Đức năng thắng số?

Xem, hỏi đáp, luận giải về tử vi
Nội qui chuyên mục
Đây là chuyên mục dành cho việc xem lá số tử vi. Các bài mang tính trao đổi học thuật xin vui lòng đăng trong mục Kiến thức tử vi.
Không được đính kèm lá số của trang web khác. Các bài không liên quan sẽ bị chuyển khỏi chuyên mục này.
Chia sẻ
thiencoxd
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1048
Tham gia: 20:53, 16/12/11

Đức năng thắng số?

Gửi bài gửi bởi thiencoxd »

Số mệnh là số mệnh hay “Đức năng thắng số”?

Số mệnh con người do đâu? Nghiệp và Nhân quả. Cải số mệnh được không? Muốn cải số mệnh phải làm sao? Vài trường hợp cải được và không cải được.

Huyền Linh


Người xưa bảo: “Nhất ẩm, nhất trác, giai do tiền điện” (Ăn uống, cử động đều đã định trước), “Mưu sự tại nhơn, thành sự tại Thiên” (Mưu tính nơi người mà thành bại do Trời).
Người xưa lại bảo “Đức năng thắng số” (Phúc đức có thể thắng số mệnh) “Nhân lực thắng Thiên” (Khả năng con người có thể cải số Trời)…
Hai lập luận trên đây tương đối mâu thuẫn, mà từ lâu chúng ta còn phân vân, không rõ luận thuyết nào đúng hơn, vì mỗi luận thuyết đều có những sự tích chứng minh.
Như bảo số mệnh do Trời thì có những người số chết đói, chết đuối dù có né tránh, rốt cuộc vẫn chết đói, chết đuối.
Còn bảo Đức năng thắng số thì cũng có những trường hợp đáng lẽ phải chết đói, chết yểu, mà nhờ biết tu tỉnh, làm nhiều âm đức, được thoát chết, sống lâu, lại khá giả chẳng hạn.
Vậy luận thuyết nào đúng hơn? Chúng tôi xin có đôi lời góp ý cùng quý bạn.

Số mệnh con người, do đâu?
Con người được hình thành bởi hai phần chính: thể xác do cha mẹ sinh ra và linh hồn tiếp nhận nơi Tạo hóa, và linh hồn là Tiểu Linh-Quang trong khối Đại Linh Quang của Tạo hóa. Vậy con người là một Tiểu Thiên địa, hay một Tiểu Vũ trụ.

Nhưng phải chăng Tạo hóa bất công, khiến con người có kẻ giàu sang, sung sướng, người lại nghèo hèn, khốn khổ, dù cùng sinh ra trên một dãy đất, trong một gia đình, hoặc cùng một năm, tháng, ngày, giờ với nhau?
-Chắc hẳn không phải thế.
Các tôn giáo và hầu hết loài người đều tin rằng có Thượng Đế, Chúa tể Càn Khôn, cầm quyền thưởng phạt muôn loài.

Nhưng tôi trộm nghĩ, tuy Thượng Đế là đấng Chí tôn, quyền năng vô tận, nhưng cạnh Ngài còn có một cái “Luật” mà Lão Tử tạm dùng chữ “ĐẠO” để gọi, đó là luật Trời, hay Thiên lý, mà Thượng Đế tùng theo, để điều hành vũ trụ (cũng như một Quốc gia, tuy vị Nguyên thủ là trên cao nhưng vẫn phải tuân hành Hiến pháp).
Do đó, sở dĩ có kẻ sướng người khổ là do số mệnh an bài, nhưng số mệnh chẳng phải do “ông Trời” hay các vị Thánh Thần sắp đặt, cho người này giàu, bắt người kia nghèo mà là do “NGHIỆP” (Karma) của chính con người, tức luật Nhân quả.

Nghiệp và luật Nhân Quả
Không ai có thể biết được con người có từ bao giờ, trải qua bao nhiêu kiếp, nhưng theo thuyết luân hồi thì hẳn đã quá nhiều!
Mỗi kiếp, con người đã làm bao nhiêu điều lành lẫn điều dữ, phước có, tội có năm này tháng nọ chất chồng, có khi chưa chịu thưởng phạt đúng mức đã mãn số, lại luân hồi kiếp mới để “trả đũa” cũ và lại tạo thêm “Nhân” mới.

Bởi thế mà trong lá số Tử Vi của một người, có những sao tốt, sao xấu lẫn lộn, cung này cung nọ liên quan chằng chịt nhau, biểu hiện cái “Nghiệp” của người ấy, trông cây gì được quả nấy, như bóng với hình, mà trong đó Vận hạn là con đường bắt buộc cá nhân phải trải qua để trả Nghiệp cũ (thưởng lẫn phạt), đồng thời tạo Nghiệp mới.

