Ví dụ số 14 :

Năm Canh Thìn
(2000) thuộc đại vận Tân Mão và 2 tiểu vận là Tân Tị và Canh Thìn.
Qua sơ đồ trên ta thấy Thân quá nhược mà Kiêu Ấn lại quá vượng vì lớn hơn Thân trên 20đv lại không có Tài tinh là Quan Sát của Kiêu Ấn nên dễ thành cách
Tòng Kim (Kiêu Ấn). Nhưng nếu Tòng Kim thì vào năm Canh Thìn có thêm lục hợp của Dậu trụ ngày với Thìn lưu niên hóa Kim
(vì có 2 Canh làm Thần dẫn), khi đó ngũ hợp của Ất trụ tháng với Canh lưu niên sẽ hóa Kim
(vì có Thìn lưu niên hóa Kim làm thần dẫn).
Còn lục hợp của Mùi trụ tháng với Mão đại vận hóa Mộc (vì có Ất trụ tháng làm thần dẫn) nhưng bị phá mất cục còn hợp (vì có trụ năm Tân Sửu TKĐX với trụ tháng Ất Mùi, và lực hợp của Mão đại vận với Mùi trụ tháng là 8,17đv lớn hơn lực xung của Sửu trụ năm với Mùi trụ tháng chỉ có 3,88đv). Vì vậy cách Tòng Kim càng mạnh thì nó phải là năm Dụng thần lên ngôi
, là năm đại phát Tài (vì có thêm 2 Kim cục là dụng thần) chứ không thể là phá Tài được.
Từ đây ta khẳng định tứ trụ này không thể Tòng Kim (Kiêu Ấn) được và năm Canh Thìn là phá Tài thì ta cũng khẳng định luôn Kiêu Ấn phải là hành kỵ thần (có 0,5đh) mặc dù Thân nhược. Do vậy ta kết luận Kiêu Ấn phải là kỵ thần 1 còn là hành kỵ vượng (vì lớn hơn hỷ dụng 1 trên 20đv), nên Dụng thần chính là Nhâm tàng trong Thân trụ giờ, các hành khác đều là kỵ thần.
Vì có Ất trong tứ trụ hợp với tuế vận hóa cục nên phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm. Ta thấy Kim có 24,83đv được thêm 1,39đv của Ất trụ tháng hóa Kim (nên Mộc còn 0đv) và 4,27đv của Canh lưu niên thành 30,49đv.
Vì Kim là kỵ thần 1 động nên ta phải tính thêm điểm vượng của các can chi động ở tuế vận (số điểm vượng thêm này không làm thay đổi Dụng thần trong tứ trụ mà nó chỉ có tác dụng tới xét điểm vượng của hành kỵ vượng, sẽ nói sau). Do vậy Kim có 30,49đv được thêm 7,5đv của Thìn lưu niên (vì đã hóa Kim) thành 37,99đv (tức lớn hơn hỷ dụng 1 là Thủy trên 30đv), còn Mộc có 0đv được thêm 8,17đv của Mão đại vận thành 8,17đv.
1 - Dụng thần Nhâm tử tuyệt tại lưu niên có 1đh.
2 - Nhật can Quý nhược ở lưu niên có 0đh.
3 - Thìn tiểu vận có 1 hung thần có 0,13đh (không xét tiểu vận Tân Tị vì Tị có 2 cát thần có -2.0,13đh).
4 - Ngũ hợp của Ất với Canh hóa Kim có 0,5đh, Ất và Canh mỗi can có 0,5đh kỵ vượng (vì hóa Kim, chưa xét tới nó lớn hơn hỷ dụng 1 trên 30đv).
Lục hợp của Dậu với Thìn hóa Kim có 0,5đh và chi Thìn lưu niên có 0,5đh kỵ vượng (vì hóa Kim, chi trong tứ trụ không có điểm hạn kỵ vượng, sẽ nói sau).
5 - Trụ năm Tân Sửu TKĐX với trụ tháng Ất Mùi có 0,13đv (vì Tân thất lệnh còn nhược ở tuế vận) và được thêm 0,05đh (vì chỉ có 2 trụ TKĐX với nhau, sẽ nói sau).
6 - Gỗ Lựu trụ năm có Canh vượng ở lưu niên khắc Kim giá đèn lưu niên có 0,25đh (vì không có lửa yếu là Lửa đèn).
Gồ Tùng đại vận có Tân nhược ở tuế vận khắc Kim giá đèn lưu niên có 0đh.
Tổng số có 4,06đh. Số điểm này quá thấp không thể chấp nhận được vì nó không thể gây ra bất cứ tai họa nào cả. Theo các ví dụ thực tế thì phá Tài chỉ là mất một số ít tài sản của đương số nên nó tương đương với tổng số từ 4,5đh tới dưới 4,6đh, còn phá sản là mất hết toàn bộ tài sản của đương số, thậm chí còn bị nợ thêm, tương ứng với tổng số từ 4,6đh trở lên. Do vậy ở đây vì chỉ là phá tài nên ta chỉ cần tìm thêm 0,5đh nữa là đủ. Từ đây ta mới phải đụng chạm tới điểm kỵ vượng lớn hơn hỷ dụng 1 trên 30đv. Vì chỉ có 3 điểm hạn kỵ vượng nên mỗi điểm kỵ vượng này chỉ cần thêm 0,5.1/3đh = 0,17đh kỵ vượng là đủ.
Từ ví dụ này ta đưa ra quy tắc :
1 - Kiêu Ấn có 4 hay 5 can chi và không có Tài tinh (tức không có Quan Sát của Kiêu Ấn) thì không thể Tòng khi Thân không lớn hơn 20%đv (hay 25%đv ?) của Kiêu Ấn. Kiêu Ấn là kỵ thần 1 và lớn hơn hỷ dụng 1 từ 20đv trở lên, khi đó Kiêu Ấn trở thành hành kỵ vượng có +0,5đh, nếu Kiêu ấn lớn hơn Thân từ 30đv trở lên thì điểm kỵ vượng mới được tăng thêm 1/3 (kể cả khi tính thêm điểm vượng ở tuế vận), còn nếu lớn hơn Thân từ 40đv trở lên điểm kỵ vượng mới có thể được tăng gấp đôi.
Nếu áp dụng quy tắc này thì không thể Tòng Kim
(Kiêu Ấn) vì Thân nhỏ hơn Kiêu Ấn là 3,88/37,99 = 10,21%
(tức nhỏ hơn 20%, sẽ nói sau). Do vậy hành Kiêu Ấn đã trở thành hành kỵ vượng có 0,5đh kỵ vượng và được thêm 1/3đh của nó là 0,5.1/3đh =
0,17đh thành
0,67đh.
Tổng số là
4,57đh. Số điểm hạn này mới có thể chấp nhận được.
Ta thấy tai họa dễ xẩy ra vào ngày
4/10 (của lưu niên), vì nó là tháng Ất Dậu TKĐX với đại vận Tân Mão, thêm có chi Dậu này cùng Dậu trụ ngày trong tứ trụ tranh hợp với Thìn lưu niên, nhưng quan trọng nhất trong tháng 10 này có ngày mùng 4 là ngày
Ất Mùi TKĐX với trụ năm
Tân Sửu.
(Mỗi cách Tòng đều có các ngoại lệ của nó, nhất là Tòng theo Thực Thương, Kiêu Ấn, Lệnh tháng... sẽ nói sau.)