“Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Trao đổi kiến thức về tứ trụ (tử bình, bát tự)
Nội qui chuyên mục
Đây là chuyên mục trao đổi kiến thức về tứ trụ (bát tự, tử bình) dành cho thành viên chính thức. Các bài viết trao đổi cần có nội dung kiến thức hoặc cung cấp thông tin nghiệm lý. Muốn nhờ xem, luận giải lá số vui lòng đăng tại mục Xem tứ trụ.
Các bài viết và thành viên vi phạm sẽ bị xử lý.
Chia sẻ
VULONG
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1132
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Gửi bài gửi bởi VULONG »

VULONG đã viết: 09:17, 13/05/26 Ví dụ số 28 : Nam đứng tên một nhà máy bị phá sản năm 1987
Hình ảnh
Qua sơ đồ trên ta thấy trong tứ trụ có tam hội Tị trụ năm với Ngọ trụ giờ và Mùi trụ ngày hóa Hỏa thành công (vì có Đinh trụ ngày hay Bính trụ giờ làm thần dẫn). Thân (Hỏa) có tới 5 can chi mà không có Quan Sát (Thủy) và lớn hơn hỷ dụng 1 là Tài tinh Kim trên 20đv nên cách Tòng Hỏa được thành lập. Can làm dụng thần chính là Bính trụ giờ, hỷ thần là Mộc và Thổ còn kỵ thần là Kim và Thủy.
Tai họa phá sản xẩy ra vào năm Đinh Mão (1987) thuộc đại vận Bính Tuất và 2 tiểu vận là Canh Thân và Kỷ Mùi. Đầu tiên ta xét hạn ở tiểu vận Canh Thân, sau đó mới xét đến tiểu vận Kỷ Mùi.
..........................................................................................
........................................................................................


Xét tai họa xẩy ra ở tiểu vận Kỷ Mùi :
Ở vận Kỷ Mùi thì không có 3.0,13đh của 3 Hung thần ở Thân nhưng khi tính thêm điểm vượng ở tuế vận không có 3,6đv của Canh tiểu vận nên Thân (Hỏa) lớn hơn hỷ dụng 1Kim trên 40đv. Do vậy nếu điểm kỵ vượng được tăng 4 lần thì Tổng số có tới (7,01-3.0,13+1,5)).2/3đh = 5,41đh. Số điểm này là quá cao không thể chấp nhận được vì nó thừa sức gây ra tử vong.

Từ ví dụ này ta đưa ra các quy tắc :
1 - Chi tuế vận hợp hóa cục mà có ngũ hợp liên kết giữa tứ trụ với tuế vận thì phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm.
2 - Sau khi tính lại cách Tòng bị phá thì điểm hạn của ngũ hành được xác định như bình thường.
3 - Can đại vận là kỵ vượng hợp khắc can trong tứ trụ có điểm kỵ vượng nhưng các can là kỵ vượng ở ngoài tổ hợp này không có điểm kỵ vượng.
Ví dụ số 28 trên phần Xét tai họa xẩy ra ở tiểu vận Kỷ Mùi : tôi luận chưa đầy đủ nay xin luận thêm :

Xét tai họa xẩy ra ở tiểu vận Kỷ Mùi :
Ở vận Kỷ Mùi thì không có 3.0,13đh của 3 Hung thần ở Thân nhưng khi tính thêm điểm vượng ở tuế vận không có 3,6đv của Canh tiểu vận nên Thân (Hỏa) lớn hơn hỷ dụng 1Kim trên 40đv. Do vậy nếu điểm kỵ vượng được tăng 4 lần thì Tổng số có tới (7,01-3.0,13+1,5)).2/3đh = 5,41đh. Số điểm này là quá cao không thể chấp nhận được vì nó thừa sức gây ra tử vong.
Từ trường hợp này rõ ràng ta thấy nếu tai họa đã xẩy ra ở tiểu vận đầu thì sang tiểu vận sau nếu không xẩy ra tai họa khác thì Tổng số được giảm ít nhất 20% còn lại là (7,01-3.0,13+1,5).4/5.2/3đh = 5,41đh.5,41.80%đh = 4,33đh. Số điểm này có thể chấp nhận được vì nó không đủ sức gây ra bất kỳ thêm tai họa nào cả. Nhưng nếu thực tế tiểu vận sau là Kỷ Mùi vẫn xẩy ra tiếp tai họa nào đó thì ta phải giảm thêm tỉ lệ giảm ở tiểu vận Kỷ Mùi xuống mức thấp hơn (như 10% hay 5% ...chẳng hạn ?) để nó ứng hợp với tai họa nặng hay nhẹ đã diễn ra trong thực tế.
Còn nếu vì sao đó mà tiểu vận đầu là Canh Thân chưa xẩy ra tai họa nặng hay nhẹ nào cả thì đến tiểu vận sau là Kỷ Mùi chắc tai họa nặng hay nhẹ sẽ xẩy ra theo đúng số điểm hạn của nó.