Nghiệp có lành có dữ thì Vận số có tốt có xấu. Vận tốt thì được thụ hưởng giàu sang sung sướng, vận xấu thì chịu nghèo hèn, hoạn nạn nhưng cán cân nghiệp lành, nghiệp dữ không đều, thì vận số cũng không đều nhau, do đó Họa và Phúc lẫn lộn hoặc nhiều hoặc ít, chẳng hạn tuy giàu sang mà đau ốm, vợ chồng căn đắng, con cái hư hỏng, hay ngược lại tuy nghèo hèn mà ít nạn tai, vợ chồng hòa thuận, con cháu hiếu thảo….

Cải số mệnh được không?
Như đa trình bày ở trên, thì số mệnh đã an bài do nghiệp của nhiều tiền kiếp, hễ vay ắt phải trả, cho nên số mệnh con người như đã được lồng vào một cái khung và vận hạn ví như một con đường duy nhất, bắt buộc con người phải đi qua, một lộ trình vạch sẵn.

Bởi vậy trên nguyên tắc, số mệnh là số mệnh, khó mà cải đổi được cái căn bản, tức cái khung của số mệnh, hay là những “nghiệp lớn”.
Nghĩa là nghiệp cũ phải trả, dù thụ hưởng hay bị hình phạt. Do đó chúng ta thấy có những người hung ác mà vẫn giàu sang, phè phỡn, còn người hiền lương, tu niệm, làm phúc lại cứ gặp hoạn nạn, là vì nghiệp cũ chưa “thanh toán” xong, mà “Nhân” mới chưa kịp có “hiệu lực”.

Tuy nhiên, con người có thể cải được một phần số mệnh vận hạn của mình, nhưng rất ít, hơn nữa, chẳng phải ai cũng có khả năng hoán cải, dù có cải cũng chỉ cải được vận số nhỏ, tức các nghiệp nhỏ thôi. Cũng ví như “cái khung” vẫn y nguyên, mà “cái cảnh” có thể thêm hoặc bớt. Đó là tạo “nhân” (tốt xấu) mới để bù đắp “quả” (xấu tốt) cũ.

Tôi xin đơn cử vài ví dụ, nếu dễ cải được số thì thuở xưa Văn Vương đã chẳng bị giam cầm 7 năm nơi Dũ Lý, Khương Tử Nha chẳng đợi đến 70 tuổi mới đặng công hầu. Tôn Tẫn khỏi bị chặt chưn và bảo vệ nước Yên khỏi bị Tần thôn tính. Khổng Minh thống nhất được giang sơn thời Hớn mạt. Hạng Võ và Hàn Tín đều anh hùng. Hạn xấu đến, đều chết thảm; lại như Lương Võ Đế cất 72 ngôi chùa mong cải số, rốt cuộc vẫn chết đói ở Đới Thành.
Ngay thế kỷ hiện tại, những nhân vật muốn xoay thời tạo thế, đem tài trí đấu tranh, mà không thuận với cơ trời rồi ra vẫn thất bại.

Chính tôi, sau gần 20 năm xem tướng số đã được chứng kiến nhiều trường hợp, có những người, sau khi đoán là vận hạn xấu, tôi khuyên nên an phận, chớ mưu sự to, liều lĩnh mà thất bại hoặc gặp nạn. Mặc dù tin số mạng song họ tự tin, cố đem tài sức, mưu trí (xin lưu ý là tài sức chứ không phải Đức) chống lại số mệnh, mà càng hoạt động to lớn, càng sa lầy hơn.

Lại có những trường hợp, khách xem về các sự việc bình thường hằng ngày, để biết thành bại, đắc thất, sau khi gieo quẻ Dịch, quẻ ứng xấu, tôi bảo thẳng với khách là không hy vọng gì… khách buồn bã ra về, dùng mọi phương tiện, mưu mẹo, kể cả tiền bạc, cố xoay sở, nhưng rồi vẫn không kết quả, (vì hoàn cảnh không thuận lợi, được cái này hỏng cái kia, như định mệnh khiến xui như vậy) rốt lại số vẫn là số!

Cải số bằng cách nào?
Theo thiển ý riêng tôi thì có thể tạm chia thành 2 phương thức: “tiêu cực” và “tích cực”
-Về “tiêu cực” thì tương đối đơn giản hơn, có nghĩa ăn ở và hành động thuận theo số mệnh và Thiên Lý. Không gieo gió thì khỏi gặt bão. Khi gặp vận tốt thì nương đó tiến lên để thành đạt. Lúc gặp vận xấu thì chớ liều lĩnh, làm bạo, thấy hao tài thì chớ cho vay mượn, thấy đau ốm thì gìn giữ sức khỏe, thấy nạn tai thì tránh xe cộ, sông nước, thấy thị phi quan sự thì nên nhẫn nhịn, tránh phạm pháp…Tuy đến Năm, Tháng, Ngày, Giờ đó, vẫn bị hạn, song có thể nhẹ bớt ít nhiều.

