Mệnh VCD nhàn đàm

Xem, hỏi đáp, luận giải về tử vi
Nội qui chuyên mục
Đây là chuyên mục dành cho việc xem lá số tử vi. Các bài mang tính trao đổi học thuật xin vui lòng đăng trong mục Kiến thức tử vi.
Không được đính kèm lá số của trang web khác. Các bài không liên quan sẽ bị chuyển khỏi chuyên mục này.
Chia sẻ
can_spacy_77
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1626
Tham gia: 14:59, 19/12/11
Đến từ: Sài Gòn

Mệnh VCD nhàn đàm

Gửi bài gửi bởi can_spacy_77 »

Những ưu khuyết điểm và những điều phức tạp về Mệnh “Vô chính diệu”
Phong Nguyên

Trong nhiều sách Tử Vi, cũng như trên tờ giai phẩm KHHB này đã có nhiều lần bàn về “ MỆNH VÔ CHÍNH DIỆU”; nhưng vì đề tài này rất bao la nên tôi tưởng không phải là vô ích khi đưa ra những chi tiết và kinh nghiệm dưới đây để qúy bạn tìm hiểu dễ dàng và chính xác hơn về Mệnh Vô Chính Diệu.
Thực vậy, từ trước đến nay, mỗi khi gặp trường hợp Mệnh Vô Chính Diệu, chúng ta thường thường chỉ biết căn cứ vào những câu phú quen thuộc như:
–Mệnh Vô Chính Diệu phi yểu tắc bàn.
– Mệnh Vô Chính Diệu đắc tam không nhi phú qúy khả kỳ.
– Tam không độc thủ phú qúy nan toàn.
– Xét xem phú qúy mấy người, Mệnh Vô Chính Diệu trong ngoài tam không …
Chứ làm gì có một hệ thống hoặc tài liệu chi tiết nào về trường hợp trên, đành rằng có những nhà tử-vi rất thông suốt về Mệnh Vô Chính Diệu nhưng rất tiếc các vị đó lại không chịu đem ra cống hiến. Vì vậy tôi mạo muội gom góp những chi tiết đã thâu lượm được và tạm chia làm hai phần:
– Những ưu khuyết điểm về Mệnh Vô Chính Diệu.
– Những điều phức tạp về Mệnh Vô Chính Diệu.
1-NHỮNG ƯU KHUYẾT ĐIỂM VỀ MỆNH VÔ CHÍNH DIỆU
A) Những khuyết điểm

Hầu hết các nhà tử-vi đều không khen những lá số có cách Vô Chính Diệu tại Mệnh vì cho rằng những cách này có nhiều khuyết điểm hơn là ưu điểm. Những khuyết điểm chính như sau:

1) Căn bản không vững
Căn bản ở đây không có nghĩa là khả năng hoặc tài năng mà chỉ có nghĩa là môi trường của mình. Mệnh Vô Chính Diệu (tức là không có chính tinh thủ mạng) bao giờ cũng phải tuỳ thuộc vào chính tinh ở cung xung chiếu, và khi đã phải tuỳ thuộc tức là không có căn bản vững, hoặc nói nôm na là không có gốc. Nếu không được cung xung chiếu có sao tốt lại phải hướng sang hai cung hợp chiếu (Tài và Quan) mà ảnh hưởng sẽ yếu hơn nhiều và do đó môi trường của Mệnh lại càng bấp bênh hơn nữa. Vì vậy, dù cho người Mệnh Vô Chính Diệu có tài năng, thông minh (do các yếu tố tử-vi khác cho hưởng) rất dễ bị thăng trầm về sự nghiệp khi gặp Đại tiểu hạn giao động mạnh, không khác gì căn nhà không có cửa bị cơn gió lốc thổi thốc vào làm tan tác cả căn nhà, trừ trường hợp có Tuần Triệt án ngữ thì đỡ hơn nhiều.

2- Khó đóng vai trò chính
Như trên đã nói, Mệnh Vô Chính Diệu không khác gì căn nhà không có cửa dễ bị ảnh hưởng của thời tiết cũng như ngoại cảnh. Do đó người Mệnh Vô Chính Diệu (dù Đắc Tam Không) không thể và không nên giữ vai trò chính trong bất cứ lĩnh vực, cảnh ngộ nào, từ xã hội, gia đình cho đến hôn nhân. Chính cụ Hoàng Hạc cũng đã nêu trên KHHB trước kia là gặp trường hợp này nên cam phận làm “phó” thì yên thân, nếu làm chính dễ bị mất chức. Riêng tôi, tôi còn nói thêm rằng ngay trong gia đình cũng vậy, người Mệnh Vô Chính Diệu cần phải là con thứ hoặc nếu chẳng may là con trưởng thì cần phải là con bà vợ sau của cha mình (tức là bà vợ chính không có con trai). Như thế mới có thể sống lâu hoặc mới có công danh khá được. Thậm chí đến vấn đề hôn nhân, người Mệnh Vô Chính Diệu nên chịu làm “kẻ đến sau” thì cuộc sống dễ thịnh vượng hơn, còn trường hợp vợ mình là chính chuyên thì đương nhiên bị thiệt thòi về sự nghiệp. Đó là một điểm “hận” lớn lao cho người Mệnh Vô Chính Diệu. Kể ra cũng chẳng có gì khó hiểu, vì khi căn nhà trống (vô chính diệu) thì ta cần có một cái vật gì đó che bớt cho khuất gió, tuy hơi trở ngại nhưng đỡ bị tan tác khi có gió mưa lớn. Về người cũng vậy, nếu có người khác “đứng mũi chịu sào” thì khi gặp trách nhiệm lớn lao mình làm phó đâu có chịu lỗi nhiều hoặc gánh vác nhiều, dù cho mình có nhiều khả năng chăng nữa. Còn về hôn nhân tuy không đặt vấn đề trách nhiệm nhưng phải có cái gì đó “án ngữ“ gián tiếp, ví như Tuần, Triệt vậy.

