Ví dụ số 28 trên phần “Xét tai họa xẩy ra ở tiểu vận Kỷ Mùi :” tôi luận chưa đầy đủ nay xin luận thêm :VULONG đã viết: 09:17, 13/05/26 Ví dụ số 28 : Nam đứng tên một nhà máy bị phá sản năm 1987
Qua sơ đồ trên ta thấy trong tứ trụ có tam hội Tị trụ năm với Ngọ trụ giờ và Mùi trụ ngày hóa Hỏa thành công (vì có Đinh trụ ngày hay Bính trụ giờ làm thần dẫn). Thân (Hỏa) có tới 5 can chi mà không có Quan Sát (Thủy) và lớn hơn hỷ dụng 1 là Tài tinh Kim trên 20đv nên cách Tòng Hỏa được thành lập. Can làm dụng thần chính là Bính trụ giờ, hỷ thần là Mộc và Thổ còn kỵ thần là Kim và Thủy.
Tai họa phá sản xẩy ra vào năm Đinh Mão (1987) thuộc đại vận Bính Tuất và 2 tiểu vận là Canh Thân và Kỷ Mùi. Đầu tiên ta xét hạn ở tiểu vận Canh Thân, sau đó mới xét đến tiểu vận Kỷ Mùi.
..........................................................................................
........................................................................................
Xét tai họa xẩy ra ở tiểu vận Kỷ Mùi :
Ở vận Kỷ Mùi thì không có 3.0,13đh của 3 Hung thần ở Thân nhưng khi tính thêm điểm vượng ở tuế vận không có 3,6đv của Canh tiểu vận nên Thân (Hỏa) lớn hơn hỷ dụng 1 là Kim trên 40đv. Do vậy nếu điểm kỵ vượng được tăng 4 lần thì Tổng số có tới (7,01-3.0,13+1,5)).2/3đh = 5,41đh. Số điểm này là quá cao không thể chấp nhận được vì nó thừa sức gây ra tử vong.
Từ ví dụ này ta đưa ra các quy tắc :
1 - Chi tuế vận hợp hóa cục mà có ngũ hợp liên kết giữa tứ trụ với tuế vận thì phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm.
2 - Sau khi tính lại cách Tòng bị phá thì điểm hạn của ngũ hành được xác định như bình thường.
3 - Can đại vận là kỵ vượng hợp khắc can trong tứ trụ có điểm kỵ vượng nhưng các can là kỵ vượng ở ngoài tổ hợp này không có điểm kỵ vượng.
“Xét tai họa xẩy ra ở tiểu vận Kỷ Mùi :
Ở vận Kỷ Mùi thì không có 3.0,13đh của 3 Hung thần ở Thân nhưng khi tính thêm điểm vượng ở tuế vận không có 3,6đv của Canh tiểu vận nên Thân (Hỏa) lớn hơn hỷ dụng 1 là Kim trên 40đv. Do vậy nếu điểm kỵ vượng được tăng 4 lần thì Tổng số có tới (7,01-3.0,13+1,5)).2/3đh = 5,41đh. Số điểm này là quá cao không thể chấp nhận được vì nó thừa sức gây ra tử vong.
Từ trường hợp này rõ ràng ta thấy nếu tai họa đã xẩy ra ở tiểu vận đầu thì sang tiểu vận sau nếu không xẩy ra tai họa khác thì Tổng số được giảm ít nhất 20% còn lại là (7,01-3.0,13+1,5).4/5.2/3đh = 5,41đh.5,41.80%đh = 4,33đh. Số điểm này có thể chấp nhận được vì nó không đủ sức gây ra bất kỳ thêm tai họa nào cả. Nhưng nếu thực tế tiểu vận sau là Kỷ Mùi vẫn xẩy ra tiếp tai họa nào đó thì ta phải giảm thêm tỉ lệ giảm ở tiểu vận Kỷ Mùi xuống mức thấp hơn (như 10% hay 5% ...chẳng hạn ?) để nó ứng hợp với tai họa nặng hay nhẹ đã diễn ra trong thực tế.
Còn nếu vì sao đó mà tiểu vận đầu là Canh Thân chưa xẩy ra tai họa nặng hay nhẹ nào cả thì đến tiểu vận sau là Kỷ Mùi chắc tai họa nặng hay nhẹ sẽ xẩy ra theo đúng số điểm hạn của nó.
Từ ví dụ này ta đưa ra các quy tắc :
1 - Chi tuế vận hợp hóa cục mà có ngũ hợp liên kết giữa tứ trụ với tuế vận thì phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm.
2 - Sau khi tính lại cách Tòng bị phá thì điểm hạn của ngũ hành được xác định như bình thường.
3 - Can đại vận là kỵ vượng hợp khắc can trong tứ trụ có điểm kỵ vượng nhưng các can là kỵ vượng ở ngoài tổ hợp này không có điểm kỵ vượng.
4 - Nếu tai họa đã xẩy ra ở tiểu vận đầu thì sang tiểu vận sau Tổng số điểm thường bị giảm thêm khoảng 20% hoặc nhỏ hơn nếu có tai họa khác xẩy ra.”