Như có một tuổi Tân Mùi, thường nhờ tôi đoán số, đầu tháng 4 năm rồi, tôi có xem cho ông và đoán rằng khoảng giữa tháng ông có tai nạn nhẹ, độ hơn tuần lễ sau, ông đến nhà tôi với mấy vết băng ở mặt và tay chân. Hỏi ra mới biết ông vừa ngộ nạn vì xem Lam lật, bị xây xát cả người.

Ông nhờ tôi xem tiếp coi còn xui rủi nữa không? Tôi gieo quẻ Dịch, lần này quẻ ứng bổn mạng cũng xấu, e còn tai nạn nữa. Ông nhờ tôi đoán kỹ xem ứng vào ngày x tháng x…sau đó ít lâu ông lại đến, khen tôi đoán rất đúng và thuật rằng: “Chính cái ngày ấy, ông cố ở nhà suốt ngày, không ra khỏi cửa, 8 giờ tối ông giăng mùng đọc báo, kể như yên ổn. Nhưng đến 10 giờ đêm, trước khi ngủ, ông xuống nhà sau đi tiểu, bất ngờ trợt chân ngã té nằm sóng sượt bất tỉnh dưới đất, may người nhà hay kip đỡ lên xoa bóp, mấy phút sau mới tỉnh.

Ông kết luận “tưởng ở nhà yên thân, té ra cũng bị! Nhưng may là ở trong nhà chỉ bị xoàng, chứ nếu ngoài đường sá, chắc nặng hơn, chưa biết tới đâu”. Còn nhiều trường hợp tương tự, kể ra e chán ngấy.

-Về phương diện “tích cực” phức tạp hơn, nhưng tựu trung là cố gắng làm nhiều việc “Âm đức” để hóa giải các nghiệp nặng. Nhưng phải thật thành tâm, đầy thiện ý, hành động một cách tự nhiên theo lương tâm không tính không vụ lợi, không cầu danh, thì việc làm tuy nhỏ mà có khi Âm đức lại to.

Chớ không phải ỷ có nhiều tiền, vung tiền của phi nghĩa ra, gọi là bố thí, làm phước, để được khen ngợi, ca tụng, hoặc giả làm lấy có, lấy lệ, cúng chùa, lễ Phật, giải sao hạn…tuy là những việc làm có tánh cách từ thiện, cũng hay, cũng là những “Nhân” lành, song chưa thể gọi là “Âm đức” được. Vì Tạo hóa chí công vô tư, hẳn không vì nhiều tiền mà cho nhiều phúc, còn ít tiền lại cho ít phúc hay sao?

Tôi xin đơn cử vài việc làm có tánh cách Âm đức. Như thấy vợ chồng người ta xích mích, định lìa bỏ nhau, mình cố công khuyên bảo, trợ giúp cho họ hòa hiệp, sống chung lại; Thấy người chết đuối, mình chẳng ngại nguy hiểm, cứu vớt người ta sống lại; Thấy người nguy ngặt, động lòng trắc ẩn, mình tận tâm giúp đỡ, có bao nhiêu giúp bấy nhiêu, mà không nghĩ đến sự đền bồi, hay được người ca tụng…như thế mới gọi là “Âm đức”, có tác động mạnh đến “Nghiệp”, cảm động lòng trời, mới có ảnh hưởng ngay vào số mệnh và vận hạn (Như tích ông Lê Bùi Độ đời Đường trả đai ngọc cho người, chuộc mạng cha, chẳng hạn).

Một vài phương thức khác

-Nhờ Đức tin và lòng thành, tức những người tiền căn, hiện kiếp có sự liên quan, giao cảm với cõi Trung giới hay cõi Âm, nay vận hạn tuy xấu, gặp hoạn nạn, nhưng ăn ở hiền lương, ngay thật, lại có đức tín và lòng thành khắc được Thánh Thần và các vong linh quá vãng phù trợ, thấy dữ hóa lành.
-Mồ mả tổ tiên, phúc đức hay tội lỗi của ông bà cha mẹ cũng ảnh hưởng rất nhiều đến vận số con người. Ví dụ: vận hạn đang xấu, có ông cha quá vãng mà an táng nơi đất kết phát thì có ảnh hưởng tốt. Hoặc biết con cái số phải long đong mà cha mẹ biết làm phúc chứa đức thì con cái được nhờ, sớm thì hiện tại, chậm thì tương lai.
-Ngoài ra, vấn đề chỗ ở, nhà cửa, bếp núc cũng có ảnh hưởng một phần vào vận số con người. Chẳng hạn như số mệnh đã tốt mà chỗ ở được vùng đất tốt, nhà cửa bếp núc day đúng phương hướng với mạng, thì sự tốt tăng thêm. Nếu vận hạn xấu mà dời chỗ ở cho hạp phong thổ, nhà, bếp day hướng tốt hạp với cung Mạng của mình thì cũng đỡ được khá nhiều.

