“Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Trao đổi kiến thức về tứ trụ (tử bình, bát tự)
Nội qui chuyên mục
Đây là chuyên mục trao đổi kiến thức về tứ trụ (bát tự, tử bình) dành cho thành viên chính thức. Các bài viết trao đổi cần có nội dung kiến thức hoặc cung cấp thông tin nghiệm lý. Muốn nhờ xem, luận giải lá số vui lòng đăng tại mục Xem tứ trụ.
Các bài viết và thành viên vi phạm sẽ bị xử lý.
Chia sẻ
VULONG
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1133
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Gửi bài gửi bởi VULONG »

VULONG đã viết: 09:17, 13/05/26 Ví dụ số 28 : Nam đứng tên một nhà máy bị phá sản năm 1987
Hình ảnh
Qua sơ đồ trên ta thấy trong tứ trụ có tam hội Tị trụ năm với Ngọ trụ giờ và Mùi trụ ngày hóa Hỏa thành công (vì có Đinh trụ ngày hay Bính trụ giờ làm thần dẫn). Thân (Hỏa) có tới 5 can chi mà không có Quan Sát (Thủy) và lớn hơn hỷ dụng 1 là Tài tinh Kim trên 20đv nên cách Tòng Hỏa được thành lập. Can làm dụng thần chính là Bính trụ giờ, hỷ thần là Mộc và Thổ còn kỵ thần là Kim và Thủy.
Tai họa phá sản xẩy ra vào năm Đinh Mão (1987) thuộc đại vận Bính Tuất và 2 tiểu vận là Canh Thân và Kỷ Mùi. Đầu tiên ta xét hạn ở tiểu vận Canh Thân, sau đó mới xét đến tiểu vận Kỷ Mùi.
..........................................................................................
........................................................................................


Xét tai họa xẩy ra ở tiểu vận Kỷ Mùi :
Ở vận Kỷ Mùi thì không có 3.0,13đh của 3 Hung thần ở Thân nhưng khi tính thêm điểm vượng ở tuế vận không có 3,6đv của Canh tiểu vận nên Thân (Hỏa) lớn hơn hỷ dụng 1Kim trên 40đv. Do vậy nếu điểm kỵ vượng được tăng 4 lần thì Tổng số có tới (7,01-3.0,13+1,5)).2/3đh = 5,41đh. Số điểm này là quá cao không thể chấp nhận được vì nó thừa sức gây ra tử vong.

Từ ví dụ này ta đưa ra các quy tắc :
1 - Chi tuế vận hợp hóa cục mà có ngũ hợp liên kết giữa tứ trụ với tuế vận thì phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm.
2 - Sau khi tính lại cách Tòng bị phá thì điểm hạn của ngũ hành được xác định như bình thường.
3 - Can đại vận là kỵ vượng hợp khắc can trong tứ trụ có điểm kỵ vượng nhưng các can là kỵ vượng ở ngoài tổ hợp này không có điểm kỵ vượng.
Ví dụ số 28 trên phần Xét tai họa xẩy ra ở tiểu vận Kỷ Mùi : tôi luận chưa đầy đủ nay xin luận thêm :

