang.edu.vn gioi-thieu tieu-su-nguyen-khuyen) và: (thnguyenkhuyenq12.hcm.edu.vn gioi-thieu tieu-su-nguyen-khuyen)

Hình ảnh
Sửa lần cuối bởi hacvt9a vào lúc 13:03, 15/01/26 với 7 lần sửa.

hacvt9a
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 711
Tham gia: 11:09, 08/07/20

TL: Cụ Nguyễn Khuyến tam nguyên Yên Đổ lận đận gần 30 năm trời đèn sách, 9 khóa lều chõng, thành công ở vận Liêm Tham

Gửi bài gửi bởi hacvt9a »

Cụ Nguyễn Khuyến đỗ đầu cả ba kỳ thi (Tam nguyên) vào các năm: 1864 (Thi Hương - Giải Nguyên) ( vận Cự môn Vượng Khôi Việt Lộc), 1871 (Thi Hội - Hội Nguyên) và 1871 (Thi Đình - Đình Nguyên) ( năm 1871 ở vận Liêm Tham đắc tam hợp Thái Tuế) . Nhờ thành tích này, ông được gọi là Tam nguyên Yên Đổ.
  • 1864: Đỗ Giải Nguyên (đầu kỳ thi Hương) tại trường Nam Định.
  • 1871: Đỗ Hội Nguyên (đầu kỳ thi Hội) và Đình Nguyên (đầu kỳ thi Đình).
Khác biệt với đỗ trạng nguyên: Trạng nguyên là danh hiệu cao nhất dành cho người đỗ đầu kỳ thi Đình (còn gọi là Điện thí), là kỳ thi cuối cùng sau Thi hương và Thi Hội , nhằm chọn ra những người tài đức nhất để làm quan trong triều đình phong kiến thì cụ Nguyễn Khuyến đỗ hàng đầu cả 3 kỳ thi: thi Hương, thi Hội, thi Đình.

Cụ Nguyễn Khuyến là 1 trong 2 người trong lịch sử Việt Nam đỗ đầu cả ba kỳ thi Hương, Hội, Đình (Tam Nguyên) thời triều Nguyễn (năm 1871) . Người còn lại là Trần Bích San (1838-1877) là một danh sĩ thời Nguyễn, người làng Vị Xuyên, Nam Định, được tôn xưng là Tam Nguyên Vị Xuyên vì đỗ đầu cả ba kỳ thi Hương (Giải Nguyên), Hội (Hội Nguyên) và Đình (Đình Nguyên) vào các năm 1864-1865, một kỳ tích hiếm có.

Nhưng khác với Trần Bích San (quê ở Vị Xuyên, Nam Định), Cụ Nguyễn Khuyến phải lận đận gần 30 năm trời đèn sách, với 9 khóa lều chõng, đó là một cố gắng phi thường.

( nguồn: thnguyenkhuyenq12.hcm.edu.vn gioi-thieu tieu-su-nguyen-khuyen) và ( Thông tin tổng quan do AI tạo)

Đến năm 1871 ông mới đỗ Hội nguyên và Đình nguyên (Hoàng giáp). Từ đó, Nguyễn Khuyến thường được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ .

Năm 1873 , ông được bổ làm Đốc học rồi thăng Án sát tại tỉnh Thanh Hóa. Năm 1877 ông thăng Bố Chính tỉnh Quảng Ngãi. Sang năm sau, ông bị giáng chức và điều về Huế, giữ một chức quan nhỏ với nhiệm vụ toản tu Quốc sử quán

. Nguyễn Khuyến từ quan về Yên Đổ vào mùa thu năm 1884 và qua đời tại đây
Ông có bạn thân tri kỉ là Dương Khuê (1839-1902).

