Sau khi tổng hợp các ví dụ về các trường hợp
“Điểm vượng trong vùng tâm phải được tính lại” tôi thấy
"Ví Dụ Số 18B" là một ví dụ đặc biệt xứng đáng được chọn làm ví dụ mẫu để minh họa cho
"Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa - bản chính thức".
Do vậy tôi sẽ luận lại toàn bộ
"Ví Dụ Số 18B" như sau :
Ví dụ số 18B : Georg Elzer ám sát Hitler bị sử bắn ngày 9/4/1945
“ Ngày 9/4/1945, Georg Elzer bị sử bắn, chỉ 4 tuần trước khi Thế chiến II kết thúc ở châu Âu.” (theo Wikipedia).
(Chú ý : Tháng 1 năm 1903 theo dương lịch là tháng 13 của năm 1902 theo lịch can chi.
)
Sơ đồ diễn tả điểm hạn tai họa Georg Alzer bị bắn ngày 9/4/1945

(
102 có nghĩa là sau khi tính thêm điểm vượng ở tuế vận thì Dụng thần và điểm hạn của ngũ hành được thay đổi như bình thường.)
Ngày 9/4/1945 là năm Ất Dậu thuộc đại vận Đinh Tị và tiểu vận Giáp Thân
(vì chưa qua ngày sinh nhật 4/13).
Ta thấy trong tứ trụ có bán hợp của Tý trụ tháng với Thìn trụ ngày hóa Thủy
(vì có Nhâm làm thần dẫn).
Có tam hợp của Sửu trụ giờ với Tị đại vận và Dậu lưu niên hóa Kim
(vì có Tân trụ giờ làm thần dẫn). Tam hợp này đã phá tan cả cục và hợp của lục hợp của Tị đại vận với Thân tiểu vận hóa Thủy
(vì có Nhâm làm thần dẫn).
Có ngũ hợp của 3 Nhâm trong tứ trụ hợp khắc Đinh đại vận.
Ta thấy năm Ất Dậu
(1945) có tam hợp
Ti Dậu Sửu hóa
Kim nên trong tứ trụ không còn Sửu
(Thổ) là hành Quan Sát của Thủy mà Thủy có
35,48đv lớn hơn
hỷ dụng 1 là
Mộc trên
30đv nên thành cách
Tòng Thủy.
Nếu thành cách
Tòng Thủy thì năm Ất Dậu không thể xấu mà phải là năm đại phát Tài hay phát Quan mới đúng
(vì Kim, Thủy và Mộc đều là hỷ dụng thần, nhất là có Kim cục). Điều này là không thể chấp nhận được nên chắc chắn
điểm vượng trong vùng tâm
phải được tính lại.
Theo quy tắc mới tính lại điểm vượng trong vùng tâm thì :
Kim là : Tân trụ giờ động
(vì khắc Ất lưu niên) có 7,05đv trong vùng tâm, sau khi tính lại có (7,05+3+2.6).1/4đv = 7,01đv
(tức điểm vượng của Tân ở lưu niên chính là điểm vượng trung bình của nó tại lưu niên được tính như sau : Là điểm vượng của nó ở trong vùng tâm và điểm vượng của nó tại chi đại vận cùng 2 lần điểm vượng của nó tại chi lưu niên) được thêm (1,89+10+2.6).1/4đv = 5,97đv của Sửu trụ giờ
(vì Sửu đã hóa Kim) thành
12,98đv.
Thủy là : 3 Nhâm trong tứ trụ đều động nên Nhâm trụ năm có 7,03đv trong vùng tâm sau khi tính lại có (7,03+3,15+2.7),1/4đv = 6,05đv. Tương tự sau khi tính lại Nhâm trụ tháng có 6,54đv còn Nhâm trụ ngày có 6,29đv. Còn Tý và Thìn trong tứ trụ đã hóa Thủy không động nên Tý vẫn có 6đv và Thìn vẫn có 4,2đv
(trong vùng tâm) thành
29,08đv + 5.0,25đv (vì có 5 can chi cùng hành Thủy).
Thổ có 1,89đv của Sửu trụ giờ nhưng hóa Kim còn 0đv, còn
Hỏa và
Mộc không thay đổi.
Ta thấy sau khi tính lại vẫn
Tòng Thủy là không thể chấp nhận được
(vì Thủy có 5 can chi quá vượng hơn hỷ dụng 1 là Mộc trên 20đv).
Do vậy ta tính thêm điểm vượng của các can chi động ở tuế vận xem sao ?
Tính thêm điểm vượng của các can chi động ở tuế vận thì :
Ta thấy ở tuế vận chỉ có Giáp tiểu vận là tĩnh còn tất cả các can chi khác đều động.
Kim có 12,98đv được thêm :
Tị đại vận
(vì hóa Kim) có (10+2.6).1/3đv = 7,33đv
(tức điểm vượng của can hay chi của tuế vận tại lưu niên chính là điểm vượng trung bình của nó tại chi lưu niên được tính như sau : Là điểm vượng của nó tại chi đại vận cùng 2 lần điểm vượng của nó tại chi lưu niên, riêng can hay chi tiểu vận được thêm điểm vượng của nó tại chi tiểu vận nhưng phải chía cho 4), 9đv của Dậu lưu niên
(vì hóa Kim) và 8,75đv của Thân tiểu vận thành 36,06đv + 5.0,25đv
(vì có 5 can chi mang hành Kim).
Hỏa có 0đv được thêm 7,33đv của Đinh đại vận thành 7,33đv.
