“Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Trao đổi kiến thức về tứ trụ (tử bình, bát tự)
Nội qui chuyên mục
Đây là chuyên mục trao đổi kiến thức về tứ trụ (bát tự, tử bình) dành cho thành viên chính thức. Các bài viết trao đổi cần có nội dung kiến thức hoặc cung cấp thông tin nghiệm lý. Muốn nhờ xem, luận giải lá số vui lòng đăng tại mục Xem tứ trụ.
Các bài viết và thành viên vi phạm sẽ bị xử lý.
Chia sẻ
VULONG
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1093
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Gửi bài gửi bởi VULONG »

(Tiếp theo phần trên)

Sơ đồ điểm hạn tai họa của Thằng Bờm năm Nhâm Dần 2022
Hình ảnh

Năm 2022 là năm Nhâm Dần (65 tuổi) thuộc đại vận Nhâm Dần, có 2 tiểu vận là Quý Tị và Nhâm Thìn.
Ta thấy đại vận và lưu niên ở đây giống nhau đều là Nhâm Dần, người ta gọi nó là Tuế Vận Gặp Nhau thường là xấu vì nó có 1đh. Nhưng may mắn ở đây là 2 Nhâm ở tuế vận hợp với Đinh trụ tháng thành tranh hợp thật nên tổ hợp này coi như không có.

Hầu như tổng điểm hạn của tai họa này chi xẩy ra ở tiểu vận Quý Tị, vì ta thấy 2 Dần ở đại vận và lưu niên hội tụ Hình và Hại 2 Tị ở trụ ngày và tiểu vận có tới 6đh. Ngoài ra có thêm 2 cát thần ở Quý tiểu vận và 1 cát thần ở Tị chi tiểu vận nhưng có thêm Gỗ đồng bằng trụ giờ có can Mậu vượng ở lưu liên nên khắc Kim giá đèn trụ ngày có 0,25đh (vì không có Lửa đèn).

Tổng số có tới 5,87đh mà ta thấy tam hội ở đây chỉ có trụ năm là động. Vậy thì số điểm này là quá cao không thể chấp nhận được. Bởi vì theo lý thuyết thì phải có ít nhất 2 trụ của tam hội động thì điểm hạn mới được giảm.

Từ ví dụ này ta phải đưa ra quy tắc mới :
3 chi không liền nhau của tam hội trong tứ trụ hóa hay không hóa cục mà chỉ có 1 trụ của nó động thì tổng số điểm hạn được giảm 3/12.

Nếu áp dụng quy tắc mới này thi tổng số sẽ được giảm 3/12 còn 5,87.9/12đh = 4,40đh. Số điểm này hoàn toàn ứng hợp với thực tế, vì Thằng Bờm lớ ngớ thế nào đi xe đạp, khi rẽ phải không chịu nhìn đường đâm luôn vào cột báo đường, phải vào bệnh viện khâu mất 3 mũi ở lông mày (không phải nằm viện). Sau này anh ta nói rõ là lúc đó anh ta đang phải nhìn một người phụ nữa mặc áo mầu đỏ đi phía trước giống như một com Ma nên khi rẽ phải vào Bauhaus anh ta lại không thấy nó nữa nên mới cố nhìn thêm xem nó biến đi đâu ?

Chả nhẽ điểm hình hại ở đây gây ra tai họa lại do Ma hay sao ?

Nhiều tai họa xẩy ra trong thực tế cũng tương tự như vậy, những người còn sống kể lại rằng họ không biết gì khi băng qua đường bộ, đường xe lửa... hay qua các ngã tư đèn đang xanh hay đang đỏ...

VULONG
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1093
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Gửi bài gửi bởi VULONG »