Để tạm kết luận bài này, tôi xin thưa cùng quý bạn rằng: Chúng ta nằm trong “quỹ đạo” của Nghiệp, chi phối bởi số mệnh, cho nên số - mệnh vẫn là số mệnh. Chúng ta tìm hiểu số mệnh để ăn ở, hành động hợp với số mệnh hay Thiên lý, để lánh dữ tìm lành.
Chúng ta đừng tự phụ bảo rằng cải được số mệnh bằng tài sắc và mưu trí, đã vô ích mà còn nặng nghiệp hơn đấy!

Nếu chúng ta có một định số kém sáng sủa, chúng ta cũng chớ quá bi quan, phó mặc Hóa công, tới đau hay đó, rồi cái gì cũng Số, cái gì cũng Mệnh! Không làm gì cả, cũng vô ích. Mà chúng ta phải cố công bồi tu Âm đức để hóa giải Nghiệp cũ (tùy theo cán cân Đức và Số).
Ví dụ phúc đức tạo ra chưa đủ đền bù Nghiệp cũ quá nặng, chúng ta có thể hãnh diện rằng đã giep được “Nhân” lành, mà khi Nghiệp cũ trả xong chắc chăn “Quả” lành sẽ đến.

Cũng xin lưu ý quý bạn là chính ta mới có thể tự cải số chung ta mà thôi. Ngoài ta ra không ai cải số giùm ta được, kể cả các đấng vô hình.
Vậy quý bạn hãy suy ngẫm kỹ về cúng kiến, lễ bái, cầu đồng cốt hay dùng bùa phép. Có dịp, tôi xin trở lại với những đề tài mới
KHHB số 74C2

Hình đại diện của thành viên
tieuhodo_hnue
Nhị đẳng
Nhị đẳng
Bài viết: 362
Tham gia: 23:14, 12/07/12

TL: Đức năng thắng số?

Gửi bài gửi bởi tieuhodo_hnue »

Tôi nghĩ rằng hạnh phúc lớn nhất của con người là hạnh phúc trong tâm hồn. Nếu bạn làm một việc tốt, dù nhỏ bé, tự nhiên con người bạn sẽ có một cảm giác hạnh phúc, vui sướng, bạn sẽ cảm thấy cuộc đời của bạn thật là đáng giá. Ngược lại, nếu nhìn thấy một hoàn cảnh cần giúp đỡ mà bạn làm ngơ, tâm của bạn sẽ không được tĩnh, bạn sẽ day dứt về hành động của mình, từ đó sinh ra đau khổ. Trong cuộc đời, chẳng có ai chỉ làm việc tốt, cũng không có ai chỉ làm việc xấu. Điều cốt yếu là bản thân ta biết xấu hổ khi làm việc xấu, từ đó lánh xa cái ác, tiếp tục tạo ra những điều thiện, tâm hồn của bạn sẽ hoàn toàn trong sáng, bạn sẽ có được niềm hạnh phúc thực sự mà không cần là một người giàu có, không cần là người có chức tước. Chính vì vậy tôi tin rằng: Đức năng thắng số.

thiencoxd
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1048
Tham gia: 20:53, 16/12/11

TL: Đức năng thắng số?

Gửi bài gửi bởi thiencoxd »

