Mỗi khi có những bài viết hay ai đó nói rằng muốn "thay đổi số phận" thì phải làm cái này hay cái kia, rằng ý chí tự do (free wills) của chúng ta có thể thay đổi được ĐỊNH MỆNH (fate). Một là họ có thái độ chủ quan hay "ngạo mạn" về những vấn đề tâm linh. Hai là họ có ý biện minh cho những hành động tính toán hay một chủ đích (agenda) của họ. Ba là có thể họ muốn tấn công, bài bác, phỉ báng, chế nhạo người khác cùng những vấn đề tâm linh mà họ chưa hiểu rõ nên gộp chung gọi là "mê tín". Cuối cùng, cũng có thể là họ hoàn toàn mù tịt và họ không biết họ đang nói cái gì !
NHƯNG CON NGƯỜI CÓ THẬT SỰ THAY ĐỔI ĐƯỢC SỐ PHẬN HAY KHÔNG ?
Hay liệu "hành thiện tích đức", "sống tích cực", "dịch chuyển nhân tâm" có thể "cải biến vận mệnh" hay không ? Câu trả lời vừa là "CÓ" vừa là "KHÔNG" - TÙY THEO góc độ hay phương diện mà chúng ta muốn đề cập đến. Trước khi nói đến những nguyên lý xa xôi nào khác thì điều cơ bản đầu tiên khi nghiên cứu chiêm tinh đó là chúng ta cần phải nắm rõ khái niệm (concept), cấu trúc (structure) cho đến cách vận hành (operation) của NGHIỆP (karma).
LỊCH SỬ CỦA "NGHIỆP"
Ai cũng tưởng "nghiệp" là một khái niệm đến từ Ấn Độ hay từ Phật Giáo mà ra, nhưng không phải. Nó có từ rất lâu đời trước đó, chỉ là so với các dân tộc khác trên thế giới thì người Ấn Độ nghiên cứu kỹ về "nghiệp" nhiều hơn và chi tiết hơn nên tài liệu về "nghiệp" của họ còn sót lại tới ngày nay cũng nhiều hơn mà thôi, qua các kinh sách Ấn Độ Giáo (Hinduism), kinh Vệ đà (Vedic texts) hay Phật Giáo (Buddhism). Nhớ rằng, dù gọi là "giáo" nhưng chúng không phải là "đạo", mà đây đúng ra là những "phong cách sống" (way of life) hay hệ tư tưởng du nhập và hình thành ở Ấn Độ từ nguồn gốc văn minh Lưỡng Hà và Thung Lũng Indus trong giai đoạn khoảng 4000 ~ 1500 năm Trước Công Nguyên.
Trước Ấn Độ thì văn minh Lưỡng Hà và Ai Cập (~ 3000 năm TCN) không những đã hiểu mà họ đã rất tiến bộ khi ứng dụng khái niệm "nghiệp" trong đời sống hàng ngày không những để duy trì công lý, luật lệ, đạo đức, công bằng và trật tự xã hội mà còn để phát triển khoa học kỹ thuật ! Một trong những "thủy tổ" của Chiêm Tinh Học ngày nay - người Sumarian gọi "nghiệp" là "mu", một quyền lực tối thượng mà chỉ có vua chúa mới có và ban phát. Trong khi đó, người Hy Lạp gọi "nghiệp" là "Ma'at" (phát âm tiếng Việt đọc là ma-át) thể hiện qua hình dáng của một vị nữ thần. Tương tự như ngày nay chúng ta nói "nghiệp quật mày" thì ngày xưa người Hy Lạp gọi đó là "thần Ma'at bỏ rơi mày" hay "thần Isfet phạt mày" (Isfet hay "is-phét" là vị thần xấu xa đối nghịch với sự tốt đẹp của Ma'at). Điều thú vị là người Hy Lạp gọi thần Ma'at là "Ka-Ma'at" (ka-mát) = tương tự với phiên âm tiếng Anh ngày nay cho "karma".