Ví dụ số 10 : Trương Chấn Hoàn chủ nhiệm ủy ban khoa học kỹ thuật quốc phòng (TQ), sinh ngày 21/10/1915 khoảng 12,00’ sáng. Ông ta mất vào ngày 24/3/1994. Trần Viên cho biết (trong phần Nhập Môn in cùng cuốn Dự Đoán Theo Tứ Trụcủa ông Thiệu Vĩ Hoa) tháng 8 năm 1993 ông bị bệnh về tim phải nằm viện cấp cứu, mấy lần nguy kịch. Khắp nơi các cao sư khí công kéo về cứu giúp. Thầy Thiệu Vĩ Hoa cũng dốc hết sức mình kéo dài tuổi thọ cho ông. Ngày 24/9/1993 sau khi bệnh đỡ ông đã ra viện đi an dưỡng (6 tháng sau, ngày 24/3/1994 ông mới mất).
Sơ đồ diễn tả điểm hạn tai họa năm Quý Dậu (1993) :
Hình ảnh
Qua sơ đồ trên ta thấy ngũ hành đầy đủ và khá cân bằng, Thân (Mộc) chỉ hơi nhược so với Quan Sát (Kim). Do vậy dụng thần đầu tiên phải là Kiêu Ấn chính là Nhâm trụ giờ có 7,75đv, hỷ thần là Tỷ Kiếp còn kỵ thần là Thực Thương, Tài và Quan Sát.
Trong tứ trụ có Thương quan (Bính trụ tháng) và Ấn (Nhâm trụ giờ) đúng theo câu phú “Thương quan gặp Ấn quý hết chỗ nói thường nổi danh về học thuật”. Đây là trường hợp đẹp thứ 2 sau Thương quan trùm Ấn (như của Albert Eíntein).
1 - Dụng thần Nhâm vượng ở lưu niên có -1đh.
2 - Nhật can Ất tuyệt ở lưu niên có 1đh.
3 - Tý tiểu vận đầu có 1 cát thần có -0,13đh, Quý tiểu vận 2 có 1 cát thần có -0,13đh. Do vậy tai họa xẩy ra ở tiểu vận nào cũng có -0,13đh.
4 - Ta thấy Dần trụ giờ và Tuất trụ tháng hợp với Ngọ đại vận hóa Hỏa thành công (vì có Bính trụ tháng là Thần dẫn) có 0,75đh (vì có 3 chi). Thêm ngũ hợp của Mậu đại vận hợp với Quý lưu niên hóa Hỏa thành công (vì có Dần đại vận hóa Hỏa làm Thần dẫn) có 0,5đh (vì có 2 can).
5 - Nhâm trụ giờ được lệnh và vượng ở lưu niên khắc 2 Hỏa cục đều có 0đh. Bởi vì 2 hóa cục Hỏa này liên kết được với nhau, có tới 5 can chi nên Nhâm mặc dù vượng ở lưu niên vẫn không khắc được. Nhâm có 0đh can động.
Mão trụ năm xung 2 Dậu ở Thái tuế (chi lưu niên) và trụ ngày, nên lực xung Thái tuế có 0,3đh được thêm 0,5đh thành 0,8đh, còn xung Dậu trụ ngày có 0,3đh nhưng cách 1 ngôi giảm 50% còn 0,15đh.
(Chú ý : Lực xung, khắc, hình, hại... của địa chi không liên quan tới độ vượng của chúng)
6 - Dậu trụ ngày tự hình Dậu Thái tuế có 1đh.
7 - Đất mái nhà trụ tháng có can Bính (tĩnh) chỉ vượng ở đại vận nên khắc nước Suối trụ năm có 1đh. Mặc dù Tuất trụ tháng hóa Hỏa nên có thể sinh cho nạp âm cùng trụ max 0,25đh nhưng nạp âm này không nhận được thêm đh nào cả (vì nạp âm này không bị khắc).
Đất trên thành đại vận có can Mậu vượng ở đại vận nên khắc nước Suối trụ năm có 1đh. Do can chi đại vận đều bị hợp nên bị giảm 50% còn 0,5đh, nhưng được thêm 0,25đh do Dần đại vận hóa Hỏa có thể sinh được cho nạp âm cùng trụ max 0,25đh (để bù vào 0,5đh do bị mất) thành (0,5 + 0,25)đh = 0,75đh.
Tổng số có 4,82đh. Điểm hạn này chấp nhận được vì nó ứng hợp với thực tế là tai họa nặng tới mức thoát chết.

Dựa theo ví dụ số 9 ta thấy hạn có thể xẩy ra vào tháng 8 hoặc đầu tháng 9 nhưng tháng 9 chỉ tới ngày 24/9/1993 ông ra viện nên không có ngày nào TKĐX với trụ năm Ất Mão. Còn tháng 8 có ngày 8/8 là ngày Tân Dậu TKĐX với trụ năm Ất Mão. Do vậy rất có thể ông đã bị cấp cứu vào ngày 8/8/1993 ?