Xét tai họa xẩy ra ở tiểu vận Kỷ Mùi :
Ở vận Kỷ Mùi thì không có 3.0,13đh của 3 Hung thần ở Thân nhưng khi tính thêm điểm vượng ở tuế vận không có 3,6đv của Canh tiểu vận nên Thân (Hỏa) lớn hơn hỷ dụng 1Kim trên 40đv. Do vậy nếu điểm kỵ vượng được tăng 4 lần thì Tổng số có tới (7,01-3.0,13+1,5)).2/3đh = 5,41đh. Số điểm này là quá cao không thể chấp nhận được vì nó thừa sức gây ra tử vong.
Từ trường hợp này rõ ràng ta thấy nếu tai họa đã xẩy ra ở tiểu vận đầu thì sang tiểu vận sau nếu không xẩy ra tai họa khác thì Tổng số được giảm ít nhất 20% còn lại là (7,01-3.0,13+1,5).4/5.2/3đh = 5,41đh.5,41.80%đh = 4,33đh. Số điểm này có thể chấp nhận được vì nó không đủ sức gây ra bất kỳ thêm tai họa nào cả. Nhưng nếu thực tế tiểu vận sau là Kỷ Mùi vẫn xẩy ra tiếp tai họa nào đó thì ta phải giảm thêm tỉ lệ giảm ở tiểu vận Kỷ Mùi xuống mức thấp hơn (như 10% hay 5% ...chẳng hạn ?) để nó ứng hợp với tai họa nặng hay nhẹ đã diễn ra trong thực tế.
Còn nếu vì sao đó mà tiểu vận đầu là Canh Thân chưa xẩy ra tai họa nặng hay nhẹ nào cả thì đến tiểu vận sau là Kỷ Mùi chắc tai họa nặng hay nhẹ sẽ xẩy ra theo đúng số điểm hạn của nó.

Từ ví dụ này ta đưa ra các quy tắc :
1 - Chi tuế vận hợp hóa cục mà có ngũ hợp liên kết giữa tứ trụ với tuế vận thì phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm.
2 - Sau khi tính lại cách Tòng bị phá thì điểm hạn của ngũ hành được xác định như bình thường.
3 - Can đại vận là kỵ vượng hợp khắc can trong tứ trụ có điểm kỵ vượng nhưng các can là kỵ vượng ở ngoài tổ hợp này không có điểm kỵ vượng.
4 - Nếu tai họa đã xẩy ra ở tiểu vận đầu thì sang tiểu vận sau Tổng số điểm thường bị giảm thêm khoảng 20% hoặc nhỏ hơn nếu có tai họa khác xẩy ra.

VULONG
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1133
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Gửi bài gửi bởi VULONG »

Ví dụ số 29 : Bé gái bị chết đuối
Hình ảnh
Qua sơ đồ trên ta thấy trong tứ trụ có lục hợp của Ngọ trụ tháng với Mùi trụ ngày hóa Thổ thành công (vì có Mậu là thần dẫn). Ta thấy Thực Thương (Thổ) quá cường vượng nhưng không thể Tòng (vì có Giáp trụ giờ là Quan Sát khắc được 4 can chi Thổ - nhưng 2 chi Thổ cục không khắc được). Thổ là hành kỵ vượng lớn hơn hỷ dụng 1 là Tỷ Kiếp (Hỏa) trên 20đv nhưng điểm kỵ vượng không được tăng gấp đôi (vì chưa vào đại vận - tháng 8/1993). Do vậy dụng thần đầu tiên phải là Kiêu Ấn, nên dụng thần chính là Ất tàng trong Thìn trụ năm, hỷ thần là Hỏa còn kỵ thần là Thổ, Kim và Thủy.

Tai họa xẩy ra vào năm Canh Ngọ (1990) chưa vào đại vận, thuộc tiểu vận thứ 2 thay đại vận là Tân Sửu (vì đã qua ngày sinh nhật 21/6). Nó thuộc tháng Quý Mùi (tháng 7) và ngày Giáp Thìn (ngày18) của năm Canh Ngọ.
Lục hợp Thổ trong tứ trụ hợp với lưu niên Ngọ hóa Thổ nên điểm vượng trong vùng tâm phải tính lại. Sau khi tính lại ta thấy điểm vượng của Thổ coi như không thay đổi nên Dụng thần và điểm hạn của ngũ hành không thay đổi. Sau khi tính thêm điểm vượng ở tuế vận ta thấy hành kỵ vượng (Thổ) lớn hơn hỷ dụng 1 (Kim) trên 30đv nên điểm kỵ vượng chỉ được tăng gấp đôi (vì chưa vào đại vận - tháng 8/1993).