( nguồn: Wikipedia.org).
Sửa lần cuối bởi hacvt9a vào lúc 13:07, 15/01/26 với 5 lần sửa.

hacvt9a
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 711
Tham gia: 11:09, 08/07/20

TL: Cụ Nguyễn Khuyến tam nguyên Yên Đổ sinh giờ Tý mệnh Đồng Lương, thành công ở vận Liêm Tham không kiếp đắc Thái Tuế

Gửi bài gửi bởi hacvt9a »

Mệnh tài quan Thân có Quyền Lộc thai cáo, tuy vậy lại có linh xương đà kỵ nên cũng nhiều lần trắc trở lận đận thi cử.

Lận đận bao lần, đến năm 34 tuổi, 7 lần thi chỉ một lần đậu Hương năm 1864.

Cụ Nguyễn Khuyến từ quan về Yên Đổ vào mùa thu năm 1884 ( lúc này cụ 50 tuổi ở vận Thái âm linh xưong đà kỵ kình).

Mệnh Kim đóng cung Dần là tuyệt địa, tuy vậy cuộc đời cụ như vậy là thành công lớn, nổi tiếng.

hacvt9a
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 711
Tham gia: 11:09, 08/07/20

TL: Cụ Nguyễn Khuyến tam nguyên Yên Đổ sinh giờ Tý mệnh Đồng Lương, thành công ở vận Liêm Tham không kiếp đắc Thái Tuế

Gửi bài gửi bởi hacvt9a »

Thủa nhỏ Nguyễn Khuyến học cha. Năm 1825, đi thi Hương lần thứ nhất cùng với cha, song không đỗ. Ngay năm sau, địa phương có dịch thương hàn, ông mắc bệnh suýt chết. Cha và em ruột, bố mẹ vợ chồng cùng nhiều họ hàng thân thuộc đều qua đời. Gia đình ông lâm vào cảnh “Tiêu điều, xơ xác, đời sống ngày càng đói rét ”. Bà mẹ phải may thuê và đi làm mướn lần hồi, còn ông thường phải “sách đèn nhờ bạn, một ngày học mười ngày nghỉ ”. Từ năm 1854, đi dạy học lấy lương ăn để tiếp tục học và đi thi. Song trong các khoa thi Hương tiếp theo 1855, 1858 đều bị trượt.

Có lúc, ông đã nản đường khoa cử, định chuyển nghề dạy học để kiếm sống và nuôi gia đình, thì được người bạn là Vũ Văn Báo nhận chu cấp lương ăn và khuyên đến cùng học với cha mình là Tiến sĩ Vũ Văn Lý ở xã Vĩnh Trụ, huyện Nam Xang (Lý Nhân ngày nay). Bà mẹ ông cũng ân cần, nghiêm khắc khuyên con chớ thoái chí. Do vậy, khoa thi 1864 ông mới đỗ Cử nhân đầu trường Hà Nội. Tiếp theo ông thi Hội các khoa 1865, 1868 đều bị trượt. Ông ở lại Huế, vào học Quốc Tử Giám, khoa năm 1869 lại trượt. Cho đến khoa năm 1871 mới liên tiếp đỗ đầu thi Hội, thi Đình, khi ông đã 37 tuổi.

( nguồn: thnguyenkhuyenq12.hcm.edu.vn gioi-thieu tieu-su-nguyen-khuyen ctmb)
Sửa lần cuối bởi hacvt9a vào lúc 08:21, 16/01/26 với 1 lần sửa.

hacvt9a
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 711
Tham gia: 11:09, 08/07/20

TL: Cụ Nguyễn Khuyến tam nguyên Yên Đổ lận đận gần 30 năm đèn sách, 9 khóa lều chõng, thành công ở vận Liêm Tham Thái Tu

Gửi bài gửi bởi hacvt9a »

