DIỆU PHÁP
Nội qui chuyên mục
Đây là chuyên mục dành cho việc xem lá số tử vi. Các bài mang tính trao đổi học thuật xin vui lòng đăng trong mục Kiến thức tử vi.
Không được đính kèm lá số của trang web khác. Các bài không liên quan sẽ bị chuyển khỏi chuyên mục này.
Đây là chuyên mục dành cho việc xem lá số tử vi. Các bài mang tính trao đổi học thuật xin vui lòng đăng trong mục Kiến thức tử vi.
Không được đính kèm lá số của trang web khác. Các bài không liên quan sẽ bị chuyển khỏi chuyên mục này.
-
vothuong236
- Tam đẳng

- Bài viết: 696
- Tham gia: 01:25, 13/02/12
TL: DIỆU PHÁP
PHẦN II: Tu Tập Diệu Pháp
Hôm nay, tôi xin trình bày nội dung mà nhiều người còn nghi hoặc, chưa sáng tỏ đối với việc tu tập Diệu Pháp.
Kính xin, các chư vị không quan tâm, không tin tưởng đối với Diệu Pháp, sự nhiệm màu của Diệu Pháp hoan hỉ trở lui.
Kính xin, các chư vị sau khi đọc, nghe, thấy lời giảng về Diệu Pháp mà còn có chỗ nghi hoặc chưa thông hãy nói ra để được giải đáp, chớ chấp mê bất ngộ, hiểu cả lời lẫn pháp đều sai.
Phẩm này, rất quan trọng, quan trọng bậc nhất với những người tin tưởng vào Diệu Pháp muốn tu tập diệu Pháp nhưng còn chưa biết tu theo đường nào. Tin tưởng vào Diệu Pháp nhưng còn chưa biết Pháp ở đâu... Vậy nên cần phải đọc, nghe, thấy cho minh trước khi trì hành, bởi nếu trì hành sai thì hậu quả sẽ khôn lường...
1. Đức Thế Tôn, thuyết Pháp 8 vạn, mỗi Pháp là 1 đường tu tập, có lớn, có nhỏ, có thâm sâu, vậy thì lấy đâu để trụ?
- Viết rằng: Lấy Tứ Diệu Đế để làm chân lý, lấy Tam Đại Ấn Pháp làm Pháp định, lấy Tam vô lậu học làm giải thoát.
2. Giải thích sao?
- Tám vạn Pháp, giải thích sâu rộng, chánh Pháp bừng bừng, minh tuệ, minh triết, tựu trung lại đều khẳng định để giải thoát thì cần phải diệt trừ khổ đau, để diệt trừ khổ đau thì cần phải biết khổ đau ở đâu, thế nào? Thế giới vô thường, đều là giả, không gì là thật, chính bản thân con người, chúng sinh cũng giả dối. Như vậy, để được giải thoát cần phải giữ giới, từ bỏ những điều giả dối, mộng ảo để, định trụ vững vàng dùng trí tuệ minh giác để siêu thoát khổ đau.
Phổ cập của 8 vạn Pháp: Dựa trên nền căn bản của tam đại ấn pháp (Khổ, Vô Thường, Vô Ngã) thì có đủ các thứ vô: Vô tướng, vô thân, ý, tưởng, thiết, nhĩ...., vô sắc, dục, thanh... Vô cầu, vô trụ, vô đắc.... vô giới, vô vô giới, Không, Không không..... Đạt đến cảnh giới Không, Không Không là thành tựu giải thoát khi chứng được quả La Hán.
Tu tập của 8 vạn Pháp chủ yếu dựa trên việc trì hành: Giới, Định Tuệ để đạt đến cảnh giới tối cao cuối cùng Không, Không Không, hay nói 1 cách khác là đạt đến cảnh giới minh tuệ thấu triêt Không, Không Không.
3. Tại sao Diệu Pháp lại nói 8 vạn Pháp trên cũng là mộng ảo, chỉ đưa đến mộng ảo giải thoát?
- Thuyết rằng: Tám vạn Pháp, 8 vạn con đường, đều đi về 1 hướng với Pháp Định: Vô.
Tại sao lại nói là hướng về vô? - Nói hướng về Vô vì 8 vạn Pháp này dựa trên Khổ, diệt đi Khổ là không còn khổ, tức là KHÔNG/ hoặc/ và/ VÔ. Không thì Không Khổ, Vô thì Vô Khổ, bởi vậy, 8 vạn đường Không, 8 vạn lối Vô. Đường, lối này là Trụ của Không và Vô.
Trụ là gì? - Trụ tức là dựa dẫm, là cái để dựa vào, là cái để tin theo.
Như vầy (vậy), có thể thấy, 8 vạn Pháp, 8 vạn đường đều dùng chung 1 trụ, đó là trụ vô khổ = giải thoát/ hay/hoặc/và niết bàn. Như vậy, tu 1 hay nhiều 1 trong 8 vạn Pháp thì đầu tiên vẫn có sở trụ. Nếu có bậc thánh tu nào đó nói, tu đó là đã không có sở trụ, như vậy là tự nói dối, tự lừa chính mình, chính người và chúng sinh, rơi vào mộng ảo, mê. Bởi nếu không sở trụ thì tu làm gì? -Không có sở trụ thì sao biết Pháp để tu. Mến Phật mà tu Pháp thì cũng là có sở trụ, thoát khổ mà tu pháp cũng là sở trụ, tự nhiên mà tu pháp cũng là sở trụ (trụ tự nhiên) - Thế cho nên 8 vạn Pháp đều có sở trụ là vậy.
Như vầy, 8 Vạn Pháp tu vô trụ để giải thoát, nhưng chính cái đó lại là trụ. Dù là tự nhiên cũng là tự nhiên trụ, dù là không gì, không không gì thì cũng là không gì trụ, không không gì trụ.... Bởi vầy, Đức Thánh Tôn mới nói, 8 vạn Pháp đó, đưa đến giải thoát chỉ là mộng ảo mà thôi. Mộng ảo rằng đã vô trụ, vô sở cầu, tự mê, chưa đạt được VÔ THƯỢNG TRÍ TUỆ để nhận ra vẫn ở trong luân hồi, cái nhận thấy đã đạt thành La Hán quả đó, cái nhận thấy giải thoát đó chỉ là mộng ảo, không chân thật... Thế nên, những ai vẫn chấp mê, tự cho mình là tu vậy, đạt vậy là đã giải thoát có nghĩa là Tăng Thượng Mạn.
4. Vậy Diệu Pháp giải thích sao?
- Diệu Pháp không phủ nhận bất cứ Pháp nào trong 8 vạn Pháp Phật. Diệu Pháp chỉ chỉ ra con đường chân thật để đạt được đến niết bàn chân thật, giải thoát chân thật. Diệu Pháp chỉ chỉ ra sự thiếu sót của 8 Vạn Pháp Phật như đã nói ở trên, chỉ ra kết quả là 8 vạn Pháp đó đều chỉ đưa đến mộng ảo giải thoát mà thôi.
5. Sao nói Diệu Pháp là Pháp chân Pháp, chân tướng?
- Diệu Pháp là chân Pháp vì Pháp này đưa đến chân giải thoát, chân thiệt bất hư, chân tướng là Pháp thường hằng bất sinh bất diệt, Pháp thật Pháp, đưa chúng sinh, người tu tập đến/ kiến/ thấy được hình tướng cuối cùng thân thiệt của giải thoát, đó là Chứng Phật quả, thành Phật Đà, chân thật bất hư.
6. Vô thường - Giải thích sao?
- Viết rằng: Thế giới vô thường, vạn vật, vạn chúng sinh, muôn loài, (/hoặc/ hay/ SẮC) đều vô thường. Ý niệm, xúc cảm, sở cầu, sở đắc, vô ý giới, vô vô ý giới, vô niệm, vô xúc, vô ý, vô sở cầu, vô sở đắc... đều nằm trong thế giới nên các thứ đó cũng vô thường. Hành, trụ, tri, thọ, pháp, đạo.... đều nằm trong thế giới nên các thứ đó cũng vô thường. Sinh diệt, tăng giảm, cấu tịnh..... các thứ này cũng nằm trong thế giới nên cũng vô thường. Không cũng nằm trong thế giới nên cũng vô thường.... tất cả mọi thứ tồn tại hay không tồn tại, vật chất hay tinh thần, có hình thể hay không có hình thể.... nếu nằm ở trong thế giới thì đều vô thường hết.
- Vô thường là biến đổi, biến đổi tức là không hằng, như vậy là không chân thật/ KHÔNG/ Mộng ảo/ Không Không Không/ không phải vậy.
(Thuyết giải thêm: Phật chỉ có 1, thường hằng bất biến, nên chân lý chỉ có 1, điều này khẳng định, căn cơ chân lý của Diệu Pháp và 8 vạn Pháp Phật khác đều giống nhau, là 1. Có thể diễn giải như trên, cũng có thể tóm gọn thành mấy từ như sau: (" Sắc bất dị Không, Không bất dị sắc/ Sắc tức thị Không, Không tức thị sắc///"). Sắc là vật chất mà Không là phản vật chất. Sắc là linh hồn, lý niệm, ý tưởng, suy nghĩ, tình cảm (/hay/hoặc cái gọi là tinh thần) thì Không là Phản tinh thần. Phản ở đây có ý nghĩa là Phủ định. Tức là mọi thứ đều giống nhau.
- Phật nằm ngoài thế giới nên thường hằng. Cái gì nằm ngoài thế giới thì thường hằng.
7. Vô ngã - Giải thích sao?
- Viết rằng: Ngã là cái tôi, ngã là định chính danh tôi của mỗi chúng sinh muôn loài cá thể/ duy ngã/ độc tôn/ Ngã/ Bản thể.
Từ nghĩa giải Vô thường ở trên thì thấy rằng ở trong thế giới Ngã cũng vô thường. Ngã vô thường là vô ngã. Vô ngã là không phải ngã/ không thuộc ngã/ ngoài ngã/ không phải tôi/ cái tôi/ không phải bản thể.
(Thuyết giải thêm: Như vậy, thế giới vô thường nên ngã vô ngã. Nếu thế giới/ ngoài thế giới là vô vô thường (tức là thường hằng) thì ngã chính là ngã, xác định.
- Các loài chúng sinh ở trong thế giới nên vô thường, mà vô thường thì tức là vô ngã. Chân lý vô ngã được giải thích ở mục 7 đây, như vầy.
8. Vậy chúng sinh muôn loài, chân lý/ hay/hoặc chân thật hoặc tột cùng là Có ngã (ngã) hay vô ngã?
- Viết rằng: Ngã thị vô ngã/vô ngã thị ngã.
(Thuyết giải thêm: Đức Thánh Tôn có nói về các thế giới, các cõi và thế giới Phật (Quốc độ). Do vậy, hiểu ngã mà vô ngã, vô ngã mà ngã có nghĩa là. Ở thế giới sa bà (chẳng hạn) thì vô ngã. Ở thế giới Phật (Quốc độ) thì là ngã. Tức là thay đổi theo Đạo Pháp tắc. tìm được ngã thì về được Quốc độ bất sinh bất diệt, thường hằng. Vô ngã thì trầm luân luân hồi.
Như vậy, cái gì thường hằng thì vượt ra ngoài thế giới, cái gì ở trong thế giới thì vô thường. Quý vị lưu ý điều này, điều này không có tính tương đương và vô cùng quan trọng. Cái thường hằng thì chắc chắn vượt ra ngoài thế giới rồi, nhưng nếu cái thường hằng đó mà vào trong thế giới thì còn thường hằng không? Xin thưa là KHÔNG. không còn tính thường hằng nữa. Bởi vì cái ở trong thế giới thì vô thường. Đức Phật là thường hằng bất sinh bất diệt, Đức Phật vì thương chúng sinh linh muôn loài nên đến thế giới để độ hóa chúng sinh. Do vậy, Đức Phật cũng có sinh diệt là vậy (cái này ai muốn hiểu sâu thì tìm thêm lịnh sử Phật để đọc). Đức Thế Tôn nói rằng: Ta sinh diệt là để cho con ta (phật tử/chính là chúng sinh muôn loài) hiểu được lẽ của VÔ và VÔ VÔ. Lẽ thường hằng và lẽ vô thường, từ đấy mà thấy lẽ của NGÃ và VÔ NGÃ của mỗi con.
Tất nhiên, chúng sinh u mê, không thấu triệt dụng tâm của Đức Thánh Tôn nên lầm lẫn, không thấu triệt Ngã và Vô Ngã là vậy. Đức Thánh Tôn ở ngoài thế giới là Ngã Phật thường hằng, ở trong thế giới thì là Vô ngã Phật. Tất nhiên, Đức Thanh Tôn đã tu đến toàn năng, Pháp lực vô biên, nên Ngài có thể luôn luôn xuất hiện trong thế giới. Ngài hiện lên thân vô ngã Phật trong thế giới là để làm minh chứng thí dụ cho chúng sinh GIÁC/Thấy/Đốn NGộ và tính Ngã và vô ngã của bản thể/bản tôn/ định danh/ của 1 cá thể trong muôn loài.