1 - Dụng thần Ất vượng ở lưu niên Ngọ có -1đh.
2 - Nhật can Đinh nhập mộ tại đại vận Sửu có 1đh (vì Thân nhược), nhưng vượng ở lưu niên Ngọ có -1đh.
3 - Sửu đại vận có 1 cát thần có -0,25đh và 1 hung thần có 0,25đh.
4 - Lục hợp Thổ cục trong tứ trụ hợp với Ngọ lưu niên có 0,25đh (vì chỉ có Ngọ lưu niên có điểm hạn). Ngọ lưu niên hóa Thổ có 2.0,5đh kỵ vượng.
5 - Đinh trụ ngày được lệnh lại vượng ở lưu niên khắc Tân đại vận có 0,7đh và Canh lưu niên có 0,38đh (vì khác dấu), có 0đh can động.
Tân đại vận nhược ở cả tuế và vận nên có 0đh can động và khắc Giáp trụ giờ có 0đh. Canh lưu niên vượng ở lưu niên có 1đh can động và khắc Giáp trụ giờ có 1đh nhưng đều bị giảm 35%đh (do Đinh khắc) còn 0,65đh.
Giáp trụ giờ thất lệnh chỉ vượng ở đại vận có -0,5đh can động nhưng bị giảm 65%đh (do Canh khắc) còn -0,5.35%đh = -0,18đh. Lực khắc của Giáp trụ giờ với Thổ cục có 0,5đk cũng bị giảm 65% (do Canh khắc) còn 0,5.0,35đk = 0,18đk (lực này không gây ra điểm hạn). Do vậy Thổ cục có 0,25đh bị giảm 18% còn 0,25.82%đh = 0,21đh.
6 - Lửa mặt trời trụ tháng có Mậu vượng ở lưu niên khắc Lửa đèn trụ giờ có 1đh.
Đất ven đường lưu niên có Canh vượng ở lưu niên khắc Nước mưa trụ ngày có 1đh.
Đất trên tường đại vận có Tân nhược ở cả tuế và vận khắc Nước mưa trụ ngày có 0đh.

Tổng số có 4,93đh. Số điểm này cho dù được cộng thêm sai số 0,05đh vẫn chỉ là 4,98đh nên khó có thể chấp nhận được (vì nó rất khó gây ra tử vong). Do vậy ta phải tìm một lý do nào đó hợp lý, có logic mà có thể gây ra thêm 0,05đh là được.
Ở đây ta thấy chỉ có lý do về điểm kỵ vượng là đáng quan tâm nhất. Bởi vì điểm kỵ vượng được tăng từ 2 hay 3 lần trở lên… chắc chắn phải có thêm một sai số nào đó mới hợp lý ? Do vậy ta đưa ra giả thiết nếu điểm kỵ vượng được tăng từ 2 lần trở lên thì sai số của Tổng số điểm hạn còn lại có thể được thêm +0,05đh ?
Nếu sử dụng giả thiết này thì ta thấy điểm kỵ vượng ở đây được tăng gấp 2 lần nên có thêm 0,05đh.
Tổng số là (4,93+0,05+0,05)đh = 5,03đh. Số điểm này mới có thể chấp nhận được (vì nó đủ sức để gây ra tử vong - 5,00đh).