3) Khó phát sớm
Trừ một vài trường hợp đặc biệt, tôi nghiệm thấy các người mệnh vô chính diệu đều không phát khi còn trẻ, không khác gì một cái cây non khi mới nẩy mầm nơi đất xấu, phải trông cậy vào phân bón hoặc mưa nắng thuận hòa mới dần dần vươn cao, có hoa có lá. Vì vậy, nếu qúy bạn có Mệnh Vô Chính Diệu cũng đừng bao giờ qúa thất vọng khi thấy sự nghiệp, công danh của mình phát chậm, miễn là những đại vận từ trung vận trở đi không quá tệ. Nếu qúy bạn nào phát sớm trong trường hợp này tưởng cũng không nên qúa mừng và tự tin vì không khác gì “hoa sớm nở tối tàn” về công danh cũng như về tuổi thọ. Để cho dễ hiểu, tôi xin đơn cử một thí dụ: một đứa bé sơ sinh nếu ra đời non hoặc qúa yếu đuối ngay từ lúc lọt lòng mẹ, nếu cứ cho uống đủ các thứ thuốc bổ để mau mập mạp, khoẻ mạnh không thể đúng cách bằng nuôi nấng một cách điều độ cho khoẻ mạnh lần lần. So với Tử vi cũng vậy, nếu Mệnh Vô Chính Diệu mà gặp ngay Đại Hạn kế tiếp thật tốt rồi những đại hạn sau xấu thì không thể nào hay bằng đại hạn kế kém nhưng những đại hạn sau tốt đẹp, để cho mệnh đủ thời gian hấp thụ các sao thuộc các cung xung chiếu và hợp chiếu, như thế mới đủ khả năng sử dụng các đại hạn tốt một cách vững bền.

4) Nghị lực kém:
Khuyết điểm sau chót của người Vô Chính Diệu tại Mệnh là khó lòng họ có can trường hoặc tinh thần dũng mãnh cương nghị, dù có tài ba lỗi lạc đến đâu cũng vậy. Điều này cũng rất dể hiểu vì khi mình nhờ vả ai (tức là Mệnh nhờ các cung chiếu) thì mình phải chịu ảnh hưởng của người đó, nếu không muốn nói là lệ thuộc và khi đã ở cảnh ngộ như thế thì làm sao giữ vững được lập trường. Tuy nhiên, nếu Mệnh chịu ảnh hưởng của cung Tài Quan nhiều hơn thì việc lệ thuộc cũng nhẹ hơn nhiều, vì Tài Quan là các cung của cá nhân mình, thì chỉ ngại cung Thiên Di, nếu có các chính tinh dùng cho Mệnh được nhiều thì sự lệ thuộc vào ngoại giới sẽ mạnh mẽ hơn vì cung Thiên di tiêu biểu cho giới giao thiệp, bạn bè trong xã hội (Tôi sẽ bàn về cung Thiên Di trong một bài riêng biệt). Vậy quý bạn cần chú ý đến điểm này khi cân nhắc về nghị lực của người Mệnh Vô Chính Diệu.
Những ưu điểm
Chắc qúy bạn nào có Mệnh Vô Chính Diệu sau khi đọc những điểm trên đây đều thất vọng cho số phận của mình, nhưng thực ra con người Mệnh Vô Chình Diệu lại có những điểm độc đáo khác mà những người khác ít khi có.

1) Đa năng mẫn tiệp
Khi Mệnh đã “bỏ ngõ” tuy dể bị ảnh hưởng của các sao xấu bên ngoài nhưng cũng tiếp nhận dễ dàng những tinh hoa của các cách tốt chiếu về, nếu có. Do đó, người Mệnh Vô Chính Diệu (khi lớn tuổi) thành công dễ dàng nhưng tuần tự trong mọi lãnh vực do khả năng tìm hiểu, tò mò, kiên nhẫn của mình, mức độ thành công tùy theo các cách tốt trong tử vi. Vì thế, trong nhiều sách như cuốn Tử-Vi Đầu Số Tân Biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang đều nói rằng người Mệnh Vô Chính Diệu khôn ngoan sắc sảo là thế. Nếu qúy bạn là Chủ nhân hay Giám đốc thì nên dùng người Mệnh Vô Chính Diệu vì họ rất chịu khó học hỏi, có lương tâm nhà nghề, có óc cầu tiến, nhưng đừng bao giờ dùng họ trong vai trò chủ chốt như đã nói trên để cho họ khỏi bị mất chức. Đến như Khổng Minh kia (cung Mệnh Vô Chính Diệu) tuy tài ba phi-thường như thế mà cũng đành phải chịu làm cố vấn, quân sư cho kẻ khác, chứ đâu có xưng vương đồ bá gì nổi …

2) Ít bị tai nạn
Tôi xin nói ngay là người Mệnh Vô Chính Diệu bớt được nhiều tai nạn chứ không phải là chẳng bao giờ bị tai nạn. Sở dĩ họ được điểm may như vậy là vì Mệnh Vô Chính Diệu khi gặp Đại tiểu hạn Sát Phá Liêm Tham và hung tinh đắc địa lại phát mạnh, trong khi Mệnh có chính tinh lại không hợp và có khi còn bị nguy hại. Như vậy là Mệnh VCD đã bớt đi một số yếu tố tai hại vì đã quen với hung tinh.
Vì theo nguyên tắc chỉ có hung tinh mới gây ra tai ương nhiều hơn các sao khác, vì các bại tinh chỉ gây thất bại hoặc bịnh hoạn chứ ít khi đem đến tai nạn như hung tinh. Như vậy kể ra cũng công bằng vì người Mệnh Vô Chính Diệu thường hay khổ về tinh thần thì ít ra cũng phải bớt được tai ương nhiều.