MỖI ĐỜI NGƯỜI MỖI NHÂN QUẢ

Vòng Tràng Sinh đã kín đáo giảng giải đời người không phải là một đường thẳng đi từ sinh đến tuyệt là hết. Còn hai giai đoạn Thai và Dưỡng nối liền Tuyệt với Sinh thành một vòng kín quay vòng luân lưu vô hạn. Thời gian biến dịch hết thịnh phải suy, suy tàn lại kéo màn hưng thịnh. Kiếp nhân sinh do 2 vòng Thiên Can (Lộc Tồn) và Địa Chi (Thái Tuế) đúc nắn nhưng không thể không có bản ngã là mình gây nghiệp quả. Một chén cơm ngon không thể không có công bằng người nấu chín. Người vô học không thể cứ ngồi chơi rồi đương nhiên thành Bác Học.
Vòng Tràng Sinh do cục diện đời đương số phát xuất, từ kẻ thất phu đến bậc tuyệt luân cùng chung hưởng sự khác biệt tuỳ theo hành động của cá nhân.
Hai chữ Tài Thọ do Mệnh và Thân điều động là tất cả sự hoán cải bù trừ nhân quả. Lý đương nhiên Thân có làm ra Thọ (nhân hậu) thì định mệnh mới có đủ khả năng quyền biến (Thiên tài có nghĩa là năng lực tuyệt vời) tạo những gì tốt đẹp đền đáp. Đó là trường hợp Thái Tuế. Trái lại khi Không Kiếp hãm địa xuất phát chữ Thọ thì Tài kia cũng sẵn sàng đem lại kết quả hình thức tranh vẽ mà thôi, tuỳ theo cá tính thành tâm tín thực hay thủ đoạn gian manh.
Thế cuộc luân lưu bằng 12 địa chi từ Tí đến Hợi, người đời nhập thể ở khoảng thời gian nào thì thấy cái căn bản của mình phải mang nặng ngay ở phần việc nào như:
1- Sinh năm Tí thì chính bản thân mình là điều can hệ nhất (Tài ở Mệnh)
2- Sinh năm Sửu thì phải làm sao với đấng sinh thành (Tài ở Phụ)
3- Sinh năm Dần thì căn quả chịu ảnh hưởng nơi dòng họ (Tài ở Phúc)
4- Sinh năm Mão thì căn quả chịu ảnh hưởng nơi sự nghiệp (tài ở Điền)
5- Sinh năm Thìn thì căn quả chịu ảnh hưởng với công việc làm (Tài ở Quan)
6- Sinh năm Tỵ thì căn quả chịu ảnh hưởng với người lui tới cửa sau (Tài ở Nô)
7- Sinh năm Ngọ thì căn quả chịu ảnh hưởng ngoại nhân (Tài ở Di)
8- Sinh năm Mùi thì căn quả chịu ảnh hưởng những hoạn nạn (Tài ở Ách)
9- Sinh năm Thân thì căn quả chịu ảnh hưởng tiền của thâu hoạch (Tài ở Tài)
10- Sinh năm Dậu thì căn quả chịu ảnh hưởng con cháu (Tài ở Tử)
11- Sinh năm Tuất thì căn quả chịu ảnh hưởng vợ chồng (Tài ở Phối)
12- Sinh năm Hợi thì căn quả chịu ảnh hưởng anh em (Tài ở Bào)
Chữ Thọ tuỳ theo Thân sống ở 6 nơi: Mệnh, Phúc, Quan, Di, Tài và Phối hướng mà đi. Người nào tuổi dương thì luôn luôn Thọ phải ở những cung được coi là cương cung, vì cùng thế dương hay âm với cung Mệnh, tức là 6 cung Mệnh, Phúc, Quan, Di Tài và Phối. Còn người âm Thọ thường xuyên ở cung nhược (1) cung tức là cung khác biệt âm dương với cung mệnh, nghĩa là 6 cung: Phụ, Điền, Nô, Ách, Tử, Bào. Tất cả trên đây cho thấy luật âm dương rất thận trọng rành mạch phân minh.
Hai người cùng tuổi Mão:
a- Ất Mão sanh ngày 23 tháng 10 giờ Thân
b- Tân Mão sanh ngày 14 tháng 10 giờ Hợi
Biết rằng cả hai người đều nặng căn quả ở cung Điền (sự nghiệp gồm vật chất và tinh thần). Hai người cùng bị Không Kiếp nhập Mệnh và Thân. Sự khác biệt nhau là một người Mệnh Thân Thái Tuế, người kia Mệnh Thiếu Dương, Thân Thiếu Âm. Sự khác biệt này cho biết đâu là thành thực tín nghĩa của Thái Tuế. Không Kiếp chỉ hành hạ người không được đắc ý mà thôi. Còn người Thiếu Dương Không Kiếp được bồi đắp thêm tả Hữu ở Phụ Mẫu nhị hợp dồn sang, diễn tả một kiếp nhân sinh sáng láng hơn người mà thủ đoạn cũng không chịu nhường ai cả (Tả Hữu Không Kiếp).
Người Thái Tuế mang chữ Thọ từ Quan đến Ách, đương nhiên là Ách sẽ chẳng đến nỗi nào đáng ngại. Người Thiếu Dương mang chữ Thọ từ Phối đến Phụ. Hỏi rằng có thực bụng tâm thành hay không? Hay chỉ là một thủ đoạn trá hình. Tất nhiên cung Điền của hai người do chữ Tài hoán cải khác biệt muôn vạn dặm đường.
Bánh xe Tràng sinh xoay chuyển đồng nhịp điệu với Tài Thọ luân lưu làm cho lý số học ngoài cái ưu điểm sở trường là thấu rõ tư thế cá nhân trong xã hội, còn bao gồm một triết lý cao sâu cho hết thảy mọi người phân biệt được đâu là đường đi quang minh êm đẹp, đâu là bước ngõ tối chông gai, tự mình nên sáng suốt mà rong ruổi.
(1) 12 cung số không thể coi cung nào là cường hay nhược. Mỗi cung đều có những quan hệ thiết thực với Mệnh trên khía cạnh riêng biệt, như Phụ Tử Điền Ách đâu có thể coi nhẹ đồng cân. Từ lúc mới ra đời phải có cha, khi về già có con, sự nghiệp tài sản với tai nạn đâu có phải là vấn đề bỏ qua ít ảnh hưởng đến cuộc sống bản thân.

thiencoxd
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1048
Tham gia: 20:53, 16/12/11

TL: Đức năng thắng số?