Mộc có 3,33đv được thêm 3,15đv của Ất lưu niên thành 6,48đv.
Thổ và Thủy không thay đổi.
Ta thấy bây giờ
Thủy không còn là
kỵ thần 1 nữa mà thay nó là
Kim mới là
kỵ thần 1. Do vậy
Kim là
kỵ vượng có
5 can chi và lớn hơn hỷ
dụng thần 1 là
Hỏa trên
20đv nhưng không thể
Tòng Kim vì có
Đinh là Quan Sát của
Kim. Điều này mới có thể chấp nhận được vì khi đó
Kim và
Thủy đều là
kỵ thần thì năm
1945 mới có thể xẩy ra tai nạn
tử vong như vậy.
(Với cách tính điểm vượng của các can chi mới này thì 3 Nhâm hợp với tuế vận không phải bị giảm 1/5đv hay 1/10đv của chúng.)
Từ đây ta phải đưa ra giả thiết :
Chi tuế và vận khác nhau hợp với 1 chi trong tứ trụ hóa cục mà có tổ hợp của thiên can liên kết tứ trụ với tuế vận thì phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm nhưng sau khi tính thêm điểm vượng của các can chi động ở tuế vận thì Dụng thần và điểm hạn của ngũ hành vẫn có thể thay đổi như bình thường.
Nếu áp dụng giả thiết này thì dụng thần đầu tiên phải là Tài tinh Hỏa, can làm dụng thần chính là
Bính tàng trong Dần trụ năm, hỷ thần là Mộc còn Kim, Thủy và Thổ đều là kỵ thần
(Thổ là kỵ thần vì Kim là Kiêu Ấn nhiều). Trong đó
Kim là
kỵ vượng lớn hơn
hỷ dụng 1 là
Hỏa trên
20đv nên
điểm kỵ vượng được tăng
gấp đôi.
1 - Dụng thần Bính tử tuyệt tại lưu niên Dậu có 1đh.
2 - Nhật can Nhâm vượng ở lưu niên Dậu có -1đh.
3 - Giáp tiểu vận có 1 cát thần có 0,25.50%đh = 0,125đh
(vì điểm hạn của Thần Sát ở tiểu vận giảm 50%).
4 - Tam hợp Tị Dậu Sửu hóa Kim có 2.0,75đh. Tị đại vận và Dậu lưu niên mỗi chi có 2.0,5đh kỵ vượng
(vì hóa Kim).
5 - Tân trụ giờ được lệnh và vượng ở lưu niên khắc Ất lưu niên có 1đh, và có 0đh can động. Ất lưu niên chỉ vượng ở đại vận có -0,5đh can động nhưng bị Tân khắc mất hết.
3 Nhâm được lệnh và vượng ở lưu niên hợp khắc Đinh đại vận mỗi lực có 0,5đh, và 0đh can động. Đinh đại vận vượng ở lưu niên có -1đh can động nhưng bị khắc bởi 3 Nhâm còn -1.50%.50%.50%đh = -0,13đh.
6 - Đất trên tường trụ giờ có Tân được lệnh
(và vượng ở lưu niên) khắc nước Sông trụ ngày có 1đh nhưng có Tân trụ giờ là Kim và thêm Kim cục giải cứu nên điểm hạn được giảm ít nhất là 50% còn 0,5đh.
Tổng số có
5,24đh. Số điểm này có thể chấp nhận được vì nó thừa sức gây ra tử vong.
Một lần nữa ta lại thấy ngày
9/4 là ngày
Mậu Thân TKĐX với trụ năm
Nhâm Dần, Georg Elzer bị sử bắn. Mặc dù trước đó có ngày
8/2 là ngày
Mậu Thân thuộc tháng
Mậu Dần và ngày
28/3 là ngày
Bính Thân thuộc tháng
Kỷ Mão đều TKĐX với trụ năm
Nhâm Dần lại bình an,
tại sao vậy ?
Có thể 2 ngày này thuộc tháng
Dần và
Mão lên hỷ thần
Mộc lâm quan, Đế vượng ở vận có thể sinh cho dụng thần
Bính vượng ở Dần và Mão, trong khi
dương Thủy lại hưu tù, tử tuyệt ở 2 tháng này nên
Dụng thần Bính đủ sức ngăn cản tai họa xẩy ra chăng ?
Ta thấy ở đây Kim quá vượng lại là
âm Kim (vì Tân là thần dẫn) nên chắc chắn cái chết có liên quan tới
Phổi (vì âm Kim đại diện cho Phổi). Nếu vậy thì
Phổi của anh ta đã trúng đạn khi bị sử bắn, còn nếu bị bắn vào đầu thì cái chết lại do Kim là đạn gây ra. Nói chung cái chết này chung quy vẫn liên quan tới hành
Kim (đại diện) gây ra.
Từ ví dụ này ta đưa ra các quy tắc :
1 - Chi tuế và vận khác nhau hợp với 1 chi trong tứ trụ hóa cục mà có tổ hợp của thiên can liên kết tứ trụ với tuế vận thì phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm nhưng sau khi tính thêm điểm vượng của các can chi động ở tuế vận thì Dụng thần và điểm hạn của ngũ hành vẫn có thể thay đổi như bình thường.
2 - Điểm hạn hóa cục của hành kỵ vượng chỉ được tăng khi có ít nhất 3 chi.
Mọi người thử tìm xem biết đâu lại có cách luận giải khác với cách luận này của tôi chăng ?