Cách giải cứu
Với các điểm hạn về xung khắc của can chi tôi không biết cách giải, còn về nạp âm thì chắc là các bệnh do nội tạng của con người gây ra ? Còn điểm hạn về hình hại mà ở đây là Tự hình thì chủ yếu do chính người này tự làm hại chính mình. Do vậy muốn giải cứu 1đh tự hình này thì mọi người phải biết tìm ra đúng khúc mắc của người này để động viên, khích động....mục đích làm người này vui lên quên đi cái đang hành hạ mình là chính (theo tôi suy luận).
Nhưng xét cho cùng thì với số điểm 4,82đh ở đây ông Thiệu và các cao thủ khí công của Tầu đã giải cứu được là bao nhiêu ?
Đối với ví dụ số 9 trên (của Thằng Bờm) thì rõ ràng thực tế đã chứng minh Thằng Bờm sẽ chết nếu không có người đưa vào để thế mạng.
Vậy thì ta nên hiểu số điểm 4,82đh này là số điểm hạn đã được giải cứu thì có lẽ đúng, hợp lý, có logic chăng ? Nhưng nếu đúng như vậy thì từ sự hợp lý lại thành vô lý. Bởi vì tại sao các điểm hạn được giải cứu này lại không thể tìm thấy trong sơ đồ ?

Muốn hiểu rõ thì ta phải biết chính xác các điểm hạn được tìm thấy trong sơ đồ chỉ là các yếu tố tất định đã có sẵn từ khi sinh qua năm, tháng, ngày và giờ còn các yếu tố bất định do các yếu tố bên ngoài tác động vào thì nằm ngoài sơ đồ (tứ trụ). Cho nên số điểm 4,82đh này là cố định không thể thay đổi (trừ khi điểm hạn của các quy tắc được áp dụng ở đây là sai hay chưa chính xác) nhưng các yếu tố bên ngoài có thể tác động vào mệnh
(tứ trụ và tuế vận, tiểu vận) của con người lúc đó làm cho số điểm hạn này có thể tăng thêm hoặc có thể giảm đi là điều mà tôi chưa biết. Nếu đúng như vậy thì 4,82đh ở đây khi đã ứng hợp với thực tế thì dĩ nhiên số điểm hạn thêm do các yếu tố bên ngoài (dấu dương) tác động vào phải bằng số điểm hạn mà các cao nhân này đã giải cứu được (dấu âm).

Sơ đồ diễn tả điểm hạn tai họa năm Giáp Tuất (1994) :
Hình ảnh
(Quy ước : Từ ví dụ sau để cho sơ đồ đỡ rối rắm tôi diễn tả điểm vượng trong vùng tâm của các can chi trong sơ đồ ngay dưới hay bên cạnh các can chi của chúng.)
Ngày 24/3/1994 là năm Giáp Tuất thuộc đại vận Mậu Dần và tiểu vận đầu tiên là Quý Hợi. Ta thấy có Tuất, Ngọ trong tứ trụ hợp với Dần đại vận và Tuất lưu niên hóa Hỏa thành công (vì có Bính trụ tháng làm Thần dẫn). Thêm ngũ hợp của Mậu đại vận với Quý tiểu vận cũng hóa Hỏa thành công (vì có Dần đại vận hóa Hỏa làm Thần dẫn). Điểm vượng trong vùng tâm không phải tính lại (sẽ nói sau).
1 - Dụng thần Nhâm vượng ở lưu niên có -1đh.
2 - Nhật can Ất tử tuyệt tại lưu niên có 1đh.
3 - Tam hợp 4 chi hóa Hỏa có 1đh và Ngũ hợp hóa Hỏa có 0,5đh.
4 - Nhâm trụ giờ được lệnh và vượng ở lưu niên nhưng khắc 2 Hỏa cục đều có 0đh (vì Nhâm khắc tới 6 can chi Hỏa cục) và Nhâmcó 0đh can động.
5 - Nước biển tiểu vận có Quý vượng ở chi Hợi khắc Đất trên thành đại vận và Lửa đỉnh núi lưu niên mỗi lực có 1đh.
Lửa đỉnh núi lưu niên có Giáp (tĩnh) chỉ vượng ở đại vận có max 1,5đh khắc Đất mái nhà trụ tháng và gỗ Liễu trụ giờ mỗi lực có 0,75đh nhưng bị giảm 50%đh do Nước biển tiểu vận khắc có 1đh (vì nước biển chỉ khắc được phần dung nham núi lứa đã trào lên mặt biển còn phần dưới lòng đất vẫn không ngừng phun lên) còn 0,75.50%đh = 0,38đh.
Đất mái nhà trụ tháng có Bính (tĩnh) chỉ vượng ở đại vận nên khắc nước Suối trụ năm có 1đh nhưng bị Lửa đỉnh núi khắc mất 38%đh còn 0,62đh nhưng được Tuất cùng trụ hóa Hỏa có thể sinh cho nạp âm max 0,25đh thành (0,62 + 0,25)đh = 0,87đh (chỉ bù vào phần đh bị mất).
Đất trên thành đại vận có Mậu (động) chỉ vượng ở đại vận nên khắc nước Suối trụ năm có 1đh nhưng bị nước Biển tiểu vận khắc mất hết nhưng có Dần cùng trụ hóa Hỏa nên có thể sinh cho Đất trên thành 0,25đh (số điểm hạn được sinh này không mất khi nạp âm của nó bị khắc).

