Đầu tiên thì các trường phái tứ hoá đều thống nhất dùng lưu niên thái tuế để xem hạn kết hợp cùng đại vận và tiên thiên tạo thành tam bàn: mệnh tiên thiên, mệnh đại vận, mệnh lưu niên - lưu thái tuế đóng. Từ đấy cũng sẽ có quan đại vận, tài đại vận,... và quan lưu niên, tài lưu niên tương ứng.
1. Tuy nhiên nếu theo hệ thống tứ hoá của Lương phái, với các đường chuyển kị và xuyến liên cung vị, thì khi xét xuống lưu niên, can cung mệnh lưu niên, phụ lưu niên,... đều giữ nguyên như thiên bàn. Mọi liên kết sự việc đều đã có tượng từ thiên bàn và địa bàn (tiên thiên và đại vận) ứng xuống rồi, không cần phải dụng đến phi hoá của can cung năm đó nữa (Vd: năm canh tý dùng nhật vũ âm đồng an phi hoá, tân sửu dùng cự nhật khúc xương an phi hoá vào lá số). Chẳng hạn khi xét liên kết thành tựu sự nghiệp, ở cả đại vận và tiên thiên đều hội kị về cung tỵ -> lưu niên tiến vào cung sửu, quan lưu niên trùng cung tỵ thì chắc chắn năm đấy gặp tai ương, các cung vị của lưu niên càng hiệp ứng với đại vận, tiên thiên nhiều thì càng nặng, bất kể can cung thái tuế năm đấy là gì.
2. Theo trường phái Khâm thiên tứ hoá, thì can cung trên lá số đều phải dịch chuyển theo năm đấy (vẫn tuân theo ngũ hổ độn). VD: Năm tân sửu, mệnh lưu niên ở cung sửu sẽ là can tân -> phụ lưu niên - canh dần, phúc lưu niên - tân mão, điền lưu niên - nhâm thìn, ..., phu lưu niên - kỷ hợi, huynh lưu niên - canh tý. Từ đấy cũng xem phi hoá từ lưu niên và ứng động với đại vận, tiên thiên.
3. Và quan điểm nữa là : Tứ hoá của can năm thuộc dòng tứ hoá riêng, trừ khi tạo thành góc độ đặc thù với tứ hoá đại vận và tứ hoá tiên thiên thì mới phát sinh sự tình rõ ràng, còn không thì rất yếu, vd: liêm trinh dần đóng tật, và năm thái tuế là năm bính làm liêm trinh hoá kị, nhưng k phải cứ 10 năm gặp năm bính thì lại gặp chuyện về tật ách. Khi đại vận can quý hoặc can bính làm tham lang ở thân hoá kị xung, hoặc liêm trinh hoá kị lần nữa thì mới thật sự có tai ách khi lưu mệnh hoặc lưu tật nhập cung dần thân...
Rất mong mọi người cùng bàn luận và trao đổi về vấn đề này