Trước thời Nho Giáo (Khổng Tử) vài trăm năm thì Lão Tử (老子, 601 ~ 500 TCN) đã gói gọn những nguyên lý của "Nghiệp" trong cuốn "Thái Thượng Cảm Ứng Thiên" (太上感应篇, Thai-Shang Tractate of Actions and Their Retributions). Dù rất giống với Ấn Độ Giáo và Phật Giáo nhưng rất tiếc là Đạo Giáo của Lão Tử không có khái niệm "tiền kiếp" hay "luân hồi". Còn bên Kỳ Na Giáo (Jainism) thì định nghĩa "nghiệp" rất khác với Phật Giáo, Ấn Độ Giáo hay văn hóa phương Tây ngày nay khi họ xem "nghiệp" như những "hạt bụi lang thang khắp vũ trụ" và linh hồn chúng ta "xui xẻo" hay mỗi khi làm điều ác xấu thì bị chúng "bay đến dính vào" (!?) và chỉ có con đường tu hành khổ hạnh thì mới gột rửa sạch được những "hạt bụi trần" này.
Khi Thiên Chúa Giáo phát triển ở Do Thái thì khái niệm "gieo và gặt" của "nghiệp" cũng được ghi lại nhiều lần trong Thánh Kinh, ví dụ như sách Matthew (Ma-thi-ơ) 26 câu 52 hay sách Galatians (Ga-la-ti) do thánh Paul (Phao-lô) viết ở đoạn 6 câu 7 và 8. Tuy nhiên, một số nghiên cứu mới gần đây cho thấy khái niệm "nghiệp" đã bị cố tình loại bỏ (censored) ra khỏi Thánh Kinh từ những thế kỷ đầu sau Công Nguyên để giáo dân họ có thể tập trung vào chủ đề "cứu rỗi" của Chúa Jesus và Thượng Đế. Tương tự đến thế kỷ thứ 6 SCN, người đạo Hồi (Islam) cũng không gọi "nghiệp" là "karma" mà họ gọi quy luật tương tự đó là "Kifarah" và gạt bỏ mọi khái niệm về "đầu thai, tiền kiếp, tái sinh" (reincarnation) ra khỏi kinh Qu'ran nhằm tập trung giáo lý vào quyền năng vô đối của Thượng Đế Allah.
Khách quan mà nói, khái niệm "nghiệp" của Phật Giáo (hay Ấn Độ Giáo) tương đối là "hợp lý" và "đầy đủ", "có khoa học", giúp giải thích nhiều vấn đề bí ẩn trên lá số và song song đó cũng tương đồng dễ hiểu hơn với văn hóa người Việt Nam chúng ta.
* Mỗi con người có 3 loại "nghiệp" khác nhau:
[A] Nghiệp Tích Trữ (sanchita karma, tiếng Phạn: सञ्चित): là "nghiệp tổng", hay "tổng kết" của các "nghiệp" được tích tụ lại qua nhiều đời kiếp
Nghiệp Thụ Hưởng (prarabdha karma, प्रारब्धकर्मन्) : là một phần nhỏ được trích ra từ Nghiệp Tích Trữ [A] để tạo ra sự hiện diện của chúng ta trên cõi đời này (qua bố mẹ sinh ra).
[C] Nghiệp Tạo Ra (kriyamana karma, क्रियमाणकर्म): là những quyết định hay hành động của người đó tạo ra thêm "nghiệp" (mới) trong cuộc đời
* Trong tất cả 3 loại "nghiệp" này:
- Nghiệp Thụ Hưởng là nghiệp CỐ ĐỊNH (FIXED), không thể thay đổi, trong khi 2 loại nghiệp kia đều có thể được thay đổi.
- Lá số của con người chính là Nghiệp Thụ Hưởng . Nói cách khác, việc chúng ta "lập lá số" và "xem lá số" chính là hành động mà chúng ta đang nhìn vào Nghiệp Thụ Hưởng để "xem thử coi" ở đời này chúng ta sẽ "hưởng được cái gì".
- Trong 2 loại nghiệp "có thể thay đổi" đó thì chúng ta chỉ có thể thay đổi được chủ yếu là [C] Nghiệp Tạo Ra. Còn Nghiệp Tích Trữ [A] khi "xấu" thì chỉ có thể thay đổi SAU KHI chúng ta QUA ĐỜI ( = còn dư tích lại). Thay đổi bởi ai ? Bởi những người CÒN SỐNG - đặc biệt là những "thầy tế lễ" hay những người tu hành có đạo đức qua những hoạt động như cầu nguyện, tụng niệm / cầu siêu / chẩn tế, hoặc làm cái gì đó tích cực để khắc phục hậu quả do người quá cố gây ra.