1 trong các bài thơ nổi tiếng của cụ Nguyễn Khuyến là bài : Câu cá mùa thu

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

hysshu
Cửu đẳng
Cửu đẳng
Bài viết: 10174
Tham gia: 23:43, 24/09/19

TL: Cụ Nguyễn Khuyến tam nguyên Yên Đổ lận đận gần 30 năm đèn sách, 9 khóa lều chõng, thành công ở vận Liêm Tham Thái Tu

Gửi bài gửi bởi hysshu »

Cũng có lá số khác mà Tử Vi Thiên Lương ( KHHB) hay nói đến của cụ Nguyễn Khuyến: sinh vào ngày 6/4 âm năm 1835 giờ Mão. Giống nhau đều có cung Mệnh Đồng Lương ở Dần miếu vượng địa, cung Thân VCD chịu ảnh hưởng mạnh ở cung Mênh.

LS giờ Mão xấu hơn do cung Mệnh có hỏa đà không kiếp kỵ đại hao đánh phá.

Hình ảnh

Long Đức
Lục đẳng
Lục đẳng
Bài viết: 3496
Tham gia: 20:12, 18/09/14

TL: Cụ Nguyễn Khuyến tam nguyên Yên Đổ lận đận gần 30 năm đèn sách, 9 khóa lều chõng, thành công ở vận Liêm Tham Thái Tu

Gửi bài gửi bởi Long Đức »

Sao lại có 2 lá số khác nhau thế!

Nếu là lá số giờ Mão thì cũng dễ hiểu

hacvt9a
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 711
Tham gia: 11:09, 08/07/20

TL: Cụ Nguyễn Khuyến tam nguyên Yên Đổ lận đận gần 30 năm đèn sách, 9 khóa lều chõng, thành công ở vận Liêm Tham Thái Tu

Gửi bài gửi bởi hacvt9a »

Long Đức đã viết: 19:42, 15/01/26 Sao lại có 2 lá số khác nhau thế!

Nếu là lá số giờ Mão thì cũng dễ hiểu
Lá số giờ Tý thì nguồn giờ sinh em đã nêu ở trên ( ngày sinh dương lịch cũng khớp với Wikipedia.org). Có 1 điều đặc biệt bác Hùng Tôn cũng có đăng lá số cụ Nguyễn Khuyến giờ Tý giống hệt lá số giờ Tý trên ( trong topic: Khéo tay của Quý Dậu bác Hùng Tôn có đăng lá số này)).

Lá số giờ Mão khác ngày khác tháng ( cùng năm sinh) thì nguồn sau:


Bộ Nhật Nguyệt đòi hỏi sự thận trọng
Bộ Tử Phủ trong 14 chính tinh được xem trọng như là tốt đẹp quí giá nhất. Công bằng mà nói đó là bộ mặt tượng hình cho cao sang hiền hậu, nhưng bất lực phải nhờ đến phụ tá tài danh mới nên việc. Phân tách 6 cung cho cả 12 cung (2 cung 2 cách giống nhau) : Tử Vi Tí Ngọ và Dần Thân tối cần Tả Hữu. Ở Tỵ Hợi, luôn luôn có Thất Sát đứng kèm, ở Thìn Tuất không thể xa rời Thiên Tướng. Còn Mão Dậu Sửu Mùi là cảnh triều đình Lê Chiêu Thống hay Trần Nghệ Tôn không thể thống gì là chính dinh oai nghiêm. Ngoài ra Vũ Tướng, Sát Phá Liêm Tham và Đồng Lương Cơ Cự chỉ là văn ban võ bá 2 hàng, một khi đắc cách phải không nên sự nghiệp.
Riêng Nhật Nguyệt là bộ âm dương của số, biểu tượng cho Thiên Địa cần sự phân tích thận trọng từng vị trí phải làm sao cho hợp lý, không thể bao gồm căn cứ từ Dần đến Thâm là thuộc địa của Thái Dương, từ Thân đến Dần là nơi sang tỏ của Thái âm.
  1. Thái Dương ở Ngọ, Thái âm Thân. Thái dương ở đây kể như là tuyệt đối với người dương Hoả mệnh nếu được thêm là tuổi Dần Ngọ Tuất. Thái âm kể như là thất bại cho cả 2 hạng âm và dương, bị Thiên Cơ lợi dụng.
  2. Thái Dương ở Tỵ thất cách đối với người Dương, chỉ là nhất thời tam bợ. Thái âm ở Dậu đắc cách hoàn hảo cho tuổi âm mệnh thuỷ.
  3. Thái Dương ở Thìn phò trợ đắc lực cho người dương Thổ. Thái âm ở Tuất không tương xứng gì cho cả 2 tuổi âm và dương.
  4. Thái Dương ở Mão nhờ Thiên Lương một phần lớn tương sinh vẫn không lợi bao nhiêu cho người dương so với người âm trường hợp Mệnh ở Mùi vô chính diệu được Thái âm ở Hợi quá sáng tỏ đồng chiếu.
  5. Thái Dương ở Dần người dương được hưởng tương lai hậu vận bởi Cự Môn bao phủ lúc ló rạng. Thái âm ở Tí, kể là hay thêm Thiên Đồng phụ lực, nhưng vẫn là nghịch cảnh của người tuổi âm mà người tuổi dương cũng không mấy thuận lý.
  6. Sửu là mộ địa tận trung, cũng như cung Mùi, cả hai là căn cứ thuộc âm. Thái Dương đứng ở đây bị xút kém ở 2 nơi là vì luật âm dương, mà Thái âm cũng không tốt đẹp vì luật ngũ hành. Hai cung Sửu Mùi là chỗ tập trung để chuyên chế từ Thái âm sang Thiếu Dương (Sửu) và từ Thái Dương sang Thiếu âm (Mùi) thành tranh tối tranh sang. Vậy cần phải có phép thần thông tách rời Thái Dương lui sang Ngọ, Thái âm chuyển sang Thân cũng như Thái âm về Tí và Thái Dương bước sang Dần.
  7. Thái Dương ở Tí là nghịch cảnh sa lầy ghê sợ cho người tuổi dương. Thái âm không mấy tốt đẹp hơn Thái Dương chỉ là hợp tình. Thái âm ở Mão với người tuổi Âm, nghịch cảnh của Thái Dương ở Ngọ nhưng tương lai không phải là không thuận bước cho người dương, Thái âm ở Dần cùng trường hợp ở Thân, người dương mộc rất thuận lợi.
  8. Thái Dương ở Hợi là sa lầy ghê sợ cho người tuổi dương, Thái âm không mấy tốt đẹp hơn Thái Dương chỉ là hợp tình Thái âm ở Mão với người tuổi âm.
  9. Thái dương lâm Tuất là cảnh u tối, người tuổi dương hợp cách và hy vọng có tương lai. Thái âm ở Thìn là đáng ngại.