3) Dễ thích ứng với hoàn cảnh
Mệnh Vô Chính Diệu chẳng khác gì Mệnh trung lập, gặp đại vận nào cũng thích ứng được không bị cảnh “chéo cẳng ngỗng” như Mệnh có chính tinh, do đó đỡ bị gặp bước đường cùng (Đây tôi không nói về thọ yểu mà chỉ bàn đến công danh, sự nghiệp, vì lẽ tất nhiên gặp hạn xấu qúa thì phải chết). Thí dụ như hạn gặp Tuần, Triệt hoặc Thiên Không đối với Mệnh có chính tinh (nhất là sao Tử-Phủ) thì rất tai hại, bất lợi nhưng đối với Mệnh Vô Chính Diệu lại hay vì không khác gì nhà cửa đang trống trải bị gió thốc vào nay lại được lắp cửa ngõ đàng hoàng (tức là Tuần Triệt, Thiên Không) thì căn nhà yên ổn biết bao. Tôi đã được xem nhiều Lá số vô chính diệu, có người bị thăng trầm luôn luôn nhưng gặp hoàn cảnh nào cũng thích ứng được rồi dần dần ổn định

II- NHỮNG ĐIỂM PHỨC TẠP VỀ MỆNH VÔ CHÍNH DIỆU
Tôi có thâu thập được khá nhiều điểm phức tạp về cách giải đoán Mệnh Vô Chính Diệu, nhưng chỉ xin nêu ra những điểm chính và quan trọng (tôi không nhắc lại những điểm đã bàn tới trên KHHB) để qúy bạn đỡ bị lúng túng khi quyết đoán:

1) Đắc Tam Không
Thường thường các nhà tử vi đều chê rằng Mệnh Vô chính diệu chỉ tốt khi đắc tam Không (tức là có Tuần, Triệt, Địa không hoặc Thiên không tôi không bàn chứ “Không” ứng cho những sao nào kể trên vì có vị không công nhận Tuần là “Không”, có vị lại bảo rằng Thiên Không mới không phải là “Không” nhưng chưa có ai chứng minh được hợp lý), và cụ Song An Đỗ Văn Lưu (tác giả cuốn Tử vi chỉ nam) có nêu ra thêm là mạng Hỏa và Kim mới hợp với cách này nhất. Điểm này chỉ đúng khi đương số là con một, mà tôi đã bàn trên KHHB rồi. Ngoài ra, quý bạn còn phải phân biệt như sau:
-Nếu mạng có nhiều trung tinh rực rỡ quần tụ mà có một Không án ngữ và hai Không chiếu về thì đừng nên ham cách “Đắc tam không” nữa vì các trung tinh bị mất hiệu lực. Trong trường hợp này chỉ nên có Tam không ở 3 phương chiếu về là hơn, nếu không thì chẳng cần đủ 3 Không mới khỏi tai hại cho Mệnh.
-Khi nào Mệnh không chính tinh mà chỉ có toàn bại tinh hoặc bàng tinh không quan trọng mới cần có một “Không” án ngữ, nhưng lại có điểm thiệt thòi là các cách hay ở bên ngoài khó bổ túc cho Mệnh vì bị “Không” ngăn trở, thành ra chưa hẳn là hoàn toàn có lợi. Về trường hợp này nhiều vị cho rằng nên có Thiên không hoặc Địa không hơn là Tuần, Triệt vì hai sao Thiên Địa Không không ngăn trở sự xâm nhập hoặc ảnh hưởng của các sao bên ngoài.

2) Không đắc Tam Không
-Trường hợp Mệnh Vô Chính Diệu không đắc Tam Không, tức là chỉ có Nhất, Nhị Không (ít khi không đắc Không nào) chưa hẳn là kém Tam Không và cũng không ngại “phi yểu tắc bần”, vì còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa.Chỉ có điểm cần nhất là cung Phúc Đức không được xấu vì Mệnh yếu sẵn rồi phải nhờ vào cung “gốc” là cung Phúc Đức để tránh vấn đề kém thọ trước đã rồi mới tính đến công danh, sự nghiệp qua các cung hợp chiếu và đại hạn. Tôi đã được xem nhiều lá số Mệnh Vô Chính Diệu chỉ có đắc Nhất Không mà vẫn phú quý và chẳng hề chết non, nhưng những lá số này không có cái nào có cung Phúc Đức xấu.
3) Nhật Nguyệt tịnh minh chiếu hư không chi địa
Cách này chắc nhiều bạn đã biết và nhiều nhà tử vi cho rằng rất hay, nhưng chúng ta cũng cần phân biệt một vài trường hợp như sau để khỏi sai lạc nhiều :
– Khi Mạng vô chính diệu có nhiều sao xấu (như: Địa Kiếp, Hỏa Linh, Phục Binh…) thực ra không nên có Nhật Nguyệt sáng sủa chiếu vì như thế không khác gì “vạch áo cho người xem lưng” bao nhiêu sự xấu xa trong nhà mình đem phô ra hết, tuy vẫn thành công, phú qúy nhưng mọi người đều thấy rõ bộ mặt thực của mình, như vậy tưởng cũng chẳng lấy gì là hay. Trong trường hợp này thà đừng có Nhật Nguyệt hoặc nếu có thì hãm địa (tức là không sáng sủa) còn hay hơn để đỡ bị chê cười, nhục nhã.
– Nếu mạng vô chính diệu có Tuần hoặc Triệt án ngữ mà có Nhật Nguyệt tịnh minh chiếu thì không còn được hưởng cách này nữa, hoặc nếu có được hưởng cũng chỉ là cái vỏ phú quý, đó là “giả cách” mà thôi.
– Nếu được đúng cách Nhật Nguyệt (tức là Mệnh không có Tuần, Triệt và cũng không có các sao xấu) thì nên có thêm Thiên Không hoặc Thiên Hư để khoảng chân không được thăm thẳm cho có nhiều chiều sâu cho mặt trời, mặt trăng chiếu, như thế công danh, phú qúy mới phi thường và óc thông minh mới siêu việt, nhưng vẫn phải đóng vai trò “phó” mới lâu bền được