Gửi bài gửi bởi thiencoxd »

THẬT KHÉO HAI CHỮ TÀI THỌ

Sau khi đọc truyện Kiều, ai học lý số cũng phải công nhận tiên hiền Nguyễn Du là một nhà đại danh lý số. Cụ đã khéo diễn tả những nhân vật trong sách như một bản lập thành tử vi kiệt tác:
Làn thu thuỷ nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.
là hình bóng của Đồng Âm cư Tí đắc Hồng Đào, oan nghiệt bị bồi thêm Hoá Kỵ. Sắc đẹp cô Kiều đến hoa phải thua thắm, liễu cũng phải nhường xanh tươi khác gì Thái âm ở Tí được Hồng Loan Đào hoa tô màu thắm, rồi bị nghiệp báo Hoá kỵ hờn oán tức là dây tơ hồng bị vấy bùn đen. Cô Vân lại khác:
“Vân xem sang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang”
đúng là tượng ảnh Thiên Phủ của tuổi Ất Hợi đóng ngay Thái Tuế. Ý nói Thúy Vân đứng đắn phương phi phúc hậu được hưởng phúc ( Lộc Tồn tuổi Ất)
Với Từ Hải:
Râu hùm hàm én mày ngài
Vai năm tấc rộng thân mười thước cao
…………………
Chọc trời khuấy nước mặc dầu
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.
Chính xác là Phá Quân Tí Ngọ Tuổi Giáp đắc Hoá Quyền
Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo
Phá Quân không những là một kiếm khách giang hồ nhà võ, còn là một nghệ sỹ, một tài tử thấu đáo đàn ngọt hát hay .
Tả Hồ Tôn Hiến:
Nghĩ mình phương diện Quốc gia
Quan trên ngắm xuống người ta trông vào…
Phải tuồng trăng gió hay sao
Sự này biết tính thế nào được đây?
rõ ràng là một Nhạc Bất Quần nguỵ quân tử ( Tử Phủ Dần Thân Không Kiếp)
Để kết luận truyện Kiều cụ Tố Như tóm tắt bằng 4 câu:
Đã mang lấy nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.
là tất cả nguyên ý 2 chữ Tài Thọ ở đây.
Tài ngoài ý nghĩa tài năng, còn một ý nghĩa là đo lường cắt giảm, chữ Thọ là nhân hậu.
Nguyên lý Tài do mệnh, Thọ do Thân là luật thừa trừ do định mệnh cắt giảm, còn nhân hậu do bản thân tự đào tạo . Tài Thọ là một đạo lý trá hình bằng 2 sao bắt đầu di chuyển từ Mệnh và Thân đến ở cung nào, mách bảo cho biết phần liên hệ giữa giữa Thân Thế với cung đó đã có sự hoán cải do luật thừa trừ mình đã gây nên như tuổi Đinh Hợi âm nữ sinh ngày 22 tháng 5 Giờ Mùi.
Mệnh (Thái Tuế) Thiên Tướng Thiên Phúc hành nghề cứu nhân độ thế. Thiên tài ở Bào có Cự Môn Hoá Kỵ. Thiên Thọ ở Phụ Mẫu hoà hợp với Thiên Lương. Có phải người này chịu hy sinh thân thế (Thân cư Phúc đức ở vị trí Tang Môn có Liêm Sát Thiên Hình) vì Phúc có phần khiếm khuyết để cho cha mẹ được tiếng hiền lương nhân hậu và anh em cũng được đầy đủ êm đẹp. Nơi đây thấy sự thừa trừ rất nhiều do định mệnh, thân thế băn khoăn nặng lo cho giòng họ gia đình. Cả Mệnh lẫn Thân từ Thiên Tướng đến Liêm trinh Thất sát không phải là nòng cốt. Thiên Phủ ở cung Tài mới là chính diệu hiện nguyên hình người này, thấy ngay đâu là tư cách căn bản của người điều động được Thiên Thọ.
Nếu người tuổi Tí Thân Mệnh đồng cung có nghĩa là định mệnh với mình là một. Nơi đây định mệnh thừa lệnh của Thân. Nếu được Thân Mệnh ở Thái Tuế là người nhân hậu ngay trong huyết quản, chữ Tài cắt dọn tất cả những gì trở ngại cho Mệnh. Là Tử Vi, hay Thiên Lương, Thiên Tướng, Tài sẽ làm cho đời ngộ nhận nhân phẩm, nhưng rồi ra Thái Tuế sanh đối với Thiên Thọ sẽ đâu lại hoàn đó. Trường hợp có Tả Hữu là tư cách vạn năng, bằng như đụng nhầm Không Kiếp là sinh bất phùng thời không được hưởng tư tưởng cao đẹp
Người tuổi Ngọ sinh giờ Mão hay Dậu nếu là Mệnh Thái Tuế, Thân phải là Tuế Phá là người hành đồng bầy tỏ lòng trinh bạch của mình (Thân đặt ngay Thọ ở Mệnh) thì định mệnh cũng cải chính ngay thân thế (Mệnh đặt Tài ở Thân). Tuy ở trong hoàn cảnh thất ý nhưng lòng son sắt không thiếu nhân hậu.
Biết rằng Thân chỉ có 12 cung số. Thân Mệnh đồng cung, Thân Phúc đức, Thân Quan Lộc, Thân Thiên di, Thân Tài bạch, Thân ở Phối, không bao giờ có ở Phụ, Bào hay Tử là những cung có giây liên lạc hệ trọng với Mệnh vì cá nhân mỗi người có một hành động riêng, ai làm nấy hưởng.
Thân ở 6 cung thường được coi là cường cung thấy rõ ràng luật giang hồ ân oán. Mình thừa hưởng phúc tích luỹ, mình chịu ảnh hưởng công việc hàng ngày , mình gánh chịu kết quả tiếp xúc với ngoài, mình hưởng sự nghiệp ở hoàn cảnh nào, trên đường đời mình đã làm gì trong việc kết tóc se tơ. Từ 6 cung này Tài Thọ kiểm điểm tư cách rồi quyết định đến ở một cung nào trong 12 cung của đương số thêm bớt sao cho hợp lý đi đôi với tính cách cá nhân định mệnh an bài và thân thế cư xử.