Tổng số là 5,37đh. Số điểm này chấp nhận được vì nó thừa sức gây ra tử vong.
Đây chỉ là số điểm hạn tất yếu, còn nếu như không có điểm hạn gây ra bởi các yếu tố bên ngoài (điểm hạn dương) thì số điểm hạn âm được các cao nhân Tầu giải cứu chắc chắn không thể lớn hơn -0,37đh.

Ở đây ta thấy ngày 24/3/1994 là ngày xẩy ra tai họa tử vong lại chính là ngày Kỷ Dậu TKĐX với trụ năm Ất Mão.
Không biết đây là trường hợp lặp lại ngẫu nhiên hay là tất nhiên ?

Cách giải cứu
Tai họa này điểm hạn chủ yếu do Hỏa cục và nạp âm gây ra. Tôi không biết giải điểm hạn về Hỏa cục, còn điểm hạn do nạp âm gây ra thì theo tôi nghĩ chắc nó thuộc về ngũ tạng của con người bị bệnh thì phải ? Nếu đúng như vậy thì ta lại phải nhờ đến nghành y...

VULONG
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1093
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Gửi bài gửi bởi VULONG »

Trước khi vào ví dụ sau ta cần sử dụng bảng tổng điểm hạn được giảm (sẽ nói sau):
Hình ảnh
Dòng đầu tiên trong bảng là số thứ tự, dòng thứ hai là điểm G (giảm) và dòng thứ ba là tỉ lệ tổng điểm hạn được giảm tương ứng theo điểm G.
Nếu số điểm G (gần hay) bằng điểm giữa của 2 mức giảm thì tổng điểm hạn mới có thể được giảm ở mức (gần hay) trung bình của 2 mức giảm đó (?).

Ví dụ số 11 : Ông Thiệu Ung - Thiệu Khang Tiết (1011 - 1077) là một nhà dịch học nổi tiếng Trung Quốc đã đợi qua năm Đinh Dậu (46 tuổi) mới quyết định ra làm Quan. Điều này chứng tỏ năm Đinh Dậu chắc chắn có tai họa cực nặng liên quan đến Quan vận nên ông mới phải tránh nó như vậy (ông Thiệu Vĩ Hoa là cháu nội đời thứ 29 của ông Thiệu Khang Tiết).