Ta thấy năm Canh Ngọ hành Thổ quá cường vượng thì tai họa thường xẩy ra liên quan tới hành Thổ đại diện nhưng ở đây nó lại liên quan tới hành Thủy (vì chết đuối) là hành yếu nhất còn là hành bị hành vượng nhất của 5 hành trong tứ trụ khắc nên bị chết đuối. Điều này chứng tỏ tai họa xẩy ra không chỉ liên quan tới hành vượng nhất mà còn liên quan tới hành nhược nhất mà hành vượng nhất khắc.
Nhưng tại sao tai họa không xẩy ra vào các tháng Tị hay Ngọ là các tháng Thổ cực vượng còn Thủy thì cực nhược mà lại xẩy ra vào tháng Mùi ? Bởi vì điểm hạn của hành kỵ vượngThổ quá quan trọng để gây ra tai họa này nên Mùi trụ ngày là yếu tố then chốt vì nó hợp với Ngọ trụ tháng và Ngọ lưu niên hóa Thổ. Do vậy tai họa không xẩy ra vào tháng Tị hay Ngọ mà phải xẩy ra vào tháng Mùi là vậy. Ta thấy ngày sinh nhật là ngày 21/6/1990 chính là ngày bắt đầu của tháng Quý Mùi. Thêm một yếu tố phụ là tháng Quý Mùi có Quý thuộc hành nhược nhất còn bị nhập mộ tại Mùi.
Trong tháng Quý Mùi của lưu niên tai họa xẩy ra vào ngày Giáp Thân (18/7), có thể do Giáp trong tứ trụ động do Canh và Tân ở tuế vận khắc ? Nếu vậy thì sao Đinh trụ ngày cũng động vì khắc Canh và Tân ở tuế vận mà tai họa không xẩy ra vào ngày Đinh mà lại vào ngày Giáp ? Điều này cho biết can ngày của năm xẩy ra tai họa thường mang hành khắc hay bị hành cường vượng khắc phải ở trạng thái tử tuyệt tại chi mà nó đóng.

Qua ví dụ này ta thấy điểm hạn của các quy tắc được áp dụng ở đây là hoàn toàn chính xác.

Từ ví dụ này ta đưa ra quy tắc :
1 - Nếu điểm kỵ vượng được tăng từ 2 lần trở lên thì sai số của Tổng số điểm hạn còn lại có thể được thêm 0,05đh.
2 - Tai họa thường xẩy ra vào tháng (của lưu niên) giống với chi trong tứ trụ động mang yếu tố quan trọng nhất.
3 - Tai họa thường xẩy ra vào ngày và tháng của lưu niên có can mang hành nhược khắc hay bị hành kỵ vượng khắc mà tử tuyệt tại chi chúng đóng.

VULONG
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1133
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Gửi bài gửi bởi VULONG »

Ví dụ số 30 : Tai họa của tầu Titanic bị đắm ngày 15/4/1912
(Titanic theo tiếng Anh có nghĩa là to lớn, khổng lồ, vĩ đại nên nó mang tính cách của phái mạnh là đàn ông.)
Hình ảnh

Buổi lễ diễn ra tại xưởng đóng tàu Harland and Wolff ở Belfast, Bắc Ireland, vào lúc 2:15 chiều ngày thứ Tư (tức 14.15'), 31 tháng 5 năm 1911. Đây là thời điểm Titanic – con tàu được mệnh danh là kỳ quan kỹ thuật vĩ đại – chính thức được hạ thủy xuống nước lần đầu tiên, sau gần ba năm thi công phần thân. trích từ bài viết của Nguyễn Khắc Cần.

Qua bài viết này ta thấy tầu Titanich được hạ thủy vào ngày 31/5/1911 là hoàn toàn chính xác nên 3 trụ đầu trụ năm là Tân Hợi, trụ tháng là Quý Tị và trụ ngày là Tân Sửu không còn gì phải nghi ngờ nữa. Bây giờ ta chỉ còn phải xác định trụ giờ (tức giờ sinh) của tứ trụ này. Nhìn qua ta thấy trong tứ trụ có 3 can chi Thủy là Quý 2 Hợi gặp năm Nhâm Tý (1912) có thêm 2 Thủy nữa là Nhâm mà Tý lưu niên lại hợp với Hợi và Sửu trong tứ trụ thành tam hội cục hóa Thủy thành công (vì có Quý và Nhâm làm thần dẫn). Ta thấy Sửu trong tứ trụ đã hóa Thủy nên cách Tòng thực thương (Thủy) dễ được thành lập. Nhưng nếu thành cách Tòng Thủy thì tai họa không thể xẩy ra vào năm Nhâm Tý được mà phải là tin mừng (vì can chi Thủy cùng Thủy cục đều là dụng thần). Do vậy muốn cách Tòng này bị phá thì trụ giờ phải xuất hiện Quan Sát (tức can hay chi mang hành Thổ).

