Lưu Hà, theo như ghi trong các sách Trung Quốc, thì chữ Hà có nghĩa là "ráng chiều", "ráng trời". Hà không phải là sông. Và lưu hà cũng không liên quan gì đến sông hết.
Lấy ra từ nguyên lý thần sát thì hơi phức tạp, nhưng nghĩa chung là: thiên can khi đi đến cung, gặp khó (theo nguyên lý), thì xuất hiện ra sao Lưu Hà.
Như vậy Lưu Hà là chốn hiểm địa, khó khăn của thiên can. An theo thiên can năm sinh. Chỉ có tác dụng tại cung có lưu hà. Không xét tam hợp, xung chiếu, nhị hợp.
Lưu Hà là vị trí, là những cảnh nguy hiểm, dễ xảy ra chuyện bất hạnh. Ngày xưa trong xã hội phong kiến phái nam xông xáo bên ngoài, phái nữ giam hãm trong nhà; nên bất hạnh to lớn của phái nam là chết xa nhà, phải nữ là khó sinh sản mà tính mệnh lâm nguy. Với vậy mà: “Nam tử đắc chi tha hương tử. Nữ chủ sản hậu khốc oa oa”
Nữ lưu hà tại mệnh hoặc tật ách hay bị chuẩn đoán là: dễ có vấn đề về sinh nở.
Thanh Long Lưu Hà:
Thanh Long là rồng. Thực ra chẳng hay ho báu bở gì con rồng này. Vì thanh long trong tam hợp Thanh Long - Phi Liêm - Phục Binh, là tam hợp đối diện với Lộc Tồn (Bác Sĩ), nên không có thời, không có lộc, ở thế phải tranh đấu với đời.
Nếu xét người Thanh Long - Phi Liêm - Phục Binh, với người tam hợp lộc tồn, ai giỏi hơn ai chưa rõ, nhưng rõ ràng 1 bên có thời có lộc, phè phỡn, 1 bên chẳng có, cố bung sức ra mà làm, thì bao nhiêu cái tài cái hay cái liều phải lộ ra hết.
Thanh Long là hỷ khí, nên cũng hàm nghĩa vui vẻ, thanh long tại phu thê tốt là vì vậy.
Vậy với thời yên bình, Thanh Long không có đất dụng, vất vả trắc trở. Thời loạn, khó khăn, Thanh Long may ra dụng được. Dụng thì dụng, vẫn chỉ là yếu tố phụ họa, bổ sung thêm.
Thanh Long hóa kỵ: trong thời bi đát, đen tối, có tài đi lên. Nếu không đủ điều kiện tốt, thì chỉ là: trong thời đen tối, vẫn cứ vui vẻ.
Thanh Long lưu hà: trong chốn hiểm địa, khó khăn, người có tài lợi dụng đi lên. Nếu không đủ điều kiện tốt, thì chỉ là: trong hoàn cảnh hiểm địa, khó khăn, vẫn cứ lạc quan mà nhe răng cười.