Sơ đồ diễn tả điểm hạn tai họa năm Đinh Dậu (46 tuổi) :
Hình ảnh
Qua sơ đồ trên ta thấy Thân hơi vượng nhưng ngũ hành khá cân bằng, Kiêu Ấn (Thủy) đủ (vì chỉ có 2 chi mà Hợi ở vùng ngoài không Lâm quan hay Đế vượng nên cũng như Tý trụ ngày đều coi như thất lệnh), nên Dụng thần đầu tiên phải là Thực Thương chính là Đinh tàng trong Tuất trụ giờ có 3đh. Hỷ thần là Thổ và Kim còn kỵ thần là Thủy và Mộc.
Trong tứ trụ có tam hội Hợi Tý Sửu (không hóa cục) cho biết cả thế giới vô hình (Thần ling) lẫn hữu hình (con người, xã hội) phù hộ, giúp đỡ.
Nhưng năm Đinh Dậu lại thuộc đại vận Đinh Dậu là Tuế Vận Cùng Gặp rất xấu vì có 1đh, xấu hơn nữa 2 Đinh là Thương quan ở tuế vận lại gặp 2 Quan trong tứ trụ mới thật đáng sợ. Vì thường mỗi Thương quan vượng ở tuế vận gặp Quan có 1đh nên ở đây có tới có 2đh. Đây chính là lý do ông Thiệu Ung đã phải chờ qua năm Đinh Dậu mới dám ra làm Quan là như vậy. Bởi vì khi chưa làm Quan thì không có 2đh này nhưng nếu làm Quan rồi đến năm Đinh Dậu cáo lão hồi hương không làm Quan nữa vẫn không thể trách được 2đh này (vì 2đh này là do các năm làm Quan không tránh được các mâu thuẫn gây ra với một vài ai đó nên họ sẽ luôn chờ cơ hội để trả thù bằng được).
1 - Dụng thần Đinh tử tuyệt tại lệnh tháng có 0,5đh (viết ngay cạnh Dụng thần Đinh), Đinh vượng ở lưu niên có -1đh.
2 - Nhật can Giáp hưu tù ở lưu niên có 0đh.
3 - Dậu ở đai vận và lưu niên mỗi chi có 1 hung thần có +0,25đh. Hợi tiểu vận có 1 hung thần có +0,13đh.
4 - Mỗi Thương quan ở tuế và vận gặp Quan trong tứ trụ có 0đh (vì chưa làm Quan).
5 - Tuế Vận cùng gặp có 1đh.
6 - Đinh đại vận và Đinh lưu niên vượng ở lưu niên khắc 2 Tân trong tứ trụ nên mỗi lực có 0,7đh, và mỗi Đinh có -1đh can động.
Tân ở trụ năm và trụ tháng đều thất lệnh nhưng vượng ở lưu niên nên mỗi Tân có -0,5đh can động nhưng bị 2 lực khắc, mỗi lực có 0,7đh còn -0,5.0,3.0,3đh = -0,05đh.
7 - Dậu đại vận tự hình Dậu lưu niên có 1đh và hại Tuất trụ giờ có 1đh.
Dậu lưu niên hại Tuất trụ giờ có 1đh.
8 - Lửa đỉnh núi trụ giờ có Giáp được lệnh nhưng nhược ở tuế vận khắc Đất trên tường trụ tháng và Kim trang sức trụ năm mỗi lực có 0,5đh (vì nó chỉ có max 1đh).
Lửa dưới núi ở đại vận và lưu niên đều có Đinh vượng ở lưu niên nên khắc Đất trên thành trụ tháng và Kim trang sức trụ năm mỗi lực có 0,5đh (nó chỉ còn max 1đh, vì can đã sử dụng 1,5đk).
9 - Mỗi Đinh ở tuế và vận là Thương quan gặp Quan trong tứ trụ có 0đh (vì chưa ra làm Quan).

Tổng số chỉ có 7,83đh sau khi giảm 7/12 (vì tam hội cục không hóa có 3 chi liền nhau và có 2 trụ năm và tháng động) còn 7,83.7/12đh = 4,57đh. Số đểm hạn này phải đến bệnh viện nằm điều trị nhưng không hề đe dọa tới tính mạng.

Nếu như ông Thiệu Ung đã ra làm Quan rồi thì cho dù đến năm Đinh Dậu ông không còn làm Quan nữa thì vẫn có 2đh do Thương quan gặp Quan. Khi đó tổng số sẽ là 9,83đh khi giảm 7/12 còn 9,83.7/12đh = 5,73đh. Số điểm này là quá cao khó mà thoát... được, mặc dù ông đã trở thành đại cao thủ về mệnh học (nhất là môn Tử Bình này). Đây chính là lý do ông đã biết trước nên phải đợi qua năm Đinh Dậu mới ra làm quan.
Đây chính là một cách giải hạn cơ bản mà chúng ta cần phải biết để nghiên cứu thêm các cách giải hạn khác.