Ta thấy sau 14,15' ngày 31/5 mà can trụ ngày là Tân nên chỉ còn lại các giờ có can hay chi mang hành ThổẤt Mùi (từ13 tới 15 giờ), MậuTuất (từ 19 tới 21 giờ) Kỷ Hợi (từ 21 tới 23 giờ).

Giờ Ất Mùi bị loại vì đây là con tầu Titanic to lớn và vĩ đại nhất lúc đó thì không có chuyện hạ thủy sau 45' rồi chạy đi ngay được (vì giống như thai nhi trong bụng mẹ vẫn đập như động cơ con tầu đang hoạt động mà phải tính lúc thai nhi ra khỏi người mẹ mà còn đập thì mới được tính là giờ sinh, giống như con tầu hạ thủy xong thì phải chạy được một đoạn dài khi đó thời điểm đi được mét đầu tiên mới được tính là giờ sinh của con tầu).

Giờ Mậu Tuất cũng không thể chấp nhận được bởi vì Thân vượng nhưng vào năm Nhâm Tý có tiểu vận Đinh Dậu thay đại vận, có tam hợp của Tị và Sửu trong tứ trụ hợp với Dậu đại vận hóa Kim (vì có 2 Tân làm thần dẫn) bị tam hội của Hợi và Sửu trong tứ trụ hợp với Tý lưu niên tranh hợp đã phá tan tam hợp và hóa Thủy (vì có Quý và Nhâm làm thần dẫn). Nhưng có bán hợp Tị trụ tháng với Dậu đại vận hóa Kim. Vì Tị và Sửu trong tứ trụ hợp với tuế vận hóa cục khác hành nên phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm. Sau khi tính lại ta thấy Thân thành nhược (vì Nhật can là Tân nhập mộ nên không nhận được 50%đv của Kiêu Ấn sinh cho) nên Thủy cục là hỵ thần. Sau khi tính thêm ở tuế vận Thủy là kỵ vượng nhưng tổng điểm hạn quá thấp không thể gây ra bất kỳ một tai họa nào cả. Vì vậy chỉ còn lại là giờ Kỷ Hợi.

Qua sơ đồ giờ Kỷ Hợi được mô tả ở trên ta thấy Thân vượng mà Kiêu Ấn (Thổ) là nhiều (vì có 2 can chi Thổ trong vùng tâm đều vượng) nên dụng thần đầu tiên phải là Mộc (Tài tinh), can làm dụng thần chính là Giáp tàng trong Hợi trụ năm, hỷ thần là Thủy, còn kỵ thần là Kim, Thổ và Hỏa (vì Thổ nhiều).

Vào ngày 15/4/1912, nó thuộc năm Nhâm Tý và tiểu vận Mậu Tuất thay đại vận (là tiểu vận đầu tiên sau khi sinh vì chưa qua ngày sinh nhật 31/5).
Có tam hội của 2 Hợi và Sửu trong tứ trụ hợp với Tý lưu niên hóa Thủy thành công (vì có Quý hay Nhâm làm thần dẫn).
Có ngũ hợp của Mậu đại vận với Quý trụ tháng hóa Hỏa thành công (vì có lệnh tháng là Tị) nên ta phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm (Hỏa cục này có ngay sau khi sinh còn tam hội Thủy cục sau năm sinh mới xuất hiện).