thiencoxd
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1048
Tham gia: 20:53, 16/12/11

TL: Đức năng thắng số?

Gửi bài gửi bởi thiencoxd »

PHẢI MINH SÁT THẬN TRỌNG PHÚC ĐỨC MỆNH THÂN

Người học số thường bị vấp ngã trước những câu:
a/ - Phước đức tốt thắng số mệnh.
b/ - Mệnh tốt không bằng thân tốt, thân tốt không bằng hạn tốt.
c/ - vân vân…
Vậy phước đức là gì? có phải cái cung số đứng trên cung Phụ mẫu chứa đựng tất cả sự hên xui của đương số ?
Số của một người thì mệnh là căn bản với 2 cung Quan là công việc hành nghề và Tài là tiền của thu hoạch đứng chung một thế tam hợp, tuy 3 mà là 1. Phước đức là cả một việc trời mênh mông . Phước đức lớn đẹp hẳn phải khiến Mệnh Thân chiếm được khu đất thuận lợi ( Thái Tuế, Quan Phù , Bạch Hổ ) mà chính Thân điều khiển được Thiên Thọ đúng mức như khuôn Thiên đã giao phó lúc ra đời, thì định mệnh mới có đủ Thiên Tài để hoạch định chính xác hồ sơ dự thảo của kiếp nhân sinh .
Biết rằng một người khi nhập thế cuộc đã nhập ngay vào Thiên can ( vòng Lộc tồn ấn định sự thọ hưởng) Địa chi ( vòng Thái Tuế sắp xếp tư cách) . Còn một phần lớn do mình tùy theo cục diện sinh sống mà hành động ( vòng Tràng sinh theo cục bộ dịch thế khuôn xử).
Phúc đức in trên lá số chỉ là hình ảnh chung của một dòng họ sinh hoạt, thuận lợi hay ngang trái cho mệnh số chỉ có một phần nào trong đó, còn do nơi Thân tự mua chuộc lấy, cho nên phúc đức cần vô chính diệu được Nhật Nguyệt đồng chiếu thì không gì sánh bằng, ví như tờ giấy trắng tinh phơi bầy giữa ánh sáng trời đất, bồi đắp thêm hay tự bôi lem luốc là nơi Thân không biết điều hành chữ Thọ ( nhân hậu) . Cao tổ nhà Hán tuổi Giáp Ngọ sanh ngày 13 tháng 11 giờ Ngọ , mệnh an tại Ngọ có Tử Vi Tả Hữu Song Lộc Hoá Khoa xúng đáng ngôi vị hoàng đế lâu dài .Vậy mà Phúc đức có Phá Quân Hoá Quyền bị Triệt. Thử hòi nếu Phúc đức bao gồm chi phối Mệnh Thân thì làm sao tồn tại nghiệp đế hàng mấy trăm năm. Phải chăng Tài Thọ ở Di ông đã rất rộng lượng nhân ái đối với mọi tầng lớp thế nhân dẫu là kẻ địch đã uy hiếp mình ( Tí khắc Ngọ ) Tài Thọ hợp chung là những bộ đôi này đem đến.
Thưa rằng không phải dễ dàng giản dị đến như thế. Mệnh đứng vào một thế liên minh tam hợp nào, khi vận hành đến thế liên minh đó mới chính là hợp cách Thiên thời (Thái Tuế) . Số đã dành riêng cho cơ hội Thái Tuế là đẹp nhất (Thái = tối cao đẹp ) thì không còn gì vượt hơn lên trên được nữa, nên phải ngăn chặn bằng thế Thiên không ( tay không), nếu trong đó chứa đựng những bộ đôi như trên đã nói, thì đó chỉ là bùa mê thuốc lú mang luỵ vào Thân. Người học số nhiều khi ngã lòng vì những thuyết di hạn vận, di Lộc tồn, di Thiên mã, đủ các thứ di…để che lấp, bênh vực các khuyết điểm mà người đời chưa được thông suốt thấu đáo mạch lý.