9. Diệu Pháp - Pháp của vạn Pháp tu tập trì chú.
Như vầy. Tám điều chú ý trên có thể gọi là Tám Minh, dùng để giải hoặc cho mọi nghi ngờ của chúng sinh muôn loài. Tất cả mọi nghi hoặc đều có thể tìm được ở Tám Minh trên. Cần siêng năng minh minh ngộ. Có minh minh ngộ, sáng tỏ mọi nghi ngờ, THẤY rõ 8 minh trên thì tu tập bổn nguyên Diệu Pháp thuyết giải sau đây mới được Minh GIÁC, đạt đến Vô Thượng Trí Tuệ, giải thoát.
Bổn nguyên thuyết giải Diệu Pháp chính văn:
- Chư vị! Khổ là vô thường, khổ là không có thật, thế sao chúng sinh vẫn khổ, vẫn kêu khổ?
Nếu nói! Khổ là không thật đâu, khổ là mộng ảo đấy, đừng nghĩ khổ, đừng kêu khổ thì sẽ không thấy khổ. Như vậy, có làm được không? - Xin thưa không làm được. Nghĩ thế đấy, mà thấy khổ vì thấy đau, thấy buồn, thấy chán... tóm lại là nghĩ hay gào lên thật to, Khổ là giả dối thì Khổ vẫn đấy thôi, vẫn thấy khổ.
- Chư vị! Rõ ràng, khổ là vô thường, vô thường thì có sinh có diệt, trong cái sinh diệt đấy thì có quãng gọi là tồn tại. Tất cả những cái này đều là mộng ảo nhưng vì chúng sinh cũng ở trong mộng ảo nên đồng nhất như nhau đều thấy. Chúng sinh thấy khổ là thấy sau khi khổ sinh ra và trước khi khổ diệt đi, quãng gọi là khổ tồn tại ấy.
- Chư vị! Vô sinh thì vô diệt. Thế nên, muốn không khổ thì không để khổ sinh ra. Không phải diệt khổ, vì không thể diệt được khổ ở cõi mộng ảo vô thường. Chỉ có không để khổ sinh ra thì khổ sẽ không tồn tại, không thấy (ở đây tất cả đều đang ở cõi mộng ảo vô thường)
- Chư vị! Tứ diệu chân lý (Tứ Diệu Đế), Thánh Tôn đã pháp dẫn. Khổ do niệm sinh ra. Khổ không phải do Sắc sinh ra, cũng không phải do Không sinh ra. Khổ do Niệm sinh ra. Niệm của chúng sinh sinh ra.
- Chư vị! Niệm là tất cả những gì thuộc tinh thần của chúng sinh. Ý tưởng, suy nghĩ, ước, muốn, cầu, mong, nhớ, quên, yêu, ghét, chán, hận, cảm xúc, cảm nhận, cảm thấy, tư duy, ý thức, tiềm thức, vô thức, tâm, linh, thức.v.v.. tất cả những cái đó là Niệm trong Diệu Pháp.
- Chư vị! Ngoài ra, khổ không phải do bất cứ cái khác sinh ra. Không phải do chúng sinh khác mang lại, không phải do thế giới mang lại, không phải do quỷ dữ mang lại và đặc biệt, không phải do hành động của chính chúng sinh đó mang lại. Khổ chỉ do niệm sinh ra. Có niệm là có khổ.
- Chư vị! Vậy, không niệm nữa, vô niệm có hết khổ không?
Xin thưa, không hết khổ. Bởi vô niệm ở trong thế giới này là vô thường, tức là có sinh có diệt. Vô niệm không thể nào thường hằng ở thế giới này, nên không thể thực hiện được vô niệm ở thế giới này. Người nào nói thực hiện được vô niệm rồi là kẻ mê, sai lầm, rơi sâu vào mộng ảo.
- Chư vị! Vậy, diệt niệm có hết khổ không?
Xin thưa, không hết khổ. Bởi niệm ở trong thế giới này là vô thường, tức là có sinh có diệt. Còn ở trong thế giới niệm còn sinh diệt. Như vậy, có diệt đi vô lượng niệm thì cũng lại có vô lượng niệm sinh ra, không bao giờ hết. Bởi vậy, diệt niệm không hết khổ.
- Chư vị! Niệm sinh ra từ đâu? Diệt cái sinh ra niệm đó, có hết khổ không?
Xin thưa, diệt cái sinh ra niệm thì niệm không sinh ra nữa. Đúng! Sẽ hết khổ. Nhưng cái sinh ra niệm lại chính là niệm. Chỉ có niệm mới sinh ra niệm. Không có cái gì khác sinh ra niệm.
- Chư vị! Đã rõ tại sao 8 vạn Pháp đều rơi vào mộng ảo chưa? - Đó là niệm niệm niệm.... không bao giờ hết!
Vậy Diệu Pháp làm sao?
- Chư vị! Ta nghe Pháp Truyền! Thánh Tôn như vầy:
Diệu Pháp truyền ra, chúng sinh muôn loài, ai ai cũng hưởng, bất phân tầng thứ. Thiện nam, tín nữ, tại gia, xuất gia, tăng, ni, kheo, la hán, ai ai cũng tu tập được. Niệm sinh niệm thì niệm diệt niệm. Giải trừ đau khổ, ấy là niệm diệt niệm.
-Chư Vị! Vừa bên trên nói pháp "diệt niệm không hết khổ" vậy mà sao phía dưới được truyền "niệm diệt niệm"
Ta được minh truyền rằng: "Tự tử, chết già, niệm còn không?" - Từ đó minh tuệ. Cách diệt niệm có rất nhiều, nên không thể hiểu là dùng niệm diệt niệm là hết khổ được. Vì dù có tự tử, chết già thì nhân quả vẫn luân hồi, đến kiếp sau, niệm trước đã chết. Tưởng hết. Ai ngờ! Nhân quả luân hồi. Chỉ có tại kiếp này, dùng niệm diệt niệm.
- Chư vị! Niệm diệt niệm thì niệm lại sinh niệm. (Chú giải thêm: Nếu Niệm 2 diệt niệm 1 thì niệm 2 lại sinh niệm 3, để diệt niệm 2 thì lại cần niệm 4, mà niệm 4 sinh ra lại do niệm 5....) cứ thế thì niệm diệt niệm sao được?
- Chư vị! Trên đây, tứ chân lý, 3 ấn pháp đã dùng đến, vậy còn 3 vô lậu học dùng để làm gì?
Cảnh thứ nhất: Giới! - Dùng Giới để giữ gìn, giữ gìn gì? Giữ gìn sự tu tập. Niệm 2 diệt niệm 1 thì phải giới 2 niệm với nhau để làm sao niệm 1 diệt lại niệm 2. Không được sinh một niệm nào nữa để diệt niệm 2. Phải dùng niệm 1 diệt lại chính niệm 2. Hai niệm 1 và 2 quy về hư vô, quy về bên ngoài thế giới. Trừ được 2 niệm.
Cảnh thứ 2: Định! - Dùng Định để giữ gìn, giữ gìn gì? Giữ gìn Giới. Dù ở cảnh thứ nhất, đã cho 2 niệm diệt nhau hết rồi nhưng nếu không giữ gìn giới thì ngay chốc lát lại một niệm phẩy sinh ra. Tại sao lại có niệm phẩy sinh ra? Bởi vì tất cả đều vẫn đang ở thế giới, mà thế giới vô thường nên mộng ảo. Vì lẽ đó, 2 niệm đã diệt rồi nhưng lại mộng ảo thấy chưa diệt (mộng ảo luân hồi mà), nhầm lẫn, mê mộng là đây vậy, không phân biệt được thực hư.
Thế nên, trong khi Giới để 2 niệm diệt nhau để cho chúng về hư vô (bên ngoài thế giới) thì cần ngay lập tức Định Giới. Định vững chắc Giới trong sát na đó. Sát na 2 niệm cùng diệt đó, con người được gần trở lại với bản chân ngã tức thời (vì 2 niệm về hư vô bên ngoài thế giới nên mộng ảo lúc đó, rất gần bên ngoài thế giới, trong sát na mở ra). Định Giới để nhận Thấy/ Giác được rằng, 2 niệm đã cùng diệt nhau hết rồi.
Cảnh thứ 3: Tuệ! - Dùng Tuệ để Giác trở lại. Giác trở lại là THẤY trở lại. Thấy trở lại cái gì? Là thấy trở lại bản chân ngã đã thấy khi Định Giới. Tức là thấy hiểu/ Giác được rằng: Hai niệm đã cùng diệt nhau chân thật bất hư...
Mỗi một lần niệm niệm diệt nhau như vậy thì Giác trở lại 1 ít, gần được thêm bản chân ngã 1 ít...
- Chư vị! Đó! Diệu Pháp là ở trong thế giới vô thường, dùng niệm diệt niệm đồng giới Giới Định Tuệ để Giác trở lại. Không để cho niệm diệt niệm lại niệm niệm sinh.
- Chư vị! Diệu Pháp này nhiệm màu vô cùng, chỉ cần thực hiện 1 lần thì Giác trở lại gần hơn, THẤY rõ hơn, kết quả chân thật hiện ra, gần hơn được Tính Phật. Nhanh thôi, kết quả sẽ viên mãn mà đây chính là Kết Quả Phật chân thật bất hư.
10. Cởi bỏ
- Chư vị! Tu tập hành trì Diệu Pháp không cần phải giới sắc, kiêng không ăn mặn, tránh nọ bỏ kia phiền hà rắc rối. Đức Thánh Tôn không khuyên bảo điều này.
- Chư vị! Tu tập hành trì Diệu Pháp không cần phải nghiêm, rời xa xã hội, không cần phải tìm nơi thanh tịnh vắng vẻ tu tập. Đức Thánh Tôn không khuyên bảo điều này.
- Chư vị! Tu tập hành trì Diệu Pháp là thấy một niệm sinh thì đưa chính niệm diệt đi. Đây chính là Niệm diệt Niệm, hai niệm diệt nhau. Không cần phải nghĩ xem chính niệm kia lấy từ đâu (vì nghĩ lại là niệm khác sinh rồi), không cần phải để ý xem chính niệm kia có diệt được niệm không (vì để ý là niệm khác sinh rồi). Chỉ cần THẤY được Diệu Pháp, nguyện tu tập Diệu Pháp, lấy chính niệm diệt niệm. Khẩu dụ: "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh" thì lúc nào cũng vậy, thời thời như thế, Giác trở lại.
11. Thí dụ
- Hôm nay, ta phát nguyện tu tập Diệu Pháp, lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh. Lúc nào cũng tu tập vậy: "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh" (lúc nào cũng tu tập vậy nên đây chính là chính niệm để diệt đi mọi niệm đấy các chư vị nhé)
- Bây giờ, 1 thí dụ: Chư vị đi qua một ngôi nhà hớ hênh, cửa mở, không thấy có ai, lại nhìn thấy cả 1 đống tiền đang được để ở giữa nhà. Có thể chủ nhà gặp chuyện lửa xém lông mày, chạy đi cứu gấp. Đang lúc cần tiền.....
- 1 niệm khởi lên: Đang lúc cần tiền, không có ai, vào lấy 1 ít, ai biết.
- Các Pháp khác: - Ta phải bỏ đi ngay niệm này, niệm này là 1 niệm xấu, ác. Và đi
Đi được 1 đoạn, qua đấy rồi, lại 1 niệm sinh ra: - Ta giữ gìn được thanh giới, tốt quá, cứ tu tập thế này thì sẽ tốt lên thôi..... (Chấp pháp)
- Ta không được nghĩ tới cái này nữa. Phải vô niệm ... (chấp niệm)
- Hay/hoặc: - Kể ra cũng tiếc, tiền một đống kia mà đang cần chứ... (chấp sắc)
- Hay/hoặc: - Đang cần, quay lại liều đi... (chấp tham)
- Hay/hoặc: Không nghĩ gì cả nhưng vẫn nhớ trong lòng (chấp lậu)
....
Nói chung gặp chuyện như vầy, niệm chắc chắn khởi lên. Không khởi niệm ác như trên thì khởi niệm lành (ác lành là mộng ảo, vô thường) đại loại như: - Giữ giới/ hay - nhà nhiều tiền thật/ hay - nhà này sao hớ hênh thế/ hay hoặc .v.v.
- Còn với người tu Diệu Pháp thì sao: Niệm ác hay niệm lành khởi lên, dù là niệm nào thì cũng vẫn đang có niệm "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh" như vậy là liền không còn thấy biết gì nữa. Chân thật bất hư.
12. Nghi ngờ
- Đã thử tu tập nhưng có thấy diệt được niệm nào đâu, thấy vẫn còn nguyên, sao thuyết nhiệm màu?
Thuyết chú: Người tu tập Diệu Pháp thì trước khi trì chú thọ hành cần phải:
1. Khai được GIÁC, thấu áo nghĩa của Diệu Pháp (Đã giảng giải ở phần I). Phải GIÁC THẤY bản thân bản chân ngã chính là TÍNH PHẬT. Không có tính nào khác nữa (như đã nói ở phần I và các phần phúc đáp giải đáp phần I phía trên)
2. Phải thấu hiểu cặn kẽ phần giảng giải Tu Tập Diệu Pháp viết trên đây. Đặc biệt các phần từ 1 đến 8. Không minh tuệ được các phần từ 1 đến 8 mà cố tu tập thì dễ rơi vào mê ngộ, mộng ảo thâm sâu. Do vậy, không được cố cầu Pháp khi tâm vẫn chưa minh tuệ các điều từ 1-8 đã thuyết phía trên.