- Người ta thường nhầm lẫn các khái niệm giữa "Nghiệp Thụ Hưởng" và "Nghiệp Tạo Ra" [C], suy nghĩ đơn giản 1-chiều hoặc nghĩ cái này mà thiếu cái kia, nên mới có những người cho rằng đã "định mệnh" thì không thể thay đổi hoặc cực đoan và ngạo mạn khi nói rằng "số phận do ta làm chủ". Thật ra, "số mệnh" hay "định mệnh" [D] của chúng ta là sự << KẾT HỢP >> giữa Nghiệp Thụ Hưởng và [C] Nghiệp Tạo Ra. Ví dụ:
. Bố mẹ cho bạn tiền (Nghiệp Thụ Hưởng), nhưng bạn tiêu hoang, phung phí số tiền đó (Nghiệp Tạo Ra)
. Bạn không tránh được ai đó đã đụng xe vào bạn (Nghiệp Thụ Hưởng), nhưng bạn hoàn toàn có thể chủ động phản ứng với tai nạn đó như thế nào (Nghiệp Tạo Ra)
. Người thân bạn qua đời (Nghiệp Thụ Hưởng của bạn + của họ), nhưng cách bạn đối xử với họ lúc còn sống vs cách bạn tổ chức tang lễ hay tưởng nhớ về họ sẽ quyết định bạn là người "sống có hậu hay không" (Nghiệp Tạo Ra)
. Bạn sinh ra là người Việt Nam (Nghiệp Thụ Hưởng) muốn trải nghiệm hoặc tìm cuộc sống tốt hơn nên quyết định xin phép đi làm hay du học nước ngoài (Nghiệp Tạo Ra)
. Bạn làm từ thiện giúp đỡ người khác (Nghiệp Tạo Ra của bạn), người khác nhận được điều ấy thì đó là một loại "Nghiệp Thụ Hưởng" của họ.
. Bạn bị bệnh nặng và may mắn gặp được bác sĩ giỏi có thể cứu chữa bệnh đó (Nghiệp Thụ Hưởng + Nghiệp Tạo Ra của bạn và của cả vị bác sĩ)
. Hai người gặp nhau, yêu nhau rồi cưới nhau (Nghiệp Thụ Hưởng của 2 người), nhưng giữ được quan hệ đó lâu bền hay không thì đó là "Nghiệp Tạo Ra" của 2 người
. Bạn là nữ mang thai (Nghiệp Thụ Hưởng) nhưng có giữ được thai đó hay không, hoặc sinh ra có giữ được con hay không thì đó là "Nghiệp Tạo Ra" của bạn + "Nghiệp Thụ Hưởng" của đứa bé
v.v...
- Tương tự với xem Tử Vi, xem Bát Tự, xem tướng hay xem "sinh trắc vân tay" cũng là xem về Nghiệp Thụ Hưởng của chúng ta. Ngược lại, khi gieo quẻ dịch (kinh Dịch), vẽ lá số vận hạn / transit / horary (có người gọi là "vấn thời"), xem bài Tây hay bài Tarot, gọi hồn hay vong linh v.v... đều là những cách mà người ta khao khát muốn tìm hiểu về "Nghiệp Tạo Ra" [C].
- Như đã nói ở trên, vì "Nghiệp Thụ Hưởng" là "cố định" nên những phương pháp tâm linh dựa trên nền tảng này (như xem lá số, tướng số, sinh trắc học) thường chính xác hơn là các môn huyền học dựa trên "Nghiệp Tạo Ra" (tarot, quẻ dịch ...), bởi vì "Nghiệp Tạo Ra" [C] luôn biến động nên kết quả cũng rất "hên xui", "đúng" có khi "rất đúng", mà đến khi "sai một ly" không những "đi một dặm" mà có khi là cả "ngàn dặm" !
cre: CCT