Phúc đức nay đã hiện nguyên hình là Thiên Thọ do Thân sản xuất chi phối cả Tứ đức, điều mà cố nhân liệt cho là bất hạnh lớn nhất cho người vô tự, ví người đó như là người bỏ cuộc trong một giải tranh đua, là người mất hết hy vọng của cuộc sống lâu dài cho đến ngày tàn tạ trở về với đất, nên thường phải kiếm dưỡng tử để mua lấy tin tưởng dẫu có thua cuộc trường chinh , nhưng cũng không hổ thẹn nửa đường bó gối, cũng đi đến nơi về tới đích cũng như ai Lực sỹ trên võ đài thế cuộc
Tử tức đứng ở thế yếu điểm không bao giờ đồng hành âm dương với Mệnh Thân, luôn luôn tam hợp với Nô. Vì vậy phải tính Nô với Tử như răng với môi. Hế môi hở là răng lạnh . Nô quan hệ với Tử vì Thiên thương nằm trực, phải có điều bất hạnh cho Tử về phương diện nào nhiều hay ít ( Nô là ngoại nhân) . Như một khi Mệnh là Cơ Nguyệt Đồng Lương ở dương cung , thì Nô phải là Sát Phá Tham ở âm cung. Sự đề phòng oan trái vô cùng thận trọng, nếu lại là thế tam hợp Tỵ Dậu Sửu vì Phá Quân tối hãm đi đôi với Phá Toái ( Toái quân lưỡng Phá) . Trường hợp này phải kiếm cầu cứu ngay Hoá Khoa và Quang Quí . Nếu được hai sao này chiếu cố có thể yên tâm tính cuộc lâu dài.
Nỗi ưu tư của thế nhân không phải đến đây là hết, còn ách với Thiên sứ có đầy đủ quyền uy thi hành nghiêm khắc tuỳ theo tập nhật ký nhân nghĩa của từng người. Mừng cho ai khi thấy Thiên Quan ngồi chung với Thiên sứ, hai vị thông cảm nhau điều hoà mọi chi tiết thì thế nhân âu cũng dễ dàng mọi sự khó khăn trên bước đường rong ruổi .
Thuyết Mệnh đẹp không bằng Thân đẹp, ngụ ý Mệnh điều khiển nửa đời trước còn Thân điều khiển nửa đời sau, cho rằng nửa đời trước dẫu có huy hoàng cách mấy, nhưng khi về già được mát mặt vẫn là hơn, cũng không còn vững lý, vì khi tính đại vận luôn luôn bắt đầu từ Mệnh tính đi liên liếp đến ngày mãn cuộc. Không phải chỉ có 3 đại vận đầu, còn ngoài 30 tuổi lấy Thân xuất phát .
Thuyết không hợp lý thì kết cục chắc không tài nào thắng vững chắc.
Người đời khi nhập thế cuộc phải lên tiếng khóc ban đầu mà thánh Phục Hy đã tính thấy đầy đủ ý nghĩa bằng bảng đồng hạng :
1 tuổi ở Mệnh 7 tuổi ở Nô x
2 tuổi ở Tật 8 tuổi ở Di
3 tuổi ở Ách x 9 tuổi ở Tử x
4 tuổi ở Phối 10 tuổi ở Bào
5 tuổi ở Phúc 11 tuổi ở Phu
6 tuổi ở Quan 12 tuổi ở Điền
Mười hai cung này thấy ngay 4 số: 3,5,7,9 trình bày ngay trước mắt : Ách = 3, Nô = 7, Phúc = 5, Tử = 9 là những con số có năng lực hy vọng hay xui xẻo do hang Can làm gốc của số mạng định đoạt, gán cho Phúc Đức điều động. Sự thật chính là Thân tạo nên rồi Mệnh sẽ kiểm điểm thi hành đúng mức.

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Alibaba [Bot], Apple [Bot], Byte [Spider], ChatGPT User, Claude [Bot], Coc Coc [Bot], Criteo [Bot], IAS [Bot], IAS IE, Meta ext [Bot], Meta web [Bot], mimi91, Trendiction [Bot], Yandex [Bot]2055 khách.