4) Đại tiểu hạn
Đối với Mệnh Vô chính diệu, việc giải đoán Đại tiểu hạn khác hẳn đối với Mệnh có chính tinh thủ Mệnh. Vì Mệnh vô chính diệu có khả năng hấp thụ đủ mọi cách, từ cách Tử Phủ Vũ Tướng, Cơ Nguyệt Đồng lương cho đến cách Sát Phá Liêm Tham cùng với hung tinh đắc địa, chẳng bao giờ không ”ăn khớp” với các cách này. Tuy nhiên, chỉ ngại đi đến Đại tiểu hạn cũng Vô chính diệu lại không có Không nào thì khác nào một cái nhà trống, không cửa ngõ lại ở trên một khu vực “đồng không mông quạnh”, làm sao chống lại được mưa gió hoặc bị ảnh hưởng của bên ngoài, như thế tức là làm ăn thất bại dễ dàng, sự nghiệp suy sụp mạnh mẽ.
Qua những điểm tôi trình bày trên đây, chắc hẳn qúy bạn đều nhận thấy rằng dù sao người có Mệnh Vô chính diệu vẫn chịu nhiều thiệt thòi, bất lợi, nhất là đối với ai ham công danh, quyền chức lớn, mặc dù họ có nhiều tài năng đôi khi xuất chúng, nhưng tài để phục vụ cho kẻ khác (nhiều khi kém mình) thì tưởng cũng là điều không hấp dẫn.Chỉ đối với ai có đầu óc triết lý, ưa sống về tinh thần, ưa nghiên cứu về lý số, biết an phận thời may ra mới hợp cách Mệnh Vô chính diệu, dù đắc Tam Không hay Không.
KHHB số 74C2
Sửa lần cuối bởi can_spacy_77 vào lúc 18:37, 02/10/12 với 2 lần sửa.

can_spacy_77
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1626
Tham gia: 14:59, 19/12/11
Đến từ: Sài Gòn

TL: Mệnh VCD nhàn đàm

Gửi bài gửi bởi can_spacy_77 »

Tử vi đẩu số toàn thư viết :

Yếu tri nhất thế chi vinh khô
Định khán ngũ hành chi cung vị
Lập mệnh khả tri quý tiện
An thân tiện hiểu căn cơ
Đệ nhất tiên khán phúc đức
Tái tam tế khảo thiên di
Phân đối cung chi thể dụng
Định tam hợp chi nguyên lưu
Mệnh vô chính diệu, yểu chiết cô bần
Cát hữu hung tinh, mỹ ngọc hà điếm

Mệnh là thể và Di là dụng. phải hiểu Thể và Dụng là gì? học dịch lý sẽ suy ra được cái lý mệnh - Di.

Người ta quen với những câu nói của người xưa nếu cung VCD thì lấy chính tinh xung chiếu mà luận. Vì sao lại thế? Vì lực của chính tinh xung chiếu mạnh hơn nhiều so với tam hợp và lục hợp. Nhất là khi cung VCD không có chính tinh thì việc cung xung chiếu áp đảo cung VCD là điều hiển nhiên. Nên lấy cung xung chiếu luận không có gì là lạ. Năng lượng tại cung là thấp vì vậy cung xung chiếu lan tỏa năng lượng đến cung VCD điền năng lượng vào cung. Trừ Nhật Nguyệt tịnh minh. Do tính chất phát xạ mạnh của bộ Âm Dương nên ta lấy bộ Âm Dương ra luận. Trong trường hợp mệnh VCD ta lấy cung xung chiếu để luận đoán là cung Di.

Cung thiên Di chính là môi trường xung quanh ta, hoàn cảnh xung quanh ta tác động lên ta là cung Mệnh. Ngược lại ta cũng tác động trở lại môi trường và hoàn cảnh của ta nên mệnh Di xung nhau ám chỉ Mệnh và Di vừa bổ sung cho nhau vừa tương tác lẫn nhau có khi là nghịch nhau. Mỗi người có mỗi cung Di khác nhau nên những người khác nhau thì môi trường và hoàn cảnh sống cũng khác nhau. Không giống nhau. có người nhờ môi trường tốt, nhờ ở trong môi trường đó mà thành công. có người tuy có tài cán nhưng ở trong môi trường xấu thì sự nghiệp thăng trầm.

Tôi tạm lý luận vấn đề tam phương tứ chính

Tôi tạm nói về vấn đề chủ khách của mệnh VCD.

Mệnh VCD lấy chính tinh xung chiếu nhập bản cung nên sao cung xung chiếu làm chủ. Lấy các sao cung tam hợp làm khách. với người mệnh VCD khi xem xét chủ khách là rất quan trong vì phép hội sao của tam hợp và Xung chiếu. Phương pháp hội sao phải có căn bản mới vận dụng cung Di để an toàn mà không bị họa hại. Khi đã xác định chủ khách.

Khách với chủ đều tốt là khách chủ tương đắc. Khách với chủ đều xấu thì không cần phải xem tương quan chủ khách. Chủ khách vừa hung vừa cát thì phải xem tương quan chủ mạnh hay khách mạnh. Nếu chủ mạnh thì khách theo chủ, nếu chủ yếu thì khách kéo chủ đi. Cát khí mạnh thì cát khí thắng và ngược lại hung khí thắng.