3. Khi đã tu tập theo Diệu Pháp này thì khi xuất hiện nghi ngờ trên thì chú Pháp của Diệu Pháp này đâu? "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh". Như vậy, đã tu tập đúng cách chưa? - Luôn luôn niệm, luôn luôn niệm, niệm niệm niệm chú Pháp này, sao biến chú pháp này thành một mộng ảo vĩnh hằng trong đầu trong thế giới vô thường này.
- Thuyết giải chú viết: Chỉ niệm sinh niệm, điều này sao có nhiều mâu thuẫn? và tại sao lại nói niệm lại luôn sinh sinh diệt diệt vô lượng tận?
Thuyết chú: Chỉ niệm sinh niệm vì: Tất cả mọi thứ thế giới bên ngoài tác động vào ngã (ngã mộng ảo) hay mọi thứ tác động vào ngã từ bên trong (ngã mộng ảo vì đang ở thế giới vô thường mà)... đều được ngã (mộng ảo) tiếp nhận qua 5 giác quan và ý (tưởng tượng). Khi các ảo mộng đó thông qua 5 giác quan và ý vào đến trung khu não bộ, đã trải qua tầng tầng lớp lớp tâm lý tinh thần từ ghi nhớ, suy tư, phân tích, phản hồi, đánh giá..... cuối cùng mới đến phản ứng. Phản ứng là hành, còn tất cả các khâu trước là niệm. Như vậy, cảm giác được đã là niệm sinh ra, và còn trải qua bao khâu trong đầu thì trong sát na đó, niệm niệm sinh ra... nên niệm vô lượng tận là vậy. Chưa hành mà niệm đã vô lượng tận trong tâm thức, niệm niệm sinh sinh diệt diệt trước khi cho ra một đánh giá phản ứng... Nên cần luôn luôn trì niệm "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh"
- Thuyết giải chú viết: Niệm diệt niệm, tại sao không ngăn từ ngũ uẩn? - Bởi có Pháp nói: "Ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách, rồi thân ý tưởng cũng đều không như vậy"?
Thuyết chú: Đã bình rõ trong các mục từ 1-8. Nay chú rõ hơn: Không ở đâu không rõ, nhưng ý đã là Niệm nên không thể tự làm cho Không được. Niệm luôn sinh sinh trong cõi vô thường này.
...
Như vậy, còn rất nhiều nghi ngờ. Đã nghi ngờ thì nên tường tận thâm cứu và nêu ra để được giải đáp. Không nên chấp nghi rơi vào mê ngộ.
Hoan hỷ chúc các vị đạt được Diệu Pháp này, sớm ngày Kết Quả Bồ Đề!
Phần tiếp theo: Tôi sẽ thuyết giải sâu hơn nữa về Diệu Pháp. Đó là Phần tinh chú và tinh tấn. Giải thích rõ, việc tu tập trì chú trên chỉ là bước khởi đầu trên con đường Kiến Phật. Con đường này, không thể dùng 1 chú mà độ qua được. Vậy, cái gì sẽ độ qua sẽ được tôi thuyết rõ ở phần sau. Tôi nói trước phần này như vậy, không nhiều người lại ngộ nhận để rồi quay ra nghi ngờ DIỆU PHÁP này.
Vô Thường Chú Thuyết
Hôm nay, tôi xin trình bày nội dung mà nhiều người còn nghi hoặc, chưa sáng tỏ đối với việc tu tập Diệu Pháp.
Kính xin, các chư vị không quan tâm, không tin tưởng đối với Diệu Pháp, sự nhiệm màu của Diệu Pháp hoan hỉ trở lui.
Kính xin, các chư vị sau khi đọc, nghe, thấy lời giảng về Diệu Pháp mà còn có chỗ nghi hoặc chưa thông hãy nói ra để được giải đáp, chớ chấp mê bất ngộ, hiểu cả lời lẫn pháp đều sai.
Phẩm này, rất quan trọng, quan trọng bậc nhất với những người tin tưởng vào Diệu Pháp muốn tu tập diệu Pháp nhưng còn chưa biết tu theo đường nào. Tin tưởng vào Diệu Pháp nhưng còn chưa biết Pháp ở đâu... Vậy nên cần phải đọc, nghe, thấy cho minh trước khi trì hành, bởi nếu trì hành sai thì hậu quả sẽ khôn lường...
1. Đức Thế Tôn, thuyết Pháp 8 vạn, mỗi Pháp là 1 đường tu tập, có lớn, có nhỏ, có thâm sâu, vậy thì lấy đâu để trụ?
- Viết rằng: Lấy Tứ Diệu Đế để làm chân lý, lấy Tam Đại Ấn Pháp làm Pháp định, lấy Tam vô lậu học làm giải thoát.
2. Giải thích sao?
- Tám vạn Pháp, giải thích sâu rộng, chánh Pháp bừng bừng, minh tuệ, minh triết, tựu trung lại đều khẳng định để giải thoát thì cần phải diệt trừ khổ đau, để diệt trừ khổ đau thì cần phải biết khổ đau ở đâu, thế nào? Thế giới vô thường, đều là giả, không gì là thật, chính bản thân con người, chúng sinh cũng giả dối. Như vậy, để được giải thoát cần phải giữ giới, từ bỏ những điều giả dối, mộng ảo để, định trụ vững vàng dùng trí tuệ minh giác để siêu thoát khổ đau.
Phổ cập của 8 vạn Pháp: Dựa trên nền căn bản của tam đại ấn pháp (Khổ, Vô Thường, Vô Ngã) thì có đủ các thứ vô: Vô tướng, vô thân, ý, tưởng, thiết, nhĩ...., vô sắc, dục, thanh... Vô cầu, vô trụ, vô đắc.... vô giới, vô vô giới, Không, Không không..... Đạt đến cảnh giới Không, Không Không là thành tựu giải thoát khi chứng được quả La Hán.
Tu tập của 8 vạn Pháp chủ yếu dựa trên việc trì hành: Giới, Định Tuệ để đạt đến cảnh giới tối cao cuối cùng Không, Không Không, hay nói 1 cách khác là đạt đến cảnh giới minh tuệ thấu triêt Không, Không Không.
3. Tại sao Diệu Pháp lại nói 8 vạn Pháp trên cũng là mộng ảo, chỉ đưa đến mộng ảo giải thoát?
- Thuyết rằng: Tám vạn Pháp, 8 vạn con đường, đều đi về 1 hướng với Pháp Định: Vô.
Tại sao lại nói là hướng về vô? - Nói hướng về Vô vì 8 vạn Pháp này dựa trên Khổ, diệt đi Khổ là không còn khổ, tức là KHÔNG/ hoặc/ và/ VÔ. Không thì Không Khổ, Vô thì Vô Khổ, bởi vậy, 8 vạn đường Không, 8 vạn lối Vô. Đường, lối này là Trụ của Không và Vô.
Trụ là gì? - Trụ tức là dựa dẫm, là cái để dựa vào, là cái để tin theo.
Như vầy (vậy), có thể thấy, 8 vạn Pháp, 8 vạn đường đều dùng chung 1 trụ, đó là trụ vô khổ = giải thoát/ hay/hoặc/và niết bàn. Như vậy, tu 1 hay nhiều 1 trong 8 vạn Pháp thì đầu tiên vẫn có sở trụ. Nếu có bậc thánh tu nào đó nói, tu đó là đã không có sở trụ, như vậy là tự nói dối, tự lừa chính mình, chính người và chúng sinh, rơi vào mộng ảo, mê. Bởi nếu không sở trụ thì tu làm gì? -Không có sở trụ thì sao biết Pháp để tu. Mến Phật mà tu Pháp thì cũng là có sở trụ, thoát khổ mà tu pháp cũng là sở trụ, tự nhiên mà tu pháp cũng là sở trụ (trụ tự nhiên) - Thế cho nên 8 vạn Pháp đều có sở trụ là vậy.
Như vầy, 8 Vạn Pháp tu vô trụ để giải thoát, nhưng chính cái đó lại là trụ. Dù là tự nhiên cũng là tự nhiên trụ, dù là không gì, không không gì thì cũng là không gì trụ, không không gì trụ.... Bởi vầy, Đức Thánh Tôn mới nói, 8 vạn Pháp đó, đưa đến giải thoát chỉ là mộng ảo mà thôi. Mộng ảo rằng đã vô trụ, vô sở cầu, tự mê, chưa đạt được VÔ THƯỢNG TRÍ TUỆ để nhận ra vẫn ở trong luân hồi, cái nhận thấy đã đạt thành La Hán quả đó, cái nhận thấy giải thoát đó chỉ là mộng ảo, không chân thật... Thế nên, những ai vẫn chấp mê, tự cho mình là tu vậy, đạt vậy là đã giải thoát có nghĩa là Tăng Thượng Mạn.
4. Vậy Diệu Pháp giải thích sao?
- Diệu Pháp không phủ nhận bất cứ Pháp nào trong 8 vạn Pháp Phật. Diệu Pháp chỉ chỉ ra con đường chân thật để đạt được đến niết bàn chân thật, giải thoát chân thật. Diệu Pháp chỉ chỉ ra sự thiếu sót của 8 Vạn Pháp Phật như đã nói ở trên, chỉ ra kết quả là 8 vạn Pháp đó đều chỉ đưa đến mộng ảo giải thoát mà thôi.
5. Sao nói Diệu Pháp là Pháp chân Pháp, chân tướng?
- Diệu Pháp là chân Pháp vì Pháp này đưa đến chân giải thoát, chân thiệt bất hư, chân tướng là Pháp thường hằng bất sinh bất diệt, Pháp thật Pháp, đưa chúng sinh, người tu tập đến/ kiến/ thấy được hình tướng cuối cùng thân thiệt của giải thoát, đó là Chứng Phật quả, thành Phật Đà, chân thật bất hư.
6. Vô thường - Giải thích sao?
- Viết rằng: Thế giới vô thường, vạn vật, vạn chúng sinh, muôn loài, (/hoặc/ hay/ SẮC) đều vô thường. Ý niệm, xúc cảm, sở cầu, sở đắc, vô ý giới, vô vô ý giới, vô niệm, vô xúc, vô ý, vô sở cầu, vô sở đắc... đều nằm trong thế giới nên các thứ đó cũng vô thường. Hành, trụ, tri, thọ, pháp, đạo.... đều nằm trong thế giới nên các thứ đó cũng vô thường. Sinh diệt, tăng giảm, cấu tịnh..... các thứ này cũng nằm trong thế giới nên cũng vô thường. Không cũng nằm trong thế giới nên cũng vô thường.... tất cả mọi thứ tồn tại hay không tồn tại, vật chất hay tinh thần, có hình thể hay không có hình thể.... nếu nằm ở trong thế giới thì đều vô thường hết.
- Vô thường là biến đổi, biến đổi tức là không hằng, như vậy là không chân thật/ KHÔNG/ Mộng ảo/ Không Không Không/ không phải vậy.
(Thuyết giải thêm: Phật chỉ có 1, thường hằng bất biến, nên chân lý chỉ có 1, điều này khẳng định, căn cơ chân lý của Diệu Pháp và 8 vạn Pháp Phật khác đều giống nhau, là 1. Có thể diễn giải như trên, cũng có thể tóm gọn thành mấy từ như sau: (" Sắc bất dị Không, Không bất dị sắc/ Sắc tức thị Không, Không tức thị sắc///"). Sắc là vật chất mà Không là phản vật chất. Sắc là linh hồn, lý niệm, ý tưởng, suy nghĩ, tình cảm (/hay/hoặc cái gọi là tinh thần) thì Không là Phản tinh thần. Phản ở đây có ý nghĩa là Phủ định. Tức là mọi thứ đều giống nhau.
- Phật nằm ngoài thế giới nên thường hằng. Cái gì nằm ngoài thế giới thì thường hằng.
7. Vô ngã - Giải thích sao?
- Viết rằng: Ngã là cái tôi, ngã là định chính danh tôi của mỗi chúng sinh muôn loài cá thể/ duy ngã/ độc tôn/ Ngã/ Bản thể.
Từ nghĩa giải Vô thường ở trên thì thấy rằng ở trong thế giới Ngã cũng vô thường. Ngã vô thường là vô ngã. Vô ngã là không phải ngã/ không thuộc ngã/ ngoài ngã/ không phải tôi/ cái tôi/ không phải bản thể.
(Thuyết giải thêm: Như vậy, thế giới vô thường nên ngã vô ngã. Nếu thế giới/ ngoài thế giới là vô vô thường (tức là thường hằng) thì ngã chính là ngã, xác định.
- Các loài chúng sinh ở trong thế giới nên vô thường, mà vô thường thì tức là vô ngã. Chân lý vô ngã được giải thích ở mục 7 đây, như vầy.
8. Vậy chúng sinh muôn loài, chân lý/ hay/hoặc chân thật hoặc tột cùng là Có ngã (ngã) hay vô ngã?
- Viết rằng: Ngã thị vô ngã/vô ngã thị ngã.
(Thuyết giải thêm: Đức Thánh Tôn có nói về các thế giới, các cõi và thế giới Phật (Quốc độ). Do vậy, hiểu ngã mà vô ngã, vô ngã mà ngã có nghĩa là. Ở thế giới sa bà (chẳng hạn) thì vô ngã. Ở thế giới Phật (Quốc độ) thì là ngã. Tức là thay đổi theo Đạo Pháp tắc. tìm được ngã thì về được Quốc độ bất sinh bất diệt, thường hằng. Vô ngã thì trầm luân luân hồi.