Từ ví dụ này ta đưa ra các quy tắc :
1 - Chi tuế vận hợp hóa cục mà có ngũ hợp liên kết giữa tứ trụ với tuế vận thì phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm.
2 - Sau khi tính lại cách Tòng bị phá thì điểm hạn của ngũ hành được xác định như bình thường.
3 - Can đại vận là kỵ vượng hợp khắc can trong tứ trụ có điểm kỵ vượng nhưng các can là kỵ vượng ở ngoài tổ hợp này không có điểm kỵ vượng.
4 - Nếu tai họa đã xẩy ra ở tiểu vận đầu thì sang tiểu vận sau Tổng số điểm thường bị giảm thêm khoảng 20% hoặc nhỏ hơn nếu có tai họa khác xẩy ra.

VULONG
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1132
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Gửi bài gửi bởi VULONG »

Ví dụ số 29 : Bé gái bị chết đuối
Hình ảnh
Qua sơ đồ trên ta thấy trong tứ trụ có lục hợp của Ngọ trụ tháng với Mùi trụ ngày hóa Thổ thành công (vì có Mậu là thần dẫn). Ta thấy Thực Thương (Thổ) quá cường vượng nhưng không thể Tòng (vì có Giáp trụ giờ là Quan Sát khắc được 4 can chi Thổ - nhưng 2 chi Thổ cục không khắc được). Thổ là hành kỵ vượng lớn hơn hỷ dụng 1 là Tỷ Kiếp (Hỏa) trên 20đv nhưng điểm kỵ vượng không được tăng gấp đôi (vì chưa vào đại vận - tháng 8/1993). Do vậy dụng thần đầu tiên phải là Kiêu Ấn, nên dụng thần chính là Ất tàng trong Thìn trụ năm, hỷ thần là Hỏa còn kỵ thần là Thổ, Kim và Thủy.

Tai họa xẩy ra vào năm Canh Ngọ (1990) chưa vào đại vận, thuộc tiểu vận thứ 2 thay đại vận là Tân Sửu (vì đã qua ngày sinh nhật 21/6). Nó thuộc tháng Quý Mùi (tháng 7) và ngày Giáp Thìn (ngày18) của năm Canh Ngọ.
Lục hợp Thổ trong tứ trụ hợp với lưu niên Ngọ hóa Thổ nên điểm vượng trong vùng tâm phải tính lại. Sau khi tính lại ta thấy điểm vượng của Thổ coi như không thay đổi nên Dụng thần và điểm hạn của ngũ hành không thay đổi. Sau khi tính thêm điểm vượng ở tuế vận ta thấy hành kỵ vượng (Thổ) lớn hơn hỷ dụng 1 (Kim) trên 30đv nên điểm kỵ vượng chỉ được tăng gấp đôi (vì chưa vào đại vận - tháng 8/1993).

1 - Dụng thần Ất vượng ở lưu niên Ngọ có -1đh.
2 - Nhật can Đinh nhập mộ tại đại vận Sửu có 1đh (vì Thân nhược), nhưng vượng ở lưu niên Ngọ có -1đh.
3 - Sửu đại vận có 1 cát thần có -0,25đh và 1 hung thần có 0,25đh.
4 - Lục hợp Thổ cục trong tứ trụ hợp với Ngọ lưu niên có 0,25đh (vì chỉ có Ngọ lưu niên có điểm hạn). Ngọ lưu niên hóa Thổ có 2.0,5đh kỵ vượng.
5 - Đinh trụ ngày được lệnh lại vượng ở lưu niên khắc Tân đại vận có 0,7đh và Canh lưu niên có 0,38đh (vì khác dấu), có 0đh can động.
Tân đại vận nhược ở cả tuế và vận nên có 0đh can động và khắc Giáp trụ giờ có 0đh. Canh lưu niên vượng ở lưu niên có 1đh can động và khắc Giáp trụ giờ có 1đh nhưng đều bị giảm 35%đh (do Đinh khắc) còn 0,65đh.
Giáp trụ giờ thất lệnh chỉ vượng ở đại vận có -0,5đh can động nhưng bị giảm 65%đh (do Canh khắc) còn -0,5.35%đh = -0,18đh. Lực khắc của Giáp trụ giờ với Thổ cục có 0,5đk cũng bị giảm 65% (do Canh khắc) còn 0,5.0,35đk = 0,18đk (lực này không gây ra điểm hạn). Do vậy Thổ cục có 0,25đh bị giảm 18% còn 0,25.82%đh = 0,21đh.
6 - Lửa mặt trời trụ tháng có Mậu vượng ở lưu niên khắc Lửa đèn trụ giờ có 1đh.
Đất ven đường lưu niên có Canh vượng ở lưu niên khắc Nước mưa trụ ngày có 1đh.
Đất trên tường đại vận có Tân nhược ở cả tuế và vận khắc Nước mưa trụ ngày có 0đh.