Sơ đồ diễn tả điểm hạn tai họa năm Đinh Tị (66 tuổi) :
Hình ảnh
Năm Đinh Tị (1077) thuộc đại vận Ất Mùi và 2 tiểu vận là Mậu Thìn và Đinh Mão.
Ta thấy tam hội Hợi Tý Sửu không hóa trong tứ trụ bị phá bởi có lưu niên Đinh Tị TKĐX với trụ năm Ất Hợi và đại vận Ất Mùi TKĐX với trụ tháng Tân Sửu.
1 - Dụng thần Đinh vượng ở lưu niên có -1đh, nhưng tử tuyệt ở lệnh tháng có 0,5đh.
2 - Nhật can Giáp nhược ở lưu niên có 0đh.
3 - Mùi đại vận có 1 cát thần có -0,25đh và Thìn tiểu vận có 1 hung thần có +0,13đh.
4 - Trụ tháng Tân Sửu TKĐX với đại vận Ất Mùi có 0,13đh vì Tân thất lệnh còn nhược ở tuế vận (sẽ nói sau).
Lưu niên Đinh Tị TKĐX với trụ năm Ất Hợi có 0,5đh vì có Đinh vượng ở lưu niên.
Có 4 trụ TKĐX với nhau nên có thêm 0,3đh (sẽ nói sau).
5 - Đinh lưu niên vượng ở lưu niên khắc 2 Tân trong tứ trụ nên mỗi lực có 0,7đh, Đinh có -1đh can động.
2 Tân trong tứ trụ thất lệnh còn nhược ở tuế vận khắc Ất đại vận mỗi lực có 0đh và đều có 0đh can động.
Ất đại vận vượng ở lưu niên khắc Mậu tiểu vận có 1.1/2.1/2đh = 0,25đh (vì khắc trái dấu và khắc tiểu vận).
Mùi đại vận xung Sửu trụ tháng có 0,15đh và thêm 0,25đh do xung lệnh tháng (sẽ nói sau).
Hợi trụ năm khắc Tị lưu niên có 0,3đh và thêm 1đh do khắc Thái tuế.
6 - Mùi đại vận hình Tuất trụ giờ có 1đh và hại Tý trụ ngày có 1đh.
7 - Lửa đỉnh núi trụ giờ có Giáp được lệnh nhưng nhược ở tuế vận khắc Đất trên tường trụ tháng và Kim trang sức trụ năm mỗi lực có 0,5đh.
Cát trong đất lưu niên có Đinh vượng ở lưu niên khắc Kim trong cát đại vận có 0đh (vì nạp âm có chi là Tị bị khắc bởi Hợi trụ năm).
8 - Vì chi Mùi đại vận có 3 lực tác động tới các chi trong tứ trụ nên lực xung của Mùi đại vận với Sửu trụ tháng có 1G, Mùi đại vận hại Tý trụ ngày có 0,5G và hình Tuất trụ giờ có 0,5G. Tổng cộng có 2G, số điểm này nằm giữa 2 mức giảm là 1/6 và 1/5. Do vậy được giảm bằng mức trung bình của 2 mức giảm này (sẽ nói sau).
9 - Đinh lưu niên là Thương quan gặp Quan trong tứ trụ có 1đh (vì đã ra làm Quan).

Tổng số có 6,61đh có 2G nên được giảm còn 6,16.(4/5 + 5/6).1/2 đh = 5,03đh.
Với số điểm hạn này có thể chấp nhận được vì nó có thể gây tử vong nhưng đây là một Đại Cao Thủ về Tử Bình nên ông có thể giải cứu được, khó mà tử vong.

Do vậy từ ví dụ này chắc ta phải đưa ra quy tắc mới :
Lực khắc của nạp âm với các nạp âm khác bị giảm ¾ khi chi của nó bị khắc gần bởi Hợi hay Thân.
Nếu áp dụng quy tắc mới này thì Cát trong đất lưu niên có Đinh vượng ở lưu niên khắc Kim trong cát đại vận có 1đh nhưng bị giảm ¾ còn 1.3/4đh = 0,25đh.

Tổng số sẽ là 6,41đh khi giảm 2G sẽ còn 6,41.(4/5 + 5/6) .1/2 đh= 5,24đh.

Với số điểm 5,24đh này mới có thể chấp nhận được.

Do vậy quy tắc :
6 - Nạp âm có thể không khắc được các nạp âm khác khi chi của nạp âm bị khắc bởi tứ hành xung (như Tý khắc Ngọ; Dậu khắc Mão, Hợi khắc Tị, Thân khắc Dần).

Ta phải sửa lại thành :
6 - Nạp âm có thể không khắc được các nạp âm khác khi chi của nạp âm bị khắc gần bởi Tý hay Dậu và bị giảm ¾ khi bị khắc gần bởi Dậu hay Hợi.

Từ ví dụ này ta khẳng định Tam hội không hóa bị phá khi có ít nhất 2 trụ của nó bị TKĐX, vì nếu không bị phá thì tổng số cho dù có tới 8đh khi được giảm 5/12 còn 8.7/12đh = 4,67đh vẫn không thể gây ra tử vong được.

Cách giải cứu
Qua đây ta thấy giải cứu 2đh bởi hình và hại mà tới Đại Cao Thủ Thiệu Ung vẫn còn bó tay thì rõ ràng tôi đã sai khi cho rằng nếu đã hiểu nguyên nhân chủ yếu của hình và hại do con người gây ra thì có thể tránh được.

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Claude [Bot]2 khách.