Như vậy, cái gì thường hằng thì vượt ra ngoài thế giới, cái gì ở trong thế giới thì vô thường. Quý vị lưu ý điều này, điều này không có tính tương đương và vô cùng quan trọng. Cái thường hằng thì chắc chắn vượt ra ngoài thế giới rồi, nhưng nếu cái thường hằng đó mà vào trong thế giới thì còn thường hằng không? Xin thưa là KHÔNG. không còn tính thường hằng nữa. Bởi vì cái ở trong thế giới thì vô thường. Đức Phật là thường hằng bất sinh bất diệt, Đức Phật vì thương chúng sinh linh muôn loài nên đến thế giới để độ hóa chúng sinh. Do vậy, Đức Phật cũng có sinh diệt là vậy (cái này ai muốn hiểu sâu thì tìm thêm lịnh sử Phật để đọc). Đức Thế Tôn nói rằng: Ta sinh diệt là để cho con ta (phật tử/chính là chúng sinh muôn loài) hiểu được lẽ của VÔ và VÔ VÔ. Lẽ thường hằng và lẽ vô thường, từ đấy mà thấy lẽ của NGÃ và VÔ NGÃ của mỗi con.
Tất nhiên, chúng sinh u mê, không thấu triệt dụng tâm của Đức Thánh Tôn nên lầm lẫn, không thấu triệt Ngã và Vô Ngã là vậy. Đức Thánh Tôn ở ngoài thế giới là Ngã Phật thường hằng, ở trong thế giới thì là Vô ngã Phật. Tất nhiên, Đức Thanh Tôn đã tu đến toàn năng, Pháp lực vô biên, nên Ngài có thể luôn luôn xuất hiện trong thế giới. Ngài hiện lên thân vô ngã Phật trong thế giới là để làm minh chứng thí dụ cho chúng sinh GIÁC/Thấy/Đốn NGộ và tính Ngã và vô ngã của bản thể/bản tôn/ định danh/ của 1 cá thể trong muôn loài.
9. Diệu Pháp - Pháp của vạn Pháp tu tập trì chú.
Như vầy. Tám điều chú ý trên có thể gọi là Tám Minh, dùng để giải hoặc cho mọi nghi ngờ của chúng sinh muôn loài. Tất cả mọi nghi hoặc đều có thể tìm được ở Tám Minh trên. Cần siêng năng minh minh ngộ. Có minh minh ngộ, sáng tỏ mọi nghi ngờ, THẤY rõ 8 minh trên thì tu tập bổn nguyên Diệu Pháp thuyết giải sau đây mới được Minh GIÁC, đạt đến Vô Thượng Trí Tuệ, giải thoát.
Bổn nguyên thuyết giải Diệu Pháp chính văn:
- Chư vị! Khổ là vô thường, khổ là không có thật, thế sao chúng sinh vẫn khổ, vẫn kêu khổ?
Nếu nói! Khổ là không thật đâu, khổ là mộng ảo đấy, đừng nghĩ khổ, đừng kêu khổ thì sẽ không thấy khổ. Như vậy, có làm được không? - Xin thưa không làm được. Nghĩ thế đấy, mà thấy khổ vì thấy đau, thấy buồn, thấy chán... tóm lại là nghĩ hay gào lên thật to, Khổ là giả dối thì Khổ vẫn đấy thôi, vẫn thấy khổ.
- Chư vị! Rõ ràng, khổ là vô thường, vô thường thì có sinh có diệt, trong cái sinh diệt đấy thì có quãng gọi là tồn tại. Tất cả những cái này đều là mộng ảo nhưng vì chúng sinh cũng ở trong mộng ảo nên đồng nhất như nhau đều thấy. Chúng sinh thấy khổ là thấy sau khi khổ sinh ra và trước khi khổ diệt đi, quãng gọi là khổ tồn tại ấy.
- Chư vị! Vô sinh thì vô diệt. Thế nên, muốn không khổ thì không để khổ sinh ra. Không phải diệt khổ, vì không thể diệt được khổ ở cõi mộng ảo vô thường. Chỉ có không để khổ sinh ra thì khổ sẽ không tồn tại, không thấy (ở đây tất cả đều đang ở cõi mộng ảo vô thường)
- Chư vị! Tứ diệu chân lý (Tứ Diệu Đế), Thánh Tôn đã pháp dẫn. Khổ do niệm sinh ra. Khổ không phải do Sắc sinh ra, cũng không phải do Không sinh ra. Khổ do Niệm sinh ra. Niệm của chúng sinh sinh ra.
- Chư vị! Niệm là tất cả những gì thuộc tinh thần của chúng sinh. Ý tưởng, suy nghĩ, ước, muốn, cầu, mong, nhớ, quên, yêu, ghét, chán, hận, cảm xúc, cảm nhận, cảm thấy, tư duy, ý thức, tiềm thức, vô thức, tâm, linh, thức.v.v.. tất cả những cái đó là Niệm trong Diệu Pháp.
- Chư vị! Ngoài ra, khổ không phải do bất cứ cái khác sinh ra. Không phải do chúng sinh khác mang lại, không phải do thế giới mang lại, không phải do quỷ dữ mang lại và đặc biệt, không phải do hành động của chính chúng sinh đó mang lại. Khổ chỉ do niệm sinh ra. Có niệm là có khổ.
- Chư vị! Vậy, không niệm nữa, vô niệm có hết khổ không?
Xin thưa, không hết khổ. Bởi vô niệm ở trong thế giới này là vô thường, tức là có sinh có diệt. Vô niệm không thể nào thường hằng ở thế giới này, nên không thể thực hiện được vô niệm ở thế giới này. Người nào nói thực hiện được vô niệm rồi là kẻ mê, sai lầm, rơi sâu vào mộng ảo.
- Chư vị! Vậy, diệt niệm có hết khổ không?
Xin thưa, không hết khổ. Bởi niệm ở trong thế giới này là vô thường, tức là có sinh có diệt. Còn ở trong thế giới niệm còn sinh diệt. Như vậy, có diệt đi vô lượng niệm thì cũng lại có vô lượng niệm sinh ra, không bao giờ hết. Bởi vậy, diệt niệm không hết khổ.
- Chư vị! Niệm sinh ra từ đâu? Diệt cái sinh ra niệm đó, có hết khổ không?
Xin thưa, diệt cái sinh ra niệm thì niệm không sinh ra nữa. Đúng! Sẽ hết khổ. Nhưng cái sinh ra niệm lại chính là niệm. Chỉ có niệm mới sinh ra niệm. Không có cái gì khác sinh ra niệm.
- Chư vị! Đã rõ tại sao 8 vạn Pháp đều rơi vào mộng ảo chưa? - Đó là niệm niệm niệm.... không bao giờ hết!
Vậy Diệu Pháp làm sao?
- Chư vị! Ta nghe Pháp Truyền! Thánh Tôn như vầy:
Diệu Pháp truyền ra, chúng sinh muôn loài, ai ai cũng hưởng, bất phân tầng thứ. Thiện nam, tín nữ, tại gia, xuất gia, tăng, ni, kheo, la hán, ai ai cũng tu tập được. Niệm sinh niệm thì niệm diệt niệm. Giải trừ đau khổ, ấy là niệm diệt niệm.
-Chư Vị! Vừa bên trên nói pháp "diệt niệm không hết khổ" vậy mà sao phía dưới được truyền "niệm diệt niệm"
Ta được minh truyền rằng: "Tự tử, chết già, niệm còn không?" - Từ đó minh tuệ. Cách diệt niệm có rất nhiều, nên không thể hiểu là dùng niệm diệt niệm là hết khổ được. Vì dù có tự tử, chết già thì nhân quả vẫn luân hồi, đến kiếp sau, niệm trước đã chết. Tưởng hết. Ai ngờ! Nhân quả luân hồi. Chỉ có tại kiếp này, dùng niệm diệt niệm.
- Chư vị! Niệm diệt niệm thì niệm lại sinh niệm. (Chú giải thêm: Nếu Niệm 2 diệt niệm 1 thì niệm 2 lại sinh niệm 3, để diệt niệm 2 thì lại cần niệm 4, mà niệm 4 sinh ra lại do niệm 5....) cứ thế thì niệm diệt niệm sao được?
- Chư vị! Trên đây, tứ chân lý, 3 ấn pháp đã dùng đến, vậy còn 3 vô lậu học dùng để làm gì?
Cảnh thứ nhất: Giới! - Dùng Giới để giữ gìn, giữ gìn gì? Giữ gìn sự tu tập. Niệm 2 diệt niệm 1 thì phải giới 2 niệm với nhau để làm sao niệm 1 diệt lại niệm 2. Không được sinh một niệm nào nữa để diệt niệm 2. Phải dùng niệm 1 diệt lại chính niệm 2. Hai niệm 1 và 2 quy về hư vô, quy về bên ngoài thế giới. Trừ được 2 niệm.
Cảnh thứ 2: Định! - Dùng Định để giữ gìn, giữ gìn gì? Giữ gìn Giới. Dù ở cảnh thứ nhất, đã cho 2 niệm diệt nhau hết rồi nhưng nếu không giữ gìn giới thì ngay chốc lát lại một niệm phẩy sinh ra. Tại sao lại có niệm phẩy sinh ra? Bởi vì tất cả đều vẫn đang ở thế giới, mà thế giới vô thường nên mộng ảo. Vì lẽ đó, 2 niệm đã diệt rồi nhưng lại mộng ảo thấy chưa diệt (mộng ảo luân hồi mà), nhầm lẫn, mê mộng là đây vậy, không phân biệt được thực hư.
Thế nên, trong khi Giới để 2 niệm diệt nhau để cho chúng về hư vô (bên ngoài thế giới) thì cần ngay lập tức Định Giới. Định vững chắc Giới trong sát na đó. Sát na 2 niệm cùng diệt đó, con người được gần trở lại với bản chân ngã tức thời (vì 2 niệm về hư vô bên ngoài thế giới nên mộng ảo lúc đó, rất gần bên ngoài thế giới, trong sát na mở ra). Định Giới để nhận Thấy/ Giác được rằng, 2 niệm đã cùng diệt nhau hết rồi.
Cảnh thứ 3: Tuệ! - Dùng Tuệ để Giác trở lại. Giác trở lại là THẤY trở lại. Thấy trở lại cái gì? Là thấy trở lại bản chân ngã đã thấy khi Định Giới. Tức là thấy hiểu/ Giác được rằng: Hai niệm đã cùng diệt nhau chân thật bất hư...
Mỗi một lần niệm niệm diệt nhau như vậy thì Giác trở lại 1 ít, gần được thêm bản chân ngã 1 ít...
- Chư vị! Đó! Diệu Pháp là ở trong thế giới vô thường, dùng niệm diệt niệm đồng giới Giới Định Tuệ để Giác trở lại. Không để cho niệm diệt niệm lại niệm niệm sinh.
- Chư vị! Diệu Pháp này nhiệm màu vô cùng, chỉ cần thực hiện 1 lần thì Giác trở lại gần hơn, THẤY rõ hơn, kết quả chân thật hiện ra, gần hơn được Tính Phật. Nhanh thôi, kết quả sẽ viên mãn mà đây chính là Kết Quả Phật chân thật bất hư.
10. Cởi bỏ
- Chư vị! Tu tập hành trì Diệu Pháp không cần phải giới sắc, kiêng không ăn mặn, tránh nọ bỏ kia phiền hà rắc rối. Đức Thánh Tôn không khuyên bảo điều này.
- Chư vị! Tu tập hành trì Diệu Pháp không cần phải nghiêm, rời xa xã hội, không cần phải tìm nơi thanh tịnh vắng vẻ tu tập. Đức Thánh Tôn không khuyên bảo điều này.
- Chư vị! Tu tập hành trì Diệu Pháp là thấy một niệm sinh thì đưa chính niệm diệt đi. Đây chính là Niệm diệt Niệm, hai niệm diệt nhau. Không cần phải nghĩ xem chính niệm kia lấy từ đâu (vì nghĩ lại là niệm khác sinh rồi), không cần phải để ý xem chính niệm kia có diệt được niệm không (vì để ý là niệm khác sinh rồi). Chỉ cần THẤY được Diệu Pháp, nguyện tu tập Diệu Pháp, lấy chính niệm diệt niệm. Khẩu dụ: "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh" thì lúc nào cũng vậy, thời thời như thế, Giác trở lại.
11. Thí dụ
- Hôm nay, ta phát nguyện tu tập Diệu Pháp, lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh. Lúc nào cũng tu tập vậy: "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh" (lúc nào cũng tu tập vậy nên đây chính là chính niệm để diệt đi mọi niệm đấy các chư vị nhé)
- Bây giờ, 1 thí dụ: Chư vị đi qua một ngôi nhà hớ hênh, cửa mở, không thấy có ai, lại nhìn thấy cả 1 đống tiền đang được để ở giữa nhà. Có thể chủ nhà gặp chuyện lửa xém lông mày, chạy đi cứu gấp. Đang lúc cần tiền.....
- 1 niệm khởi lên: Đang lúc cần tiền, không có ai, vào lấy 1 ít, ai biết.