10 điều căn cản khi xem xét mệnh VCD.
1. bản cung tốt là do nội lực mạnh từ bên trong mà ra.
2. bản cung xấu là xấu từ gốc.
3. cung xung chiếu tốt là mọi việc tốt chờ phía trước
4. Cung xung chiếu xấu thì phải chịu xấu từ ngoài
5. cung tam hợp tốt là nhiều người giúp đỡ
6. cung tam hợp xấu là họa hại từ bên ngoài tới
7. cung đằng trước, đằng sau tốt là lưỡng lân tương phù
8. 2 cung xấu là lưỡng nan tương vũ
9. cả 4 cung cùng tốt là mọi việc hạnh thông.
10. cả 4 cung đều xấu là mệnh bị bao vây không lối thoát

ở trên vẫn lấy cung Thiên Di nhập sao bản cung ( theo thuyết mươn sao an cung của Trung Châu Phái). Tức xét các sao cung Di đồng độ cùng cung mệnh

Mệnh thân bản phương có sao tốt gặp các sao khác ở cung tam hợp và xung chiếu nếu gặp :
1. khoa quyền lộc quý thì kể như cách cục thành.
2. nếu gặp tứ sát kình đà hỏa linh thì kể như phá cách
3. Nếu gặp tứ sát và tứ cát thì là trong thành có phá
4. cả tứ hung và tứ cát thì kể chưa thành nhưng cách không bị phá. Lúc này phải nhờ hạn để đinh đoạt.

mệnh thân cung mà cung xung chiếu tam hợp đều có hung nếu gặp :
1.khoa quyền lộc quý là cứu cánh
2. gặp kình đà hỏa linh là bỏ đi
3. vừa gặp tứ cát và tứ hung là vừa cứu, vừa khí cách
4. không gặp cả tứ cát và tứ hung thì phải chờ hạn

Từ đó xác định chủ thắng hay khách thắng, nếu chủ thắng thì sẽ lấy cung Di làm hóa giải. Nếu khách thắng thì tuyệt không dùng cung Di để hóa giải. Mà dùng cung khác. đó là sử dụng tam hợp để hóa giải mệnh VCD. cung Nô, cung an Thân.

Nếu cung Di tốt theo phương pháp chủ khách, chủ mà thắng thì ta hóa giải mệnh VCd bằng cung Di. Khi đó ta sẽ làm động cung Di để hóa giải cho mệnh VCD. hóa giải dựa trên lý luận về cung thiên Di. Cung thiên Di chủ những gì? từ đó đưa ra được phương pháp hóa giải thành công cho lá số.

Ngoài ra còn dùng mệnh chủ, thân chủ... để hóa giải cho mệnh VCD. Ở đây tôi chỉ nói đến hóa giải mệnh VCD bằng cung Di thôi.

can_spacy_77
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1626
Tham gia: 14:59, 19/12/11
Đến từ: Sài Gòn

TL: Mệnh VCD nhàn đàm

Gửi bài gửi bởi can_spacy_77 »

Cổ ca rằng:

Mệnh cung tinh diệu trị không vong
Ấu tuế trọng trọng hữu họa ương
Bất thị quá phòng tu ký dưỡng
Tha hương hảo khứ tác Đông sàng

Cung Mệnh tinh diệu gặp Không vong, tuổi ấu thơ có bệnh tật, tai ương trùng trùng, nếu không cho đi làm con thừa tự nhờ nuôi dưỡng, thì cũng bỏ đến nơi xứ lạ lại làm nên như trong câu chuyện chàng rể Vương Hy Chi đời nhà Tấn

Về cách cục này, bản khắc (thường trên gỗ) ở Phúc Kiến thời Minh viết: “tức mệnh cung vô chính tinh phù tinh túng tinh thị dã” (tức chính là cung Mệnh không có chánh tinh, phù tinh, túng tinh) nhưng đã có nguyên văn một lời phê trong một bản sao: “vô nam bắc nhị đẩu chánh tinh dã” (Chính là không có hai (loại) chính tinh nam bắc đẩu), lời phê này không thấy nhắc tới “Phù tinh” cùng “Túng tinh”.

Cái gọi là “Phù tinh”? là chỉ Hỏa Tinh Linh Tinh, về phần tên gọi “Túng tinh” là gì, Vương Đình Chi cũng không biết, nhưng hoài nghi xuất bản sai, có thể chỉ tinh diệu từ “Tòng tinh”.

Cổ nhân luận mệnh, có thuyết pháp “Mệnh vô chính diệu, nhị tính diên sinh” (mệnh VCD có hai tên họ thì thêm tuổi thọ – ý nói làm con nuôi họ khác). Nhưng thuyết pháp này có hạn chế rất lớn, bởi vì phàm khi cung Mệnh vô chính diệu thông thường mượn tinh diệu đối cung để suy đoán, xung đối cung Mệnh tức cung Thiên di, sở dĩ như vậy nên loại mệnh cục này lợi vào “Thiên di”, tức cũng là đi xa lập nghiệp ở nơi khác quê hương mình.

Người thời xưa, thường mong có thể an thân lập mệnh ở quê hương, quyết không dễ dàng nói lìa xa là lìa được, cho nên phàm thị những người bỏ tỉnh ly hương đa số là tòng theo cái khí thế của song thân (cha mẹ), ở quê hương tưởng rằng chẳng có cách gì mà sống được, chính vì vậy mà “mệnh vô chính diệu” đã bị cổ nhân cho rằng tuổi nhỏ bất hạnh, đến nổi phải “quá phòng ký dưỡng” (cho làm con thừa tự – con nuôi họ khác), hoặc là phiêu bạt đến nơi khác mà thành mệnh “nhập chuế” (ở rể), nhất là xã hội nông nghiệp thời xưa, có tập tục “chiêu chuế” (kén trai ở rể) đến làm công việc nhà nông, cổ nhân cho rằng vậy là đương nhiên. Ngày nay, vào suy đoán Đẩu số vẫn ứng khi mượn sao ở cung Thiên di làm căn cứ suy đoán.