Sau khi tính lại ta thấy Thân thành nhược mà Thủy (Thực Thương) là nhiều (vì có 3 can chi Thủy) nên dụng thần đầu tiên phải là Thổ (Kiêu Ấn) nhưng vì Mậu (Thổ) trụ giờ không thể khắc (tức thành vô dụng) được Thủy cục có 4 chi (nếu tính thêm 1 chi vì Kỷ tọa trên Hợi hóa Thủy cục sẽ là 5 chi) và Nhâm lưu niên thành 5 can chi (chính xác là 6 can chi) nên phải chọn đến dụng thần thứ 2 là Tỷ Kiếp (Kim), can làm dụng thần chính là Canh tàng trong Tị trụ tháng, hỷ thần là Thổ còn kỵ thần là Thủy, Mộc và Hỏa.
Sau khi tính thêm điểm vượng ở tuế vận Thủy là kỵ thần 1 đã thành kỵ vượng lớn hơn hỷ dụng 1 là Kim (có 9,8đv) trên 20đv nhưng không thể Tòng vì nếu Tòng thì năm Nhâm Tý có can Nhâm và Thủy cục đều là dụng thần phải đẹp không thể gặp tai họa tử vong như vậy. Từ đây ta phải đưa ra giả thiết một hành dù vượng tới mức nào mà có can chi Quan Sát xuất hiện cũng không thể Tòng cho dù can chi Quan Sát đó vô dụng (tức không khắc được can chi hành Tòng hay hóa cục hành Tòng).

Nếu áp dụng giả thiết này thì Dụng thần và điểm hạn của các hành không thay đổi nhưng mặc dù hành kỵ vượng (Thủy) lớn hơn hỷ dụng 1 (Kim) trên 20đv vẫn không được tăng gấp đôi (vì chưa vào đại vận).

1 - Dụng thần Canh tử tuyệt tại lưu niên Tý có 1đh.
2 - Nhật can Tân vượng ở lưu niên Tý có -1đh.
3 - Trụ giờ Kỷ Hợi TKĐX với trụ tháng Quý Tị có 0,25đh (vì Kỷ được lệnh nhưng nhược ở tuế và vận), có thêm + 0,05đh (vì chỉ có 2 trụ TKĐX với nhau).
4 - Kỷ trụ giờ được lệnh nhưng nhược ở tuế và vận khắc Nhâm lưu niên có 0đh (vì Kỷ không khắc được 5 can chi Thủy trong đó có 4 chi của Thủy cục còn là kỵ vượng thêm chi Nhâm của lưu niên), nhưng có 0,5đh can động.
5 - Ngũ hợp Hỏa cục có 2.0,5đh (tức mỗi can có 1/2đh của hành đó) = 1đh nhưng bị giảm 50% do Nhâm vượng ở lưu niên khắc còn 0,5đh (vì hóa cục của can tuế vận với can trong tứ trụ, còn bị giảm 100% nếu hóa cục của can tuế vận với can tiểu vận, không bị giảm nếu hóa cục của chi tuế vận với chi tiểu vận hoặc chi tuế vận với các chi trong tứ trụ, sẽ nói chi tiết sau).
Tam hội Thủy cục có 4.0,25đh = 1đh. Chi Tý lưu niên hóa Thủy là kỵ vượng có 0,5đh kỵ vượng.
6 - Vì Hỏa cục có trước (ngay sau khi sinh tới ngày sinh nhật năm sau) còn Thủy cục có sau (hết năm sinh 1911) nên Thủy cụcHỏa cục xung khắc nhau được gọi là Đại Chiến có 6.0,5đh = 3đh (vì số can chi của hóa cục chủ khắc ở đây gấp đôi số can chi của hóa cục bị khắc nên điểm hạn cho mỗi can chi tham chiến có 0,5đh; có 0,4đh nếu lớn hơn; có 0,3đh nếu bằng nhau; có 0,2đh nếu nhỏ hơn,... sẽ nói chi tiết sau).
(Chú ý : Nếu hóa cục chủ khắc có trước sẽ cản phá hóa cục bị khắc có sau thì hóa cục bị khắc không thể được tạo thành.)
7 - Đất trên tường trụ ngày có can vượng ở lưu niên khắc nước Sông trụ tháng có 1đh.
Gỗ đồng bằng trụ giờ có can được lệnh nhưng nhược ở tuế vận khắc Gỗ dâu lưu niên có 0,25đh.
Gỗ đồng bằng đại vận có can nhược ở cả tuế và vận khắc Gỗ dâu lưu niên có 0đh.