- Các Pháp khác: - Ta phải bỏ đi ngay niệm này, niệm này là 1 niệm xấu, ác. Và đi
Đi được 1 đoạn, qua đấy rồi, lại 1 niệm sinh ra: - Ta giữ gìn được thanh giới, tốt quá, cứ tu tập thế này thì sẽ tốt lên thôi..... (Chấp pháp)
- Ta không được nghĩ tới cái này nữa. Phải vô niệm ... (chấp niệm)
- Hay/hoặc: - Kể ra cũng tiếc, tiền một đống kia mà đang cần chứ... (chấp sắc)
- Hay/hoặc: - Đang cần, quay lại liều đi... (chấp tham)
- Hay/hoặc: Không nghĩ gì cả nhưng vẫn nhớ trong lòng (chấp lậu)
....
Nói chung gặp chuyện như vầy, niệm chắc chắn khởi lên. Không khởi niệm ác như trên thì khởi niệm lành (ác lành là mộng ảo, vô thường) đại loại như: - Giữ giới/ hay - nhà nhiều tiền thật/ hay - nhà này sao hớ hênh thế/ hay hoặc .v.v.
- Còn với người tu Diệu Pháp thì sao: Niệm ác hay niệm lành khởi lên, dù là niệm nào thì cũng vẫn đang có niệm "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh" như vậy là liền không còn thấy biết gì nữa. Chân thật bất hư.
12. Nghi ngờ
- Đã thử tu tập nhưng có thấy diệt được niệm nào đâu, thấy vẫn còn nguyên, sao thuyết nhiệm màu?
Thuyết chú: Người tu tập Diệu Pháp thì trước khi trì chú thọ hành cần phải:
1. Khai được GIÁC, thấu áo nghĩa của Diệu Pháp (Đã giảng giải ở phần I). Phải GIÁC THẤY bản thân bản chân ngã chính là TÍNH PHẬT. Không có tính nào khác nữa (như đã nói ở phần I và các phần phúc đáp giải đáp phần I phía trên)
2. Phải thấu hiểu cặn kẽ phần giảng giải Tu Tập Diệu Pháp viết trên đây. Đặc biệt các phần từ 1 đến 8. Không minh tuệ được các phần từ 1 đến 8 mà cố tu tập thì dễ rơi vào mê ngộ, mộng ảo thâm sâu. Do vậy, không được cố cầu Pháp khi tâm vẫn chưa minh tuệ các điều từ 1-8 đã thuyết phía trên.
3. Khi đã tu tập theo Diệu Pháp này thì khi xuất hiện nghi ngờ trên thì chú Pháp của Diệu Pháp này đâu? "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh". Như vậy, đã tu tập đúng cách chưa? - Luôn luôn niệm, luôn luôn niệm, niệm niệm niệm chú Pháp này, sao biến chú pháp này thành một mộng ảo vĩnh hằng trong đầu trong thế giới vô thường này.
- Thuyết giải chú viết: Chỉ niệm sinh niệm, điều này sao có nhiều mâu thuẫn? và tại sao lại nói niệm lại luôn sinh sinh diệt diệt vô lượng tận?
Thuyết chú: Chỉ niệm sinh niệm vì: Tất cả mọi thứ thế giới bên ngoài tác động vào ngã (ngã mộng ảo) hay mọi thứ tác động vào ngã từ bên trong (ngã mộng ảo vì đang ở thế giới vô thường mà)... đều được ngã (mộng ảo) tiếp nhận qua 5 giác quan và ý (tưởng tượng). Khi các ảo mộng đó thông qua 5 giác quan và ý vào đến trung khu não bộ, đã trải qua tầng tầng lớp lớp tâm lý tinh thần từ ghi nhớ, suy tư, phân tích, phản hồi, đánh giá..... cuối cùng mới đến phản ứng. Phản ứng là hành, còn tất cả các khâu trước là niệm. Như vậy, cảm giác được đã là niệm sinh ra, và còn trải qua bao khâu trong đầu thì trong sát na đó, niệm niệm sinh ra... nên niệm vô lượng tận là vậy. Chưa hành mà niệm đã vô lượng tận trong tâm thức, niệm niệm sinh sinh diệt diệt trước khi cho ra một đánh giá phản ứng... Nên cần luôn luôn trì niệm "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh"
- Thuyết giải chú viết: Niệm diệt niệm, tại sao không ngăn từ ngũ uẩn? - Bởi có Pháp nói: "Ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách, rồi thân ý tưởng cũng đều không như vậy"?
Thuyết chú: Đã bình rõ trong các mục từ 1-8. Nay chú rõ hơn: Không ở đâu không rõ, nhưng ý đã là Niệm nên không thể tự làm cho Không được. Niệm luôn sinh sinh trong cõi vô thường này.
...
Như vậy, còn rất nhiều nghi ngờ. Đã nghi ngờ thì nên tường tận thâm cứu và nêu ra để được giải đáp. Không nên chấp nghi rơi vào mê ngộ.
Hoan hỷ chúc các vị đạt được Diệu Pháp này, sớm ngày Kết Quả Bồ Đề!
Phần tiếp theo: Tôi sẽ thuyết giải sâu hơn nữa về Diệu Pháp. Đó là Phần tinh chú và tinh tấn. Giải thích rõ, việc tu tập trì chú trên chỉ là bước khởi đầu trên con đường Kiến Phật. Con đường này, không thể dùng 1 chú mà độ qua được. Vậy, cái gì sẽ độ qua sẽ được tôi thuyết rõ ở phần sau. Tôi nói trước phần này như vậy, không nhiều người lại ngộ nhận để rồi quay ra nghi ngờ DIỆU PHÁP này.
Vô Thường Chú Thuyết
-
Andre
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 1701
- Tham gia: 02:00, 29/05/19
TL: DIỆU PHÁP
Sao tôi cứ cố cảm giác bài này bác đang làm sáng tỏ mấy suy nghĩ trong đầu tôi thế nhỉ??? Chẳng nhẽ chém gió với tui lâu ngày mà bác có cảm hứng viết ra những tác phẩm kinh điển vậy???
He he, mà tui vẫn chưa hiểu bác viết gì.
-
vothuong236
- Tam đẳng

- Bài viết: 696
- Tham gia: 01:25, 13/02/12
TL: DIỆU PHÁP
Phần III: Tinh chú và tinh tấn
Thưa chư vị, hôm nay tôi sẽ thuyết chú sâu hơn về Diệu Pháp - Pháp của các Pháp!
Trước khi nói đến phần thâm sâu tinh chú và tinh tấn, tôi muốn sửa soạn lại một vài ý tứ:
1. Bản Kinh: Diệu Pháp Liên Hoa Kinh/ Pháp Hoa/ Liên hoa Kinh là bản Kinh duy nhất có ghi lại việc Đức Thánh Tôn thuyết truyền Diệu Pháp. Bản Kinh này khẳng định về sự tồn tại của Pháp tướng duy nhất dẫn đến chân thật giải thoát và khẳng định Tính Phật của mỗi chúng sinh, khẳng định mỗi chúng sinh đều có thể Kiến Tính Phật. Pháp này tên là Diệu Pháp, Kinh ghi lại thời điểm Đức Thánh Tôn truyền Pháp này tên là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh.
2. Diệu Pháp dành cho mọi chúng sinh, ai ai cũng có thể tu tập, bất phân xuất gia, tại gia, già trẻ nam nữ, ác thiện, tăng ni kheo la hán... Ai cũng phải tu pháp này thì mới chân giải thoát.
3. Tất nhiên, đối với các vị La Hán, đã tu thành quả La Hán thì chỉ cần nghe Đức Phật thuyết Pháp này là có thể thành Phật. Bởi người chứng được quả La Hán thì đã tinh thông các Pháp Phật khác lắm rồi, đã minh tuệ tất cả những điều khổ, vô thường, vô ngã hết rồi. Nên chỉ cần nghe Diệu Pháp là lập tức đại ngộ có được Vô Thượng Trí Tuệ, lập tức thành Phật.
4. Đối với chúng sinh các loài, thì dù nghe được Diệu Pháp cũng không thể 1 lần thành Phật nhưng sẽ biết được con đường phía trước không phải là con đường cụt, không phải là con đường mộng ảo.
5. Ngoài những người đã chứng được quả A La Hán thì về cơ bản, dù nghe thấy, biết thấy Diệu Pháp cũng khó có thể tin. Bởi Pháp này quá huyền diệu, quá nhiệm màu, quá hết tất cả mọi suy nghĩ và tưởng tượng của chúng sinh. Ai có thể tin, bản thân họ cũng là Phật? Ai có thể tin họ cũng giống như các vị Phật Đà kia? - "Một người nhận mình cũng là Phật - Người có vấn đề về tâm thần" - Đó họ nghĩ như vậy, xã hội nghĩ như vậy - U mê, bất ngộ!
6. Tất nhiên, để tìm về Tính Phật, Kiến Tính Phật thì không thể tự nhiên mà thành, nghĩ vậy mà thành. Cũng không phải niệm niệm "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh" mà thành. Do vậy, phần dưới đây, tôi xin thuyết chú sâu hơn nhằm mở rộng con đường tu tập Diệu Pháp đạt được Kết Quả Phật giải thoát chân thật khỏi khổ đau trong thế giới.
Thuyết Pháp tinh tu
- Chư vị: Niệm niệm "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh" nhưng có ai thấy vừa niệm đã có sự nhiệm màu? - Xin thưa! Không có.
- Chư vị: Niệm niệm " Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh" một thời gian thấy cũng có sự tinh tấn, cũng có chút kết quả nhưng bất chợt, gặp một sự cố ở bên ngoài tác động đến, hay ở bên trong tác động ra, sự cố quá lớn thì niệm sinh ra quá lớn. Lúc này niệm niệm "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh" liệu có còn tác dụng? - Xin thưa! Không còn.
- Chư vị: Vậy phải làm sao?
Diệu Pháp - Đức Thánh Tôn dặn rằng: Hãy mặc lên áo Như Lai, hãy đi vào nhà Như Lai, hãy ngồi xuống Bồ đoàn Như Lai..... Vạn sự đều thông!
- Chư vị: Giải thích sao?
Thuyết chú viết: - Như Lai chính là vị Phật của tương lai. Đầu tiên, các vị phải ghi nhớ điều đó. "Vị Phật của tương lai", điều này ảo diệu lắm, nhiệm màu lắm. Là Thánh ngôn, khi thông tuệ điều này sẽ hiểu tại sao Đức Thánh Tôn lại nói mặc áo Như Lai, vào nhà Như Lai, ngồi xuống chỗ Như Lai... như vậy không phải ai làm được 3 điều này chính là Như Lai sao? Chính là Phật tương lai sao? - Ảo diệu lắm, nhiệm màu lắm!
Thế nên, Như Lai là để chỉ chính chúng sinh, những người nắm được Diệu Pháp, tu tập Diệu Pháp.
- Chư vị: Vậy áo Như Lai là sao?
Thuyết: - Là Đại từ bi
Chư vị: Vậy nhà Như Lai là sao?
Thuyết: - Là sự kiên nhẫn
Chư vị: Vậy bồ đoàn Như Lai là sao?
Thuyết: - Là Vô Thượng Trí Tuệ
- Chư vị: Giải thích sao?
Thuyết chú viết: - "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh" nhưng nếu không có Đại Từ Bi thì ở đời thường làm sao có thể tu tập được?
- "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh" nhưng nếu không có sự kiên nhẫn thì ở đời thường làm sao có thể tu tập lâu dài được?
- "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh" nhưng nếu không có Vô thượng Trí Tuệ thì ở đời thường làm sao chân giải thoát/ thành Phật/ niết bàn được?
- Chư vị: Vậy làm sao để có Đại Từ Bi?
Thuyết chú viết: Hãy liên tục tu tập, luôn luôn tu tập trì chú "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh"
- Chư vị: Giải thích sao?
Thuyết chú viết: Khi bắt đầu tu tập trì chú của Diệu Pháp thì tất cả chúng sinh đều chưa thể có Phật lực gia trì, chưa thể có trí tuệ minh huệ, chưa thể có lòng kiên nhẫn vô kiên bất tồi/vô lậu. Thế nên, lúc ban đầu tu tập, không thể nóng vội, bỏ gần ước xa, không thể nâng lên sở cầu thành Phật.
Lúc đầu, tụng niệm trì chú là để có phương hướng tìm về Bản Tính /Phật tính/bản ngã mà mỗi chúng sinh đã rời xa trong quá trình luân hồi đời đời kiếp kiếp. Là để cảm ứng lấy Phật Tính đang ở bờ phương cõi nào để đưa Phật Tính quay đầu lại (khổ hải vô biên/quay đầu lại là bờ)
Lúc đầu, tụng niệm trì chú thì lòng đại từ bi chính là "Chính niệm" trong câu chú "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh". Chính niệm ở đây là Lành/ thiện/ tự nhiên/ mặc kệ nó. Cái gì đến cũng mang tâm đại từ bi để đón nhận, không mang tâm xua đuổi, không mang tâm khinh ghét, không mang tâm phán xét, không mang tâm xúc động. Cái gì đến, cứ để nó đến, không quan tâm. Nếu xuất hiện những niệm mang tính chất phản ứng với cái đến hãy chuyên tâm trì chú "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh"
Lấy lòng đại từ bi để đi vào tu tập diệu pháp chính là giữ Giới cho Phật Tính/ bản ngã/ cho mình. Lòng đại từ bi là tiên quyết để tu tập Diệu Pháp, cũng là điều kiện cần để tu tập mọi Pháp Phật khác nhằm có kết quả.