Như vậy khi phân định vấn đề Chủ - Khách thành công ( đây là việc khó khăn vì phải biết phép hội sao trong tử vi) ta sẽ làm lợi vào cung Di tức là làm động cung Di.

ví dụ. cung Di có cự môn hóa lộc chẳng hạn. Thì cự môn hóa lộc này cũng đồng bộ cùng các sao tại cung mênh. Và cự môn hóa lộc thì nên làm gì để lộc được nhiều? Quan trọng cự môn hóa lộc đã nhập vào cung mệnh chứ không phải chỉ riêng ở cung Di nữa. và làm lợi cự môn hóa lộc càng nhiều chính là làm động cung Di. Lợi vào Di càng nhiều càng tốt. Khi đó việc chiếm đóng cung mệnh của các sao cung Di càng nhiều hơn. và mệnh VCD lúc này đã trở nên tốt hơn rất nhiều.
Sửa lần cuối bởi can_spacy_77 vào lúc 18:23, 02/10/12 với 1 lần sửa.

can_spacy_77
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1626
Tham gia: 14:59, 19/12/11
Đến từ: Sài Gòn

TL: Mệnh VCD nhàn đàm

Gửi bài gửi bởi can_spacy_77 »

Trùng bài .......................

can_spacy_77
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1626
Tham gia: 14:59, 19/12/11
Đến từ: Sài Gòn

TL: Mệnh VCD nhàn đàm

Gửi bài gửi bởi can_spacy_77 »

Người xưa cứ nói đắc tam không phú quý khả kì mà chẳng nói tại sao khiến hậu học trở nên lầm đường lạc lối khi học phải man thư !

Trước tiên cần phải hiểu tuần triệt là gì ?

Tuần trung không vong là gì ? Mười ngày là một tuần, lấy mười Can phối với 12 Địa Chi từ Giáp đến Quý là hết, thiên Can không bằng nên dư ra 2 thời địa chi là không vong. Như Giáp Tý đến Quý Dậu không tới tuất hợi, vậy nên tuần Giáp Tý lấy Tuất Hợi làm không vong. Thông thường nói đến không vong là không tốt, nhưng trong đó lại có Hỏa thì phát, Kim không thì minh ( kêu), không như nhau nên cũng không được hoàn toàn cho là hung. tùy theo tính ngũ hành cùng với gặp việc nào mà cho rằng đoạn. nhưng chưa chắc đã tận ( hết ) mà cho là hung.

Đối cung lại với không vong (tức là cung xung ) gọi là Cô, Kích Hư. Như Tuần ở Tuất Hợi thì Cô, kích hư ở Thìn Tị. Cô, kích hư rất mạnh. Đây là cơ sở của Xuất Không Điền Thật

Triệt Lộ Không Vong là gì?

Địa Chi ngộ Nhâm Quý là Triệt Lộ Không Vong. Thuyết là đi đường gặp nước khó đi, hay không thể đi được (suy ra từ kỳ môn đôn giáp ) Giáp Ất gặp thì vô cát, vô hung, gặp bính đinh là hỷ thần, gặp Canh Tân là kim thần. gặp Nhâm Quý là Triệt Lộ không vong. Triệt là Việc đi đường gặp nước ( Nhâm Quý ) nhưng nếu có thuyền bè là có thể qia được. làm sao triệt nổi.

Như vậy Triệt là việc gặp nước Nhâm Quý (thủy).

Qua đây thấy rằng các quan điểm về Mã ngộ triệt là mã què, Tướng ngộ Triệt là Tướng mất đầu, thiên Phủ gặp tuần là kho rỗng chỉ là bịa đặt... ngay cả những người có kinh nghiệm mấy chục năm tử vi vẫn cứ tin là như vậy !

Từ Tuần Không thích Hỏa phát, thích Kim minh (kêu ) như vậy mệnh VCD khi có Tuần tại mệnh thì hợp với mệnh hỏa và kim, đó là nòng cốt và được đắc cách tam không. Nếu gặp Triệt tại mệnh mà mệnh Kim và hỏa thì nguy hại vì mệnh Kim gặp Triệt như gặp nước thì Kim chìm, gặp Hỏa bị nước dập tắt. Thế nên đâu phải cứ mệnh VCD gặp Tuần Triệt là tốt đâu ! có khi lại thành ra không tốt !

Như vậy mệnh VCD đắc tam không chỉ có khi Tuần đóng tại mệnh VCD và 2 không tam hợp. 3 không là Tuần Triệt và Địa không. và chỉ có mệnh hỏa và kim với đắc cách này. các trường hợp khác không tính đắc tam không.

Đó là lí do vì sao nhiều người luận đắc tam không mệnh hỏa và kim nòng cốt mà sao vẫn nghèo !
Sửa lần cuối bởi can_spacy_77 vào lúc 18:24, 02/10/12 với 1 lần sửa.

can_spacy_77
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1626
Tham gia: 14:59, 19/12/11
Đến từ: Sài Gòn

TL: Mệnh VCD nhàn đàm

Gửi bài gửi bởi can_spacy_77 »

Đính chính. Tam không là Tuần không , triệt không và thiên không.

1. địa không là sát tinh được an theo giờ và chịu ảnh hưởng mạnh bởi tuần triệt nên không nằm trong tam không.
2. Thiên không là không vong được an theo năm nằm trong chùm thái tuế. Thiên không không chịu ảnh hưởng bởi triệt và có tính cộng hưởng bởi tuần.

Vì sao mệnh VCD cần tuần triệt?

Người ta nói mệnh VCD như nhà không nóc rồi có tuần triệt làm cái nóc cho nhà. Giải thích như thế khá mơ hồ. Và không có căn nguyên rõ ràng.

Mệnh VCD phụ thuộc vào tam phương tứ chính. Mệnh VCD "mượn sao" cung Di nhập bản cung làm chủ. Lấy tam hợp làm khách. Vì là mượn sao nên vấn đề chủ khách sẽ biến đổi khá phức tạp theo vận hạn. Có hạn thì chủ thắng, có hạn thì khách thắng. do phép hội sao tạo nên Khá là bất ổn và khiến cuộc đời của người mệnh VCD không ổn định và thăng trầm theo. Khi có tuần triệt đóng tại bản cung thì tuần triệt sẽ ngăn cản sự phức tạp của chủ khách, giúp cuộc đời đi vào ổn đinh. Đó là lý do mệnh VCD cần tuần triệt.
Sửa lần cuối bởi can_spacy_77 vào lúc 18:25, 02/10/12 với 1 lần sửa.

can_spacy_77
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1626
Tham gia: 14:59, 19/12/11
Đến từ: Sài Gòn

TL: Mệnh VCD nhàn đàm

Gửi bài gửi bởi can_spacy_77 »

mệnh VCD cần xem mệnh chủ thân chủ thế nào. cách xem mệnh chủ thân chủ giống như cách xem sao cung mệnh.