Tổng số có 7,55đh. Vì có tam hội ngoài tứ trụ có 4 chi mà trong tứ trụ có 3 chi nên có -(1+0,25)đh = -1,25đh và có 2 trong 3 chi trong tứ trụ giống nhau hóa cục cùng hành thì phải được giảm thêm ít nhất 1/6 mới hợp lý, vì Tổng số được giảm 1/7 khi có 2 chi hóa cục khác hành ở các ví dụ trên. Do vậy Tổng số còn lại là (7,55 -1,25).5/6đh = 5,25đh. Số điểm này chấp nhận được vì nó thừa sức gây ra tai họa thảm khốc (tử vong) hoàn toàn ứng hợp với tai họa của tầu Titanic.

Nếu Tổng số được giảm 1/5 thì còn (7,55-1,25).4/5đh = 5,04đh. Số điểm này vẫn chấp nhận được vì nó đủ sức gây ra tai họa thảm khốc (tử vong). Nhưng ở đây ta tạm thời lấy tỉ số giảm là 1/6 vì thấy hợp lý, có logic hơn (cần có thêm các ví dụ tương tự khác để kiểm tra).
Rõ ràng ta thấy năm Nhâm Tý hành Thủy quá cường vượng nên tai họa xẩy ra do tảng băngThủy gây ra đắm tầu (tức chết đuối). Thủy quá cường vượng thì tai họa thường xẩy ra vào tháng Hợi hay nhưng tại sao ở đây lại xẩy ra vào tháng Thìn ?
Có thể mặc dù Canh làm dụng thần chính nhưng tất cả điểm vượng của hành Kim trong tứ trụ lại là của 2 Tân (âm Kim) nên tai họa phải xẩy ra vào tháng Thìn2 Tân nhập Mộ tại tháng Thìn (của lưu niên) chăng ?
Cho nên tai họa xẩy ra vào ngày Tân Dậu vì có can Tân và chi Dậu đều là âm Kim cũng nhập Mộ tại Thìn ?

Thông tin tổng quan do AI tạo
Sự cố va chạm: Vào lúc 23h40 ngày 14/4/1912, Titanic va chạm với một tảng băng trôi. Vụ va chạm làm thủng 5 trong số 16 khoang kín nước (trong khi tàu chỉ được thiết kế để nổi tối đa khi ngập 4 khoang).
Chìm tàu: Tàu chìm hoàn toàn vào lúc 2h20 sáng ngày 15/4/1912
Đoạn trích trêncho biết chính xác tai họa xẩy ra vào giờ (Mậu Tý từ 23.00' hôm trước tới 1.00' hôm sau) của ngày 15/4/1912. Một lần nữa ta thấy lại được xuất hiện (vì nó liên quan tới hành kỵ vượngThủy).

Từ ví dụ này ta đưa ra quy tắc :
1 - Một hành dù vượng tới mức nào mà có can chi Quan Sát xuất hiện cũng không thể Tòng cho dù can chi Quan Sát đó vô dụng (tức không khắc được can chi hành Tòng hay hóa cục hành Tòng).
2 - Nếu hóa cục chủ khắc có số can chi nhiều gấp đôi số can chi của hóa cục bị khắc thì điểm hạn cho mỗi can chi tham gia Đại Chiến0,5đh.
3 - Điểm hạn hóa cục của các can ở tuế vận với các can trong tứ trụ bị giảm 50%đh của nó khi bị can ở tuế vận khắc.

Không biết bài luận của tôi có sai sót chỗ nào không xin mọi người chỉ giáo?

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Claude [Bot]11 khách.