Đại từ bi ở đây là đại từ bi với Bản ngã/Phật tính/ chính mình/ và với chúng sinh và với vạn sự vật sự việc xung quanh. Đại từ bi ở đây là không chấp/ vô chấp. Chấp trước chính là quan tâm đến. Còn vô chấp tức là Đại từ bi. Hãy vô chấp mọi thứ đến với mình, không phân biệt tốt xấu, thiện ác, lành dữ, ít nhiều, bẩn sạch, có hay không. Vô Chấp! - Đại từ bi!
Đại từ bi không phải là tha thứ. Tha thứ là có người làm xấu với ta, ta cảm nhận được, biết được nhưng ta tha thứ, bỏ qua. Còn Đại từ bi ở đây chính là nếu có người làm xấu với ta, ta không nhận thấy ("Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh") tức là tự nhiên, không có. - Tôi có thấy đâu. Chứ nếu thấy, bỏ qua, đó vẫn chưa phải là đại từ bi.
Trì chú: Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh chính là để Đại Từ Bi xuất hiện, kiên cố, lớn lên, lớn mãi, lớn thành Đại Từ Bi... Nên đây là GIỚI. GIỚI là đại từ bi, Đại từ bi chính Giới.
- Chư vị: Vậy làm sao để có lòng kiên nhẫn?
Thuyết chú viêt: Hãy liên tục tu tập, luôn luôn tu tập trì chú "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh"
- Chư vị: Giải thích sao?
Thuyết chú viết: Lúc đầu tu tập Diệu Pháp thì chúng sinh có người sẽ có ít nhiều sự kiên nhẫn, sự kiên nhẫn ở đây đối với cả việc tu tập lẫn các sự việc bên ngoài. Tuy nhiên, khi gặp một tác động quá lớn thì sự kiên nhẫn có thể trở thành quá nhỏ dẫn tới cái gọi là mất sự kiên nhẫn.
Khi bắt đầu tu tập Diệu Pháp, sự kiên nhẫn có thể ít, có thể nhiều nhưng theo thời gian, nếu cứ luôn luôn chấp GIỚI và luôn luôn trì chú "lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh" thì sự kiên nhẫn sẽ lớn dần lên.
Chúng sinh khi tu tập Diệu Pháp, muốn có sự tinh tấn và có kết quả thì phải kiên nhẫn. Lòng kiên nhẫn chính là con đường để Bản ngã/ Phật Tính/ chính mình trở về (khổ hải vô biên, quay đầu lại là bờ thì kiên nhẫn chính là con đường quay lại). Thế nên tu tập Diệu Pháp hay bất cứ Pháp nào trong Pháp Phật đều cần sự kiên nhẫn.
Lòng kiên nhẫn ở đây là gì? - Là sự kiên nhẫn, kiên trì, luôn luôn trì chú "lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh" và sự kiên nhẫn, kiên trì với mọi hoàn cảnh tác động của các sự vật sự việc ở bên ngoài lẫn bên trong tác động vào niệm của chúng sinh/chính mình/ bản ngã.
Sự kiên nhẫn không phải là kiên nhẫn, kiên trì làm một việc gì đó. Sự kiên nhẫn ở đây là KIÊN NHẪN VÔ CHẤP. Vô chấp như ở trên đã nói. Do vậy, kiên nhẫn tức là bất cứ vật việc gì bên trong bên ngoài tác động vào chính mình thì mình cũng phải kiên nhẫn vô chấp. Không thấy. Không thấy gì - Kiên nhẫn.
Trì chú: "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh" chính là để sự kiên nhẫn xuất hiện, lớn lên, lớn lên mãi, trở thành bất động, bất động với mọi sự việc sự vật từ trong lẫn ngoài tác động vào bản ngã/Phật Tính/ chính mình. Lòng kiên nhẫn ở đây chính là ĐỊNH. Định là lòng kiên nhẫn. Kiên nhẫn là bất động là Định. Định rõ con đường quay lại chính là kiên nhẫn. Muốn thế phải luôn luôn trì chú Diệu Pháp.
- Chư vị: Vậy làm sao để có Vô Thượng Trí Tuệ?
Thuyết chú viết: Hãy liên tục tu tập, luôn luôn tu tập trì chú "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh"
- Chư vị: Giải thích sao?
Thuyết chú viết: Khi mới bắt đầu tu tập Diệu Pháp thì trí tuệ con người, chúng sinh là hữu hạn, do vậy còn gọi là mê, vô minh. Vô Thượng Trí Tuệ chính là vô lượng tuệ.
Để kiến được Tính Phật, để thành được Đạo thì trí tuệ phải vô lượng, khi trí tuệ vô lượng, mọi thứ thông suốt, ngay lập tức THẤY được giới hạn của thế giới (thế giới đang vô thường nhé). Khi thấy được giới hạn của thế giới thì xé bỏ màng đó vượt ra thế giới tức là vô thường, trở về với thường hằng, trở về với TÍNH PHẬT, trở về với PHẬT, thành PHẬT.
Thế nên mới nói, có được Vô Thượng Trí Tuệ là thành Phật. Người tu các Pháp Phật khác, có thể Giới, Định và có trí tuệ để kết thành quả A LA HÁN nhưng chưa có được Vô Thượng Trí Tuệ thì sự giải thoát đó vẫn chỉ là mộng ảo bởi vẫn ở trong thế giới vô thường, chưa vượt ra ngoài thế giới để tìm về TÍNH PHẬT được.
Vô Thượng Trí Tuệ ở đây là sự thông suốt, thông suốt mọi thứ, ví dụ: Khổ, vui, thế giới, vô thường, Không, Không Không, Hư... mọi thứ và thông suốt nhân quả, Nâng lên Vô Thượng Trí Tuệ để rời bỏ hoàn toàn Nhân quả.
Mấu chốt ở đây là gì? - Là nhân quả.
Thế nên, khi tu tập Diệu Pháp, trí tuệ chúng sinh sẽ dần dần sáng ra, có được sự minh mẫn, sáng suốt, tuệ giác càng lúc càng lớn. Thấy mọi thứ càng rõ ràng bản chất hơn.
Tại sao khi tu tập Diệu Pháp, mọi thứ lại Thấy rõ ràng bản chất hơn?
Bởi vì: Khi tu tập Diệu Pháp. Giới Định trì chú "lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh" luôn luôn làm như vậy thì tức là ta đã và đang bỏ đi các hành (các phản ứng/hành động). Vô hành. Ngay từ lúc bắt đầu tu tập, trì chú câu THẦN CHÚ đó thì niệm đã bắt đầu giảm đi. Niệm giảm đi thì hành giảm đi. Cả niệm cả hành giảm đi thì tức là ta đang không gieo nhân nữa, ta bắt đầu rời xa cái nhân ở thế giới vô thường, do vậy cái quả ở thế giới vô thường bắt đầu ít đi (không sinh ra nữa). Quả ít đi thì nhân lại càng ít đi (nhân sinh ra quả rồi quả lại là nhân của quả khác/ pham trù nhân quả triết học)
Nhân quả ít đi thì đầu óc sẽ càng ít phải suy nghĩ, nó sáng ra, nó lớn lên, nó thanh tịnh lên..... mọi thứ sáng tỏ lên..... chính là Trí Tuệ lớn lên, lớn mãi, và đạt được Vô Thượng Trí Tuệ khi mà không còn cái gì ở trong đầu nữa, chỉ còn Trí Tuệ ở trong đầu, đây chính là Vô Thượng Trí Tuệ.
Trong đầu chúng sinh ở thế giới vô thường chứa đủ các thứ, nào là yêu ghét hận thù, nào là tham sân si sầu, nào là sở đắc, sở cầu, nào là tri thức học vấn..... vậy nó còn bao chỗ cho trí tuệ? - Vậy nên trí tuệ ở trong đầu rất nhỏ bé là vậy, mới gọi là sự u mê là vậy? Khi vất hết các thứ kia đi rồi, trong đầu chỉ có Trí Tuệ thôi thì sao? Thì tất cả đều là của trí tuệ chính là Vô Thượng Trí Tuệ......... lúc này mọi thứ đều thông suốt...
Thế nên mới nói tìm trí tuệ trong u mê, ngu si. Thực tế, chúng sinh, không có ai là ngu si đần độn cả. Ai cũng giống ai, chẳng qua họ không biết/THẤY trí tuệ mà thôi. THẤY để làm gì, thấy để sử dụng. Sử dụng như thế nào? - Chính là để bỏ mọi thứ khác đi, chỉ để Trí tuệ ở lại thôi.
Khi tu tập Diệu Pháp, Trí Tuệ sẽ tăng lên, thì trí tuệ lại phản hồi lại giúp GIỚi, ĐỊNH tăng lên. Nên cái này gọi là VÔ LẬU TUỆ là vậy.
Kính thưa chư vị: Diệu Pháp là Pháp của vạn Pháp Phật nên không xa rời, phủ bỏ bất cứ Pháp Phật nào. Diệu Pháp ôm hết mọi Pháp Phật khác vào lòng. Chính điều này cho thấy sự bao la, nhiệm màu, thường hằng của Diệu Pháp.
Diệu Pháp không khuyên chúng sinh rời xa vô thường/ rời xa thế giới/ xã hội/ quần thể. Bởi sự lánh đời, ở ẩn, thanh tu đó chỉ là ảo mộng tự lừa mình, dối người, càng rơi vào trầm mê. Diệu Pháp đưa con đường cho mọi chúng sinh, ai ai, bất kì ai cũng có thể từ thế giới vô thường/ xã hội/ cuộc sống hàng ngày/... từ nơi này được chân giải thoát. Đây chính là sự nhiệm màu của Diệu Pháp và vì sao Pháp này lại DIỆU đến vậy.
Diệu bởi vì ai cũng tu tập được và tu tập thành KẾT QUẢ PHẬT. Diệu vì ở đâu cũng tu tập được và tu tập thành KẾT QUẢ PHẬT. Diệu vì lúc nào cũng có thể tu tập được và tu tập thành KẾT QUẢ PHẬT.
Ai cũng được tăng thượng mạn thuyết Pháp: Phật Pháp nhiệm màu lắm, sức mạnh vô biên lắm, cứu khổ cứu nạn.... a...b...c.... nhưng khi nói cứu thế nào để tốt nhất thì lại bảo phải thanh tu, phải rời xa sắc giới, phải rời xa hồng trần, phải rời xa xã hội,....v.v... nếu làm được thế thì thành Phật rồi chứ còn gì mà phải tu nữa, đúng không các chư vị?
Như vậy là tôi đã trình bày xong phần III, thuyết chú về việc tu tập Diệu Pháp và sự tinh chú, tinh tấn trong đó. Phần sau tôi sẽ trình bày các nội dung thuyết giải sâu hơn nữa về việc tu tập. Đó là: Trả lời câu hỏi: Có Pháp mà không Lực thì làm sao để chống trọi được với sự quấy nhiễu. Có Phật Lực không? Phật Pháp khi tu tập có tu được ra Phật Lực không? Phật Lực để làm gì? Thần thông có thật không? Tu Phật Pháp có ra Thần thông không? Thần Thông để làm gì? - Nội dung này rất quan trọng bởi trong quá trình quay đầu là bờ thì sẽ có rất nhiều cản trở, nếu chỉ có Pháp mà không có Lực thì làm sao chống trọi được...
Kính xin các quý vị không tin vào Diệu Pháp thì chớ buông lời phỉ báng bởi Phật Pháp là vô biên, minh minh trong cõi huyền huyền - nhân quả sẽ nhãn tiền...
VÔ THƯỜNG CHÚ THUYẾT
Thưa chư vị, hôm nay tôi sẽ thuyết chú sâu hơn về Diệu Pháp - Pháp của các Pháp!
Trước khi nói đến phần thâm sâu tinh chú và tinh tấn, tôi muốn sửa soạn lại một vài ý tứ:
1. Bản Kinh: Diệu Pháp Liên Hoa Kinh/ Pháp Hoa/ Liên hoa Kinh là bản Kinh duy nhất có ghi lại việc Đức Thánh Tôn thuyết truyền Diệu Pháp. Bản Kinh này khẳng định về sự tồn tại của Pháp tướng duy nhất dẫn đến chân thật giải thoát và khẳng định Tính Phật của mỗi chúng sinh, khẳng định mỗi chúng sinh đều có thể Kiến Tính Phật. Pháp này tên là Diệu Pháp, Kinh ghi lại thời điểm Đức Thánh Tôn truyền Pháp này tên là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh.
2. Diệu Pháp dành cho mọi chúng sinh, ai ai cũng có thể tu tập, bất phân xuất gia, tại gia, già trẻ nam nữ, ác thiện, tăng ni kheo la hán... Ai cũng phải tu pháp này thì mới chân giải thoát.
3. Tất nhiên, đối với các vị La Hán, đã tu thành quả La Hán thì chỉ cần nghe Đức Phật thuyết Pháp này là có thể thành Phật. Bởi người chứng được quả La Hán thì đã tinh thông các Pháp Phật khác lắm rồi, đã minh tuệ tất cả những điều khổ, vô thường, vô ngã hết rồi. Nên chỉ cần nghe Diệu Pháp là lập tức đại ngộ có được Vô Thượng Trí Tuệ, lập tức thành Phật.
4. Đối với chúng sinh các loài, thì dù nghe được Diệu Pháp cũng không thể 1 lần thành Phật nhưng sẽ biết được con đường phía trước không phải là con đường cụt, không phải là con đường mộng ảo.