Trong Tử vi đẩu số tuy có đề cập tới Mệnh Chủ và Thân Chủ, nhưng không thấy bàn nhiều hoặc có bàn nhưng không thấy được vận dụng.

Trong thuật Đăng hạ có luận bàn nhiều về Mệnh Chủ và Thân Chủ:

Sự phân biệt Mệnh Chủ và Thân Chủ: Mệnh Chủ là tiên thiên. Thân Chủ là hậu thiên.

Mệnh Chủ lấy Cung Mệnh để sắp xếp. Thân Chủ lấy Niên chi để sắp xếp.

Cung Mệnh không có Chủ tinh, theo các sách của Tử vi đẩu số thì cho rằng lấy Sao của đối cung để luận. Theo thuật Đăng hạ thì lấy Sao của Mệnh Chủ để luận.

Nếu Mệnh Chủ và Thân Chủ ở chỗ tốt thì một đời vinh hoa, phú quý. Tọa thủ ở chỗ hãm địa thì tiền tài có thể nhiều nhưng tổn thọ hoặc tiền tài ít mà sống lâu. Vậy tọa thủ chổ tốt là như thế nào? Là không cùng sao Tứ Sát đồng cung, hoặc tọa thủ ở Trường Sinh, Đế Vượng.
Sửa lần cuối bởi can_spacy_77 vào lúc 18:26, 02/10/12 với 1 lần sửa.

Hình đại diện của thành viên
trungdudu
Tứ đẳng
Tứ đẳng
Bài viết: 989
Tham gia: 22:45, 23/04/11

TL: Mệnh VCD nhàn đàm

Gửi bài gửi bởi trungdudu »

Đánh dấu theo dõi topic.

can_spacy_77
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1626
Tham gia: 14:59, 19/12/11
Đến từ: Sài Gòn

TL: Mệnh VCD nhàn đàm

Gửi bài gửi bởi can_spacy_77 »

Nguồn gốc mệnh chủ - thân chủ

khi giải đoán những lá số mệnh VCD tiền nhân ta đã đúc kết khá nhiều công thức.
Nhưng phảng phất thấy vai trò của những hung tinh, cát tinh đặc biệt. Mà một trong các thông số đặc biệt đó là sự đồng hành với ngũ hành bản mệnh của một vài tinh đẩu có trong cách cục được nêu bởi các công thức – tuy không phải là tất cả một cách tuyệt đối – nhưng phảng phất và dễ tìm được cái lý để các tinh đẩu đó lộ diện. Tuy nhiên, về mặt lý thuyết, sẽ gặp ngay cản trở bởi tính hạn chế của sự đồng hành chỉ trong cung mệnh.

Tiền nhân ta tháo gỡ khó khăn này bằng cách không hạn chế xét sao nòng cốt chỉ ở trong khuôn khổ một cung an mệnh, hay cung an thân mà mở rộng ra tới cung thiên ri, tài và quan. Nhưng có một số người không hiểu lại giàu trí tưởng tượng liền mở rộng cho các cung khác nữa, có biết đâu rằng do hạn chế bởi sự mất cân đối của ngũ hành, nên sự mở rộng càng lớn thì tính mất cân đối càng lớn và do đó tính phi lý càng rõ nét, đưa tới sự vận dụng ngày càng mơ hồ hơn, gượng ép hơn.

Hơn hết là cho dù sự mở rộng hợp lý, nó vẫn gặp những trở ngại không vượt qua được. Thực tế là phương pháp định cách cục dừng lại ở đây rồi lại loanh quanh trở về với phép hội sao và kết hợp cả hai. Nhưng lối thoát vẫn không thể có, người đời không chịu dừng lại và thế là cách mạng, là sáng tạo. Nhưng hầu hết đều nhằm vào cải tiến cách luận và trên cơ sở đó mà đưa thêm nhiều thông số, nhiều biến hóa của cách cục, tinh đẩu. Phép lưu tứ hóa, phép thái tuế, phép hóa khí, … tất thảy chỉ là những phép nhằm giải quyết vấn đề là do phép định cách cục bị hạn chế, nên phải mở rộng “phạm vi hoạt động” của cách cục, sao cho cải thiện được cái điều kiện thứ nhất là xác xuất khả dĩ lớn nhất – tức là sẽ khắc phục sự mơ hồ của tâm linh phần nào – và khả dụng lớn nhất vì khi cho cách cục biến hóa thì cái kinh nghiệm sống, sự trải đời của người giải đoán mới có “đất dụng võ”.

Như thế, giải đoán đã phát triển thành hai hướng, hướng nâng cấp phép định cách cục và Hướng thứ hai là mở rộng phạm vi hoạt động của cách cục. Rõ ràng hướng thứ hai rất dễ được chấp nhận, và thực tế nó đã được hào hứng tiếp đón. Nhưng rút cục, tình hình tuy có được cải thiện, song vấn nạn vẫn còn đó.