Tổng số có 4,93đh. Số điểm này cho dù được cộng thêm sai số 0,05đh vẫn chỉ là 4,98đh nên khó có thể chấp nhận được (vì nó rất khó gây ra tử vong). Do vậy ta phải tìm một lý do nào đó hợp lý, có logic mà có thể gây ra thêm 0,05đh là được.
Ở đây ta thấy chỉ có lý do về điểm kỵ vượng là đáng quan tâm nhất. Bởi vì điểm kỵ vượng được tăng từ 2 hay 3 lần trở lên… chắc chắn phải có thêm một sai số nào đó mới hợp lý ? Do vậy ta đưa ra giả thiết nếu điểm kỵ vượng được tăng từ 2 lần trở lên thì sai số của Tổng số điểm hạn còn lại có thể được thêm +0,05đh ?
Nếu sử dụng giả thiết này thì ta thấy điểm kỵ vượng ở đây được tăng gấp 2 lần nên có thêm 0,05đh.
Tổng số là (4,93+0,05+0,05)đh = 5,03đh. Số điểm này mới có thể chấp nhận được (vì nó đủ sức để gây ra tử vong - 5,00đh).

Ta thấy năm Canh Ngọ hành Thổ quá cường vượng thì tai họa thường xẩy ra liên quan tới hành Thổ đại diện nhưng ở đây nó lại liên quan tới hành Thủy (vì chết đuối) là hành yếu nhất còn là hành bị hành vượng nhất của 5 hành trong tứ trụ khắc nên bị chết đuối. Điều này chứng tỏ tai họa xẩy ra không chỉ liên quan tới hành vượng nhất mà còn liên quan tới hành nhược nhất mà hành vượng nhất khắc.
Nhưng tại sao tai họa không xẩy ra vào các tháng Tị hay Ngọ là các tháng Thổ cực vượng còn Thủy thì cực nhược mà lại xẩy ra vào tháng Mùi ? Bởi vì điểm hạn của hành kỵ vượngThổ quá quan trọng để gây ra tai họa này nên Mùi trụ ngày là yếu tố then chốt vì nó hợp với Ngọ trụ tháng và Ngọ lưu niên hóa Thổ. Do vậy tai họa không xẩy ra vào tháng Tị hay Ngọ mà phải xẩy ra vào tháng Mùi là vậy. Ta thấy ngày sinh nhật là ngày 21/6/1990 chính là ngày bắt đầu của tháng Quý Mùi. Thêm một yếu tố phụ là tháng Quý Mùi có Quý thuộc hành nhược nhất còn bị nhập mộ tại Mùi.
Trong tháng Quý Mùi của lưu niên tai họa xẩy ra vào ngày Giáp Thân (18/7), có thể do Giáp trong tứ trụ động do Canh và Tân ở tuế vận khắc ? Nếu vậy thì sao Đinh trụ ngày cũng động vì khắc Canh và Tân ở tuế vận mà tai họa không xẩy ra vào ngày Đinh mà lại vào ngày Giáp ? Điều này cho biết can ngày của năm xẩy ra tai họa thường mang hành khắc hay bị hành cường vượng khắc phải ở trạng thái tử tuyệt tại chi mà nó đóng.

Qua ví dụ này ta thấy điểm hạn của các quy tắc được áp dụng ở đây là hoàn toàn chính xác.

Từ ví dụ này ta đưa ra quy tắc :
1 - Nếu điểm kỵ vượng được tăng từ 2 lần trở lên thì sai số của Tổng số điểm hạn còn lại có thể được thêm 0,05đh.
2 - Tai họa thường xẩy ra vào tháng (của lưu niên) giống với chi trong tứ trụ động mang yếu tố quan trọng nhất.
3 - Tai họa thường xẩy ra vào ngày và tháng của lưu niên có can mang hành nhược khắc hay bị hành kỵ vượng khắc mà tử tuyệt tại chi chúng đóng.

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Claude [Bot]14 khách.