5. Ngoài những người đã chứng được quả A La Hán thì về cơ bản, dù nghe thấy, biết thấy Diệu Pháp cũng khó có thể tin. Bởi Pháp này quá huyền diệu, quá nhiệm màu, quá hết tất cả mọi suy nghĩ và tưởng tượng của chúng sinh. Ai có thể tin, bản thân họ cũng là Phật? Ai có thể tin họ cũng giống như các vị Phật Đà kia? - "Một người nhận mình cũng là Phật - Người có vấn đề về tâm thần" - Đó họ nghĩ như vậy, xã hội nghĩ như vậy - U mê, bất ngộ!
6. Tất nhiên, để tìm về Tính Phật, Kiến Tính Phật thì không thể tự nhiên mà thành, nghĩ vậy mà thành. Cũng không phải niệm niệm "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh" mà thành. Do vậy, phần dưới đây, tôi xin thuyết chú sâu hơn nhằm mở rộng con đường tu tập Diệu Pháp đạt được Kết Quả Phật giải thoát chân thật khỏi khổ đau trong thế giới.
Thuyết Pháp tinh tu
- Chư vị: Niệm niệm "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh" nhưng có ai thấy vừa niệm đã có sự nhiệm màu? - Xin thưa! Không có.
- Chư vị: Niệm niệm " Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh" một thời gian thấy cũng có sự tinh tấn, cũng có chút kết quả nhưng bất chợt, gặp một sự cố ở bên ngoài tác động đến, hay ở bên trong tác động ra, sự cố quá lớn thì niệm sinh ra quá lớn. Lúc này niệm niệm "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh" liệu có còn tác dụng? - Xin thưa! Không còn.
- Chư vị: Vậy phải làm sao?
Diệu Pháp - Đức Thánh Tôn dặn rằng: Hãy mặc lên áo Như Lai, hãy đi vào nhà Như Lai, hãy ngồi xuống Bồ đoàn Như Lai..... Vạn sự đều thông!
- Chư vị: Giải thích sao?
Thuyết chú viết: - Như Lai chính là vị Phật của tương lai. Đầu tiên, các vị phải ghi nhớ điều đó. "Vị Phật của tương lai", điều này ảo diệu lắm, nhiệm màu lắm. Là Thánh ngôn, khi thông tuệ điều này sẽ hiểu tại sao Đức Thánh Tôn lại nói mặc áo Như Lai, vào nhà Như Lai, ngồi xuống chỗ Như Lai... như vậy không phải ai làm được 3 điều này chính là Như Lai sao? Chính là Phật tương lai sao? - Ảo diệu lắm, nhiệm màu lắm!
Thế nên, Như Lai là để chỉ chính chúng sinh, những người nắm được Diệu Pháp, tu tập Diệu Pháp.
- Chư vị: Vậy áo Như Lai là sao?
Thuyết: - Là Đại từ bi
Chư vị: Vậy nhà Như Lai là sao?
Thuyết: - Là sự kiên nhẫn
Chư vị: Vậy bồ đoàn Như Lai là sao?
Thuyết: - Là Vô Thượng Trí Tuệ
- Chư vị: Giải thích sao?
Thuyết chú viết: - "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh" nhưng nếu không có Đại Từ Bi thì ở đời thường làm sao có thể tu tập được?
- "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh" nhưng nếu không có sự kiên nhẫn thì ở đời thường làm sao có thể tu tập lâu dài được?
- "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh" nhưng nếu không có Vô thượng Trí Tuệ thì ở đời thường làm sao chân giải thoát/ thành Phật/ niết bàn được?
- Chư vị: Vậy làm sao để có Đại Từ Bi?
Thuyết chú viết: Hãy liên tục tu tập, luôn luôn tu tập trì chú "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh"
- Chư vị: Giải thích sao?
Thuyết chú viết: Khi bắt đầu tu tập trì chú của Diệu Pháp thì tất cả chúng sinh đều chưa thể có Phật lực gia trì, chưa thể có trí tuệ minh huệ, chưa thể có lòng kiên nhẫn vô kiên bất tồi/vô lậu. Thế nên, lúc ban đầu tu tập, không thể nóng vội, bỏ gần ước xa, không thể nâng lên sở cầu thành Phật.
Lúc đầu, tụng niệm trì chú là để có phương hướng tìm về Bản Tính /Phật tính/bản ngã mà mỗi chúng sinh đã rời xa trong quá trình luân hồi đời đời kiếp kiếp. Là để cảm ứng lấy Phật Tính đang ở bờ phương cõi nào để đưa Phật Tính quay đầu lại (khổ hải vô biên/quay đầu lại là bờ)
Lúc đầu, tụng niệm trì chú thì lòng đại từ bi chính là "Chính niệm" trong câu chú "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh". Chính niệm ở đây là Lành/ thiện/ tự nhiên/ mặc kệ nó. Cái gì đến cũng mang tâm đại từ bi để đón nhận, không mang tâm xua đuổi, không mang tâm khinh ghét, không mang tâm phán xét, không mang tâm xúc động. Cái gì đến, cứ để nó đến, không quan tâm. Nếu xuất hiện những niệm mang tính chất phản ứng với cái đến hãy chuyên tâm trì chú "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh"
Lấy lòng đại từ bi để đi vào tu tập diệu pháp chính là giữ Giới cho Phật Tính/ bản ngã/ cho mình. Lòng đại từ bi là tiên quyết để tu tập Diệu Pháp, cũng là điều kiện cần để tu tập mọi Pháp Phật khác nhằm có kết quả.
Đại từ bi ở đây là đại từ bi với Bản ngã/Phật tính/ chính mình/ và với chúng sinh và với vạn sự vật sự việc xung quanh. Đại từ bi ở đây là không chấp/ vô chấp. Chấp trước chính là quan tâm đến. Còn vô chấp tức là Đại từ bi. Hãy vô chấp mọi thứ đến với mình, không phân biệt tốt xấu, thiện ác, lành dữ, ít nhiều, bẩn sạch, có hay không. Vô Chấp! - Đại từ bi!
Đại từ bi không phải là tha thứ. Tha thứ là có người làm xấu với ta, ta cảm nhận được, biết được nhưng ta tha thứ, bỏ qua. Còn Đại từ bi ở đây chính là nếu có người làm xấu với ta, ta không nhận thấy ("Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh") tức là tự nhiên, không có. - Tôi có thấy đâu. Chứ nếu thấy, bỏ qua, đó vẫn chưa phải là đại từ bi.
Trì chú: Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh chính là để Đại Từ Bi xuất hiện, kiên cố, lớn lên, lớn mãi, lớn thành Đại Từ Bi... Nên đây là GIỚI. GIỚI là đại từ bi, Đại từ bi chính Giới.
- Chư vị: Vậy làm sao để có lòng kiên nhẫn?
Thuyết chú viêt: Hãy liên tục tu tập, luôn luôn tu tập trì chú "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh"
- Chư vị: Giải thích sao?
Thuyết chú viết: Lúc đầu tu tập Diệu Pháp thì chúng sinh có người sẽ có ít nhiều sự kiên nhẫn, sự kiên nhẫn ở đây đối với cả việc tu tập lẫn các sự việc bên ngoài. Tuy nhiên, khi gặp một tác động quá lớn thì sự kiên nhẫn có thể trở thành quá nhỏ dẫn tới cái gọi là mất sự kiên nhẫn.
Khi bắt đầu tu tập Diệu Pháp, sự kiên nhẫn có thể ít, có thể nhiều nhưng theo thời gian, nếu cứ luôn luôn chấp GIỚI và luôn luôn trì chú "lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh" thì sự kiên nhẫn sẽ lớn dần lên.
Chúng sinh khi tu tập Diệu Pháp, muốn có sự tinh tấn và có kết quả thì phải kiên nhẫn. Lòng kiên nhẫn chính là con đường để Bản ngã/ Phật Tính/ chính mình trở về (khổ hải vô biên, quay đầu lại là bờ thì kiên nhẫn chính là con đường quay lại). Thế nên tu tập Diệu Pháp hay bất cứ Pháp nào trong Pháp Phật đều cần sự kiên nhẫn.
Lòng kiên nhẫn ở đây là gì? - Là sự kiên nhẫn, kiên trì, luôn luôn trì chú "lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh" và sự kiên nhẫn, kiên trì với mọi hoàn cảnh tác động của các sự vật sự việc ở bên ngoài lẫn bên trong tác động vào niệm của chúng sinh/chính mình/ bản ngã.
Sự kiên nhẫn không phải là kiên nhẫn, kiên trì làm một việc gì đó. Sự kiên nhẫn ở đây là KIÊN NHẪN VÔ CHẤP. Vô chấp như ở trên đã nói. Do vậy, kiên nhẫn tức là bất cứ vật việc gì bên trong bên ngoài tác động vào chính mình thì mình cũng phải kiên nhẫn vô chấp. Không thấy. Không thấy gì - Kiên nhẫn.
Trì chú: "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh" chính là để sự kiên nhẫn xuất hiện, lớn lên, lớn lên mãi, trở thành bất động, bất động với mọi sự việc sự vật từ trong lẫn ngoài tác động vào bản ngã/Phật Tính/ chính mình. Lòng kiên nhẫn ở đây chính là ĐỊNH. Định là lòng kiên nhẫn. Kiên nhẫn là bất động là Định. Định rõ con đường quay lại chính là kiên nhẫn. Muốn thế phải luôn luôn trì chú Diệu Pháp.
- Chư vị: Vậy làm sao để có Vô Thượng Trí Tuệ?
Thuyết chú viết: Hãy liên tục tu tập, luôn luôn tu tập trì chú "Lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh"
- Chư vị: Giải thích sao?
Thuyết chú viết: Khi mới bắt đầu tu tập Diệu Pháp thì trí tuệ con người, chúng sinh là hữu hạn, do vậy còn gọi là mê, vô minh. Vô Thượng Trí Tuệ chính là vô lượng tuệ.
Để kiến được Tính Phật, để thành được Đạo thì trí tuệ phải vô lượng, khi trí tuệ vô lượng, mọi thứ thông suốt, ngay lập tức THẤY được giới hạn của thế giới (thế giới đang vô thường nhé). Khi thấy được giới hạn của thế giới thì xé bỏ màng đó vượt ra thế giới tức là vô thường, trở về với thường hằng, trở về với TÍNH PHẬT, trở về với PHẬT, thành PHẬT.
Thế nên mới nói, có được Vô Thượng Trí Tuệ là thành Phật. Người tu các Pháp Phật khác, có thể Giới, Định và có trí tuệ để kết thành quả A LA HÁN nhưng chưa có được Vô Thượng Trí Tuệ thì sự giải thoát đó vẫn chỉ là mộng ảo bởi vẫn ở trong thế giới vô thường, chưa vượt ra ngoài thế giới để tìm về TÍNH PHẬT được.
Vô Thượng Trí Tuệ ở đây là sự thông suốt, thông suốt mọi thứ, ví dụ: Khổ, vui, thế giới, vô thường, Không, Không Không, Hư... mọi thứ và thông suốt nhân quả, Nâng lên Vô Thượng Trí Tuệ để rời bỏ hoàn toàn Nhân quả.
Mấu chốt ở đây là gì? - Là nhân quả.
Thế nên, khi tu tập Diệu Pháp, trí tuệ chúng sinh sẽ dần dần sáng ra, có được sự minh mẫn, sáng suốt, tuệ giác càng lúc càng lớn. Thấy mọi thứ càng rõ ràng bản chất hơn.
Tại sao khi tu tập Diệu Pháp, mọi thứ lại Thấy rõ ràng bản chất hơn?
Bởi vì: Khi tu tập Diệu Pháp. Giới Định trì chú "lấy chính niệm diệt niệm, không để niệm sinh sinh" luôn luôn làm như vậy thì tức là ta đã và đang bỏ đi các hành (các phản ứng/hành động). Vô hành. Ngay từ lúc bắt đầu tu tập, trì chú câu THẦN CHÚ đó thì niệm đã bắt đầu giảm đi. Niệm giảm đi thì hành giảm đi. Cả niệm cả hành giảm đi thì tức là ta đang không gieo nhân nữa, ta bắt đầu rời xa cái nhân ở thế giới vô thường, do vậy cái quả ở thế giới vô thường bắt đầu ít đi (không sinh ra nữa). Quả ít đi thì nhân lại càng ít đi (nhân sinh ra quả rồi quả lại là nhân của quả khác/ pham trù nhân quả triết học)
Nhân quả ít đi thì đầu óc sẽ càng ít phải suy nghĩ, nó sáng ra, nó lớn lên, nó thanh tịnh lên..... mọi thứ sáng tỏ lên..... chính là Trí Tuệ lớn lên, lớn mãi, và đạt được Vô Thượng Trí Tuệ khi mà không còn cái gì ở trong đầu nữa, chỉ còn Trí Tuệ ở trong đầu, đây chính là Vô Thượng Trí Tuệ.
Trong đầu chúng sinh ở thế giới vô thường chứa đủ các thứ, nào là yêu ghét hận thù, nào là tham sân si sầu, nào là sở đắc, sở cầu, nào là tri thức học vấn..... vậy nó còn bao chỗ cho trí tuệ? - Vậy nên trí tuệ ở trong đầu rất nhỏ bé là vậy, mới gọi là sự u mê là vậy? Khi vất hết các thứ kia đi rồi, trong đầu chỉ có Trí Tuệ thôi thì sao? Thì tất cả đều là của trí tuệ chính là Vô Thượng Trí Tuệ......... lúc này mọi thứ đều thông suốt...