Nguồn : tuvilyso.net
Sửa lần cuối bởi can_spacy_77 vào lúc 18:27, 02/10/12 với 2 lần sửa.

can_spacy_77
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1626
Tham gia: 14:59, 19/12/11
Đến từ: Sài Gòn

TL: Mệnh VCD nhàn đàm

Gửi bài gửi bởi can_spacy_77 »

Từ tài liệu quyển thượng Số Tử vi kinh nghiệm của Quản Xuân Thịnh

1-Thân chủ

- Tuổi Tý Thân chủ LINH TINH

- Tuổi Ngọ Thân chủ HỎA TINH

- Tuổi Sửu-Mùi Thân chủ THIÊN TƯỚNG

- Tuổi Dần Thân Thân chủ THIÊN LƯƠNG

- Tuổi Mão Dậu Thân chủ THIÊN ĐỒNG

- Tuổi Tỵ-Hợi Thân chủ THIÊN CƠ

- Tuổi Thìn-Tuất Thân chủ VĂN XƯƠNG

2- Mệnh chủ

- Tuổi Tý Mệnh chủ THAM LANG

- Tuổi Sửu-Hợi Mệnh chủ CỰ MÔN

- Tuổi Dần-Tuất Mệnh chủ LỘC TỒN

- Tuổi Mão-Dậu Mệnh chủ VĂN KHÚC

- Tuổi Tỵ-Mùi Mệnhchủ VŨ KHÚC

- Tuổi Thìn-Thân Mệnh chủ LIÊM TRINH

- Tuổi Ngọ Mệnhchủ PHÁ -QUÂN

Ví dụ : Người tuổi Hợi, mệnh chủ CỰ MÔN và Thân chủ THIÊN CƠ. Tìm saoCỰ MÔN và THIÊN CƠ đóng đâu, biên chữ Mệnh chủ và Thân chủ vào (ngày nay, các nhà Tử vi thường ghi vào giữa cung trung tâm của Lá số đê dễ theodõi). Hai sao này can hệ ảnh hưởng rât lớn đối với cuộc đời mình
Và ở 1 bài viết khác trên mạng, ngoài phần chỉ cách an, họ có nói ý nghĩa trong việc luận giải.

1/ Mệnh / Thân chủ tinh nhập Mệnh / Thân cung :
Là cách Long quy đại hải bên trên .

2/ Nhập BÀO CUNG :
Thường là được Anh em trợ lực , nếu Cát ( có Cát tinh / Cách cục tốt ) = Anh em hòa thuận , giúp nhau. Hung = Bất hòa , thiếu trợ giúp .

3/ Nhập NÔ :
Nô bộc thường là Cung thấp kém , dù có Cát tinh , mỹ Cách cũng lao tâm phí lực

4/ Nhập DI :
Di chuyển , biến động thường xuyên . Cát = Tăng lợi , Hung = giảm lợi .

5/ Nhập ĐIỀN :
Là Tài khố , cho nên Cát = Tăng gia sự tích tập của Tài sản , Hung = Giảm thiểu, mất mát , ưu lo về Tài sản .

6/ Nhập TỬ :
Cát = Tăng điều Tốt ,Con cháu hiếu thuận , hưng vượng , có thể nhờ vã con cháu khi lớn tuổi .

Hung = Giảm Hung .

7/ Nhập PHỐI :
Phu xướng phụ tùy , vợ chồng hòa hảo .
Cát = Tăng Cát . Hung = giảm Hung .

8/ Nhập ÁCH :
Hung = Tật bệnh . Cát = Hoàn cảnh làm việc và thể lực tốt ,thiếu niên có thể phát Tài lộc .

9/ Nhập TÀI :
Cát = có cơ hội / khả năng kiếm tiền và dễ phát Tài .
Hung = giảm Hung , khó có cơ hội kiếm tiền , thu nhập không cao …

10/ Nhập QUAN :
Cũng tựa như nhập Tài cung , dễ có cơ hội Thăng quan tiến chức , có Tài năng , có thể dựa vào sự nghiệp để phát triển . Hung = giảm Hung , công danh thấp kém , khó thành công hoặc muốn thành công phải trầy trật .

11/ Nhập PHÚC :
Mệnh chủ nhập Phúc = về phương diện tinh thần , cuộc sống khá thoải mái , hạnh phúc .
Thân chủ nhập Phúc = Hưởng phước , an nhàn , lười lao động hoặc ít dịp được lao động .Nếu Cát = Nhập Quý cách .
12/ Nhập PHỤ :
Mệnh chủ nhập Phụ = Lúc nhỏ được Cha / Mẹ chăm sóc , ưu ái 1 cách đặc biệt .
Thân chủ nhập Phụ : Khi lớn vẫn tiếp tục được Cha Mẹ chăm sóc , có khả năng chung sống với Cha Mẹ sau khi lập gia đình …Hoặc thường lo lắng , chăm sóc cho Cha Mẹ

KHI Thân / Mệnh chủ đồng cư 1 Cung thì coi như Tâm hồn ( tinh thần )và thể lực của mình đều đặt trọng tâm vào Cung đó , Cung này biến thành Cung có thể nói là tối quan trọng trong việc truy cầu suốt đời mình ( có truy cầu được hay không là chuyện khác , là do Cát Hung của Cung này ra sao và Thân / Mệnh chủ có ngộ Sát tinh , Không – Kiếp … Không vong …gì hay không) .

Nếu cung đó là Mệnh / Thân cung thì lúc này Thân / Mệnh chủ có thể trực tiếp đứng ra quản trị lá số ( Trên quyền lực của cả Chính tinh ), nhưng điều này chỉ là lý thuyết , chưa được kiểm chứng rộng rãi .

Đối với Chính tinh : Thì kết hợp với TC/ MC để xét đoán về Tư tưởng / Hình dáng / Tính tình ..

Đối với TRUNG/ TIỂU TINH thì xét đoán theo Tổ hợp (Bộ sao / Công thức ).

Ví dụ :

Mệnh cư Tý có Riêu – Kỵ hợp chiếu , MC là Cự môn (Mệnh cung không có Chính tinh là Cự môn ), thì thưở nhỏ có lần (hoặc 2,3 lần) bị té sông , té biển gần chết . Vì đã vô tình hình thành cách Riêu Cự Kỵ = bị Thủy nạn , nếu hội tại cung Sửu thì có thể té xuống chỗ nước có bùn , đá , hay ao hồ hoang vu (Sửu cung = vu đàm , chỗ đất bùn , lầy lội ).

Nguồn : Ma Y cung
Sửa lần cuối bởi can_spacy_77