  10. Thái Dương ở Dậu là sôi hỏng bỏng cũng không, nhờ Thiên Lương phò trợ lại bị cung khắc mất. Thái âm ở Tỵ có bề hợp cảnh.
  11. Cự Nhật ở Thân là bước đuờng đời của tuổi dương gặp nhiều trở lực, Đồng âm ở Ngọ là vị trí cân phân, vẫn là hình bóng của trường hợp Đồng âm ở Tí cho cả 2 tuổi.
  12. Nhật Nguyệt ở 12 vị trí sự thiết yếu bao giờ Nhật cũng phải ở dương cung mà Nguyệt phải ở âm địa. Nhật đắc cách là tuổi Hoả, Nguyệt phải là tuổi Thuỷ. Sáng sủa hay lạc hãm chỉ là phụ, trường hợp mập mờ “lại cái “ không bao giờ hợp cách, cho nên Nhật Nguyệt tối cần bộ tam minh là Đào Hồng Hỉ. Nhật Nguyệt rất được kể là quang minh lộng lẫy. Ngoài Đào Hồng Hỷ, Nhật Nguỵệt rất nên gặp 1 trong 3 bộ Xương Khúc Long Phượng Quang Quí và Hoá Khoa có công dụng như tam minh, nhất là Long Phượng nâng cao phẩm giá Nhật Nguyệt lên hang danh dự anh minh chính đính.
Nhật Nguyệt được những bộ trên tô điểm sáng rực rỡ bao nhiêu, trái lại rất cần xa lánh tứ hung Kình Đà Hình Kỵ. Chúng bao vây che lấp Nhật Nguyệt mất cả ánh sáng, mổ xẻ cắt cứa hành hạ theo nghề nghiệp vốn sẵn là thiện nghệ .
Bộ Nhật Nguyệt có 2 trường hợp cần phân tách chu đáo ở 2 vị trí Sửu Mùi nơi tập trung để chuyển hướng rất cần Tuần Triệt, Khoa Tài đóng vai trò trọng tài phân phối âm dương đường ai nấy đi. Đó là 4 cái chìa khoá để điều chỉnh bộ âm dương rất kiến hiệu.
Vậy đặc biệt của Nhật Nguyệt khác với chính tinh do lý chính bất như chiếu (chiếu đẹp hơn chính). Ngọn đèn bật sáng lên xung quanh thấy rõ hơn là chân đèn, như vô chính diệu ở Mùi được Nhật Mão Nguyệt ở Hợi chiếu lên (Nhật Nguyệt chiếu hư không). Nếu thêm Hoá Kỵ thì Hoá kỵ phải ở Mùi. Đây là cảnh trí khánh vân (mây ngũ sắc biểu hiện thái bình thịnh trị) tuyệt hoa.
Ba nhà đại văn hào:
a/ - Nguyễn Khuyến tuổi Ất Mùi sanh ngày 6 tháng 4 giờ Mão
b/ - Huỳnh Thúc Kháng tuổi Bính Tí sanh ngày 3 tháng 10 giờ Thìn
c/ - Nguyễn Đình Chiểu tuổi Nhâm Ngọ sanh ngày 13 tháng 5 giờ Dậu
Cả 3 cụ có số chịu ảnh hưởng bộ Nhật Nguyệt rất nhiều, cùng vị trí nghịch lý âm dương nên cuộc đời chan chứa một mối ưu tư bất mãn hầu tương tợ. Ba cụ nổi danh trên văn đàn do văn tinh Đồng Lương Khôi Việt Xương Khúc. Riêng 2 cụ Nguyễn Khuyến, Nguyễn Đình Chiểu vướng Hình Riêu Hà Sát nên mục tật tối tăm vĩnh viễn. Cụ Huỳnh Thúc Kháng được Hồng Loan khai thông chỉnh đốn: Nhật Nguyệt trở nên xuất sắc hơn người.
Đã mang danh tu mi đứng trong trời đất thà chấp nhận Thái Dương lâm Tuất Tí còn hơn ở cảnh nhất thời Mão Tỵ chỉ là phù vân không xứng phận nam tử, những ai phấn son tô điểm sơn hà dẫu có yên vui với Thái âm ở Tuất Tí nên đành ưng chịu ở Mão Tỵ là nơi hợp cách đào tơ liễu yếu dầu gặp nhiều nỗi trái ngang.
Nơi đây cho thấy định mệnh là bất khả kháng, khiến cái Thân phải có một phần trách nhiệm xử thế cuộc đời.
(Tử vi nghiệm lý toàn thư - tác giả Thiên Lương)

( Theo tuvi.cohoc.net bo-nhat-nguyet-doi-hoi-su-than-trong)

Mong anh có ý kiến về 2 lá số. Nếu giờ Mão mong anh bình luận thêm về mệnh Thân tài quan, vận trình...


Cảm ơn anh rất nhiều.

hacvt9a
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 711
Tham gia: 11:09, 08/07/20

TL: Cụ Nguyễn Khuyến tam nguyên Yên Đổ lận đận gần 30 năm đèn sách, 9 khóa lều chõng, thành công ở vận Liêm Tham Thái Tu

Gửi bài gửi bởi hacvt9a »

Chi tiết gia đình
Là con của: Nguyễn Tông Khởi.
Đời thứ: 11
Người trong gia đình
TênNguyễn Khuyến (Nguyễn Văn Thắng) (Nam)
Tên thường
Tên TựMinh Chi
Ngày sinhngày 15 tháng 2 năm 1835
Thụy hiệuhiệu Quế Sơn
Hưởng thọ:74
Ngày mấtngày 5 tháng 2 năm 1909
Sự nghiệp, công đức, ghi chú
Năm 1864, Nguyễn Khuyến đỗ đầu Cử Nhân (tức Hương Nguyên) trường Hà Nội. Năm sau ông trượt thi Hội và thi Đình nên phẫn chí ở lại kinh đô học trường Quốc Tử Giám.
Đến năm 1871 ông mới đỗ Hội Nguyên và Đình Nguyên. Từ đó, ông thường được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ.

Năm 1873, Nguyễn Khuyến được bổ làm Đốc Học rồi thăng Án Sát tỉnh Thanh Hoá.
Năm 1877 được thăng Bố Chính tỉnh Quảng Ngãi. Sang năm sau, ông bị giáng chức và điều về Huế, giữ một chức quan nhỏ với nhiệm vụ toàn tu Quốc Sử Quán. Nguyễn Khuyến cáo quan về ở ẩn tại Yên Đổ vào mùa thu 1884.
Nguyễn Khuyến để lại cho hậu thế các tập thơ văn Quế Sơn Thi-tập, Yên Đổ Thi-tập, Bách Liêu Thi-văn-tập, Cẩm Ngữ và nhiều bài ca, hát ả đào, văn tế và câu đối.
Nguyễn Khuyến sinh 6 trai và 2 gái: (Nguyễn Hoan, Nguyễn Thuần, Nguyễn thị Duy, Nguyễn Hữu Lộc (Nguyễn Điềm?), Nguyễn Thị Búp, Nguyễn Doãn Đôn, Nguyễn Khắc, Nguyễn Cát.


( Nguồn: vietnamgiapha.com XemChiTietTungNguoi 1917 25 chitiet)

Vũ Thiên Khôi
Mới gia nhập
Mới gia nhập
Bài viết: 20
Tham gia: 18:16, 11/12/25

TL: Cụ Nguyễn Khuyến tam nguyên Yên Đổ lận đận gần 30 năm đèn sách, 9 khóa lều chõng, thành công ở vận Liêm Tham Thái Tu

Gửi bài gửi bởi Vũ Thiên Khôi »

Cá nhân tôi nghĩ lá sinh tháng 1 âm lịch thì đúng hơn

Nếu cụ thuộc lá thứ 2 thì lại là một hạng người khác, một kẻ tàn nhẫn =))

Lá 1 hiền lành lương thiện, đi đến vận Liêm Tham không kiếp đắc địa ăn hành nhiều mới khôn lên được, cụ nhận ra đời nó đếch phải màu hồng nên cụ từ đó mới phất

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: abiabu, Apple [Bot], Bing [Bot], Byte [Spider], Claude [Bot], Coc Coc [Bot], cylinder, damimi_135, doanminhtri167, Dungchitruong, fay, Google [Bot], hacvt9a, hiro12051987, IAS [Bot], IAS IE, khanhmypham89, Khanhtramnguyen, Meta ext [Bot], Meta web [Bot], nhibaby, Nobiratata, OAI-Search [Bot], Peer39 [crawler], Quocanhlsvn2024, Rommel, songloctrieuvien, vthang71, Yandex [Bot]269 khách.