Thế nên mới nói tìm trí tuệ trong u mê, ngu si. Thực tế, chúng sinh, không có ai là ngu si đần độn cả. Ai cũng giống ai, chẳng qua họ không biết/THẤY trí tuệ mà thôi. THẤY để làm gì, thấy để sử dụng. Sử dụng như thế nào? - Chính là để bỏ mọi thứ khác đi, chỉ để Trí tuệ ở lại thôi.
Khi tu tập Diệu Pháp, Trí Tuệ sẽ tăng lên, thì trí tuệ lại phản hồi lại giúp GIỚi, ĐỊNH tăng lên. Nên cái này gọi là VÔ LẬU TUỆ là vậy.
Kính thưa chư vị: Diệu Pháp là Pháp của vạn Pháp Phật nên không xa rời, phủ bỏ bất cứ Pháp Phật nào. Diệu Pháp ôm hết mọi Pháp Phật khác vào lòng. Chính điều này cho thấy sự bao la, nhiệm màu, thường hằng của Diệu Pháp.
Diệu Pháp không khuyên chúng sinh rời xa vô thường/ rời xa thế giới/ xã hội/ quần thể. Bởi sự lánh đời, ở ẩn, thanh tu đó chỉ là ảo mộng tự lừa mình, dối người, càng rơi vào trầm mê. Diệu Pháp đưa con đường cho mọi chúng sinh, ai ai, bất kì ai cũng có thể từ thế giới vô thường/ xã hội/ cuộc sống hàng ngày/... từ nơi này được chân giải thoát. Đây chính là sự nhiệm màu của Diệu Pháp và vì sao Pháp này lại DIỆU đến vậy.
Diệu bởi vì ai cũng tu tập được và tu tập thành KẾT QUẢ PHẬT. Diệu vì ở đâu cũng tu tập được và tu tập thành KẾT QUẢ PHẬT. Diệu vì lúc nào cũng có thể tu tập được và tu tập thành KẾT QUẢ PHẬT.
Ai cũng được tăng thượng mạn thuyết Pháp: Phật Pháp nhiệm màu lắm, sức mạnh vô biên lắm, cứu khổ cứu nạn.... a...b...c.... nhưng khi nói cứu thế nào để tốt nhất thì lại bảo phải thanh tu, phải rời xa sắc giới, phải rời xa hồng trần, phải rời xa xã hội,....v.v... nếu làm được thế thì thành Phật rồi chứ còn gì mà phải tu nữa, đúng không các chư vị?
Như vậy là tôi đã trình bày xong phần III, thuyết chú về việc tu tập Diệu Pháp và sự tinh chú, tinh tấn trong đó. Phần sau tôi sẽ trình bày các nội dung thuyết giải sâu hơn nữa về việc tu tập. Đó là: Trả lời câu hỏi: Có Pháp mà không Lực thì làm sao để chống trọi được với sự quấy nhiễu. Có Phật Lực không? Phật Pháp khi tu tập có tu được ra Phật Lực không? Phật Lực để làm gì? Thần thông có thật không? Tu Phật Pháp có ra Thần thông không? Thần Thông để làm gì? - Nội dung này rất quan trọng bởi trong quá trình quay đầu là bờ thì sẽ có rất nhiều cản trở, nếu chỉ có Pháp mà không có Lực thì làm sao chống trọi được...
Kính xin các quý vị không tin vào Diệu Pháp thì chớ buông lời phỉ báng bởi Phật Pháp là vô biên, minh minh trong cõi huyền huyền - nhân quả sẽ nhãn tiền...
VÔ THƯỜNG CHÚ THUYẾT
-
Andre
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 1701
- Tham gia: 02:00, 29/05/19
TL: DIỆU PHÁP
Hay quá, quá xuất sắc, vô niệm diệt niệm. Niệm niệm sinh niệm.
-
Andre
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 1701
- Tham gia: 02:00, 29/05/19
TL: DIỆU PHÁP
Mà trước còn thấy bác bảo không biết ngoài ĐẠO là gì??? Mà sao nay biết rõ câu trả lời thế???
Mấy điều bác nói thật ra cũng không khó hiểu lắm mà làm được thì cả một vấn đề. He he. Mới đọc sơ sơ à, bao giờ tui đọc kĩ thử xem bản thân có đủ khả năng thực hiện không. Nguyên chữ " niệm " thôi mà làm được thì đúng quá tốt ấy chứ.
Mấy điều bác nói thật ra cũng không khó hiểu lắm mà làm được thì cả một vấn đề. He he. Mới đọc sơ sơ à, bao giờ tui đọc kĩ thử xem bản thân có đủ khả năng thực hiện không. Nguyên chữ " niệm " thôi mà làm được thì đúng quá tốt ấy chứ.
-
vothuong236
- Tam đẳng

- Bài viết: 696
- Tham gia: 01:25, 13/02/12
TL: DIỆU PHÁP
Andre đã viết: 23:12, 26/07/19 Mà trước còn thấy bác bảo không biết ngoài ĐẠO là gì??? Mà sao nay biết rõ câu trả lời thế???
Mấy điều bác nói thật ra cũng không khó hiểu lắm mà làm được thì cả một vấn đề. He he. Mới đọc sơ sơ à, bao giờ tui đọc kĩ thử xem bản thân có đủ khả năng thực hiện không. Nguyên chữ " niệm " thôi mà làm được thì đúng quá tốt ấy chứ.![]()
Cô vẫn chưa tin Diệu Pháp à?
Tôi đúng là trước đó chưa Thuyết Diệu Pháp thì không không thể hiểu được, nói được, tu tập được.
Nhưng qua 1 đêm, được Ngộ Nhập Pháp truyền của Đức Thánh Tôn. Khoác lên mình Áo Như Lai, Vào Nhà Như Lai, Ngồi xuống chỗ Như Lai, bèn mọi sự đều thông. Viết đến đâu thông đến đấy, chỗ nào định nói mà không hiểu tự nhiên được Pháp truyền nên nói ra, viết ra đầy đủ..... Cái này càng thấy sự nhiệm màu của Phật Pháp.
Cô chỉ cần tin Diệu Pháp thôi. Tin mình cũng là Phật thôi là liền được thọ ký thành Phật.
Cô lúc đó, muốn thuyết Pháp Hoa, chỉ cần thuyết ra 1 từ khỏi mồm là trôi chảy tất cả, mọi sự đều thông, cứ thế mà. Nhưng nhớ khi mà còn thiếu sự tự tin để Pháp thuyết thì cần phải khoác áo Như Lai, vào nhà Như lai, ngồi xuống chỗ Như Lai, lúc đó, vạn sự đều thông.
Còn nếu vẫn nghi ngờ, không biết mình làm được không, không biết có tu tập Pháp Hoa được không, như vậy là vẫn còn Không Không. Chưa tin vào Phật, chưa tin vào mình.
-
Andre
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 1701
- Tham gia: 02:00, 29/05/19
TL: DIỆU PHÁP
Tui không tin mình có thể làm được đấy. Tại tui thấy tui còn nhiều thiếu sót lắm, hiểu biết thì nông cạn lắm. Nên tui thấy bảo bác làm được thì có thể chứ tui một chút căn cơ còn không có, nói thì dễ chứ bác mãi mới NGỘ còn gì.vothuong236 đã viết: 23:56, 26/07/19Andre đã viết: 23:12, 26/07/19 Mà trước còn thấy bác bảo không biết ngoài ĐẠO là gì??? Mà sao nay biết rõ câu trả lời thế???
Mấy điều bác nói thật ra cũng không khó hiểu lắm mà làm được thì cả một vấn đề. He he. Mới đọc sơ sơ à, bao giờ tui đọc kĩ thử xem bản thân có đủ khả năng thực hiện không. Nguyên chữ " niệm " thôi mà làm được thì đúng quá tốt ấy chứ.![]()
Cô vẫn chưa tin Diệu Pháp à?
Tôi đúng là trước đó chưa Thuyết Diệu Pháp thì không không thể hiểu được, nói được, tu tập được.
Nhưng qua 1 đêm, được Ngộ Nhập Pháp truyền của Đức Thánh Tôn. Khoác lên mình Áo Như Lai, Vào Nhà Như Lai, Ngồi xuống chỗ Như Lai, bèn mọi sự đều thông. Viết đến đâu thông đến đấy, chỗ nào định nói mà không hiểu tự nhiên được Pháp truyền nên nói ra, viết ra đầy đủ..... Cái này càng thấy sự nhiệm màu của Phật Pháp.
Cô chỉ cần tin Diệu Pháp thôi. Tin mình cũng là Phật thôi là liền được thọ ký thành Phật.
Cô lúc đó, muốn thuyết Pháp Hoa, chỉ cần thuyết ra 1 từ khỏi mồm là trôi chảy tất cả, mọi sự đều thông, cứ thế mà. Nhưng nhớ khi mà còn thiếu sự tự tin để Pháp thuyết thì cần phải khoác áo Như Lai, vào nhà Như lai, ngồi xuống chỗ Như Lai, lúc đó, vạn sự đều thông.
Còn nếu vẫn nghi ngờ, không biết mình làm được không, không biết có tu tập Pháp Hoa được không, như vậy là vẫn còn Không Không. Chưa tin vào Phật, chưa tin vào mình.
-
vothuong236
- Tam đẳng

- Bài viết: 696
- Tham gia: 01:25, 13/02/12
TL: DIỆU PHÁP
Andre đã viết: 23:59, 26/07/19
Tui không tin mình có thể làm được đấy. Tại tui thấy tui còn nhiều thiếu sót lắm, hiểu biết thì nông cạn lắm. Nên tui thấy bảo bác làm được thì có thể chứ tui một chút căn cơ còn không có, nói thì dễ chứ bác mãi mới NGỘ còn gì.
Không nên chấp mê bất ngộ.
Cô biết câu: "Kiến Tính Thành Phật" chứ? - Tức là chỉ cần khai Giác, nhận ra TÍNH của bản thân mình cũng là TÍNH PHẬT thì lập tức cô cũng được thọ ký thành Phật. PHẬT PHÁP vô biên. Lúc đó cô sẽ hiểu DIỆU PHÁP.
-
Andre
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 1701
- Tham gia: 02:00, 29/05/19
TL: DIỆU PHÁP
OK bác, dù sao trước sau gì cũng phải tu thôi. Trước sau gì cũng tới, có muốn tránh cũng không thoát đâu. Vì có chấp mê nên mới cần NGỘ đấy. Tôi đang cần cơ duyên đó. Tính tui thì lười lắm nên mà không có dòng đời xô đẩy thì chắc cũng chẳng có mặt ở đây nghe Pháp đâu. Cái gì đến ắt sẽ đến thôi, không vội. Mà còn phần nào nữa không vậy??? Tôi đoán là còn khoảng 2-3 phần nữa mới đủ.vothuong236 đã viết: 00:06, 27/07/19Andre đã viết: 23:59, 26/07/19
Tui không tin mình có thể làm được đấy. Tại tui thấy tui còn nhiều thiếu sót lắm, hiểu biết thì nông cạn lắm. Nên tui thấy bảo bác làm được thì có thể chứ tui một chút căn cơ còn không có, nói thì dễ chứ bác mãi mới NGỘ còn gì.
Không nên chấp mê bất ngộ.
Cô biết câu: "Kiến Tính Thành Phật" chứ? - Tức là chỉ cần khai Giác, nhận ra TÍNH của bản thân mình cũng là TÍNH PHẬT thì lập tức cô cũng được thọ ký thành Phật. PHẬT PHÁP vô biên. Lúc đó cô sẽ hiểu DIỆU PHÁP.
-
vothuong236
- Tam đẳng

- Bài viết: 696
- Tham gia: 01:25, 13/02/12
TL: DIỆU PHÁP
Andre đã viết: 00:12, 27/07/19
OK bác, dù sao trước sau gì cũng phải tu thôi. Trước sau gì cũng tới, có muốn tránh cũng không thoát đâu. Vì có chấp mê nên mới cần NGỘ đấy. Tôi đang cần cơ duyên đó. Tính tui thì lười lắm nên mà không có dòng đời xô đẩy thì chắc cũng chẳng có mặt ở đây nghe Pháp đâu. Cái gì đến ắt sẽ đến thôi, không vội. Mà còn phần nào nữa không vậy??? Tôi đoán là còn khoảng 2-3 phần nữa mới đủ.
Vẫn còn. Sẽ tường tận hết mọi nghi ngờ cho những người đang đọc Diệu Pháp này.
Diệu dụng, nhiệm màu... tất cả sẽ sáng tỏ.
Đang trực tuyến
Đang xem chuyên mục này: 999, Ahrefs [Bot], Apple [Bot], BHCuong, Bạch Vân Cư Sĩ, caluudadi25, Claude [Bot], datpt98, Điều hành 8, Đẹp đẹp đẹp, Facebook [Bot], Google Adsense [Bot], hacvt9a, hiro12051987, hoavang, IAS IE, IAS OR, laokim0088, Meta ext [Bot], Meta web [Bot], minhgbc, phucthienloc, Phẩm Hạnh, sheep1122, sleep_dragon, thaonhibui, tieungoc102, TikTok [Spider], Vickvalentine, Yandex [Bot], Yangying909 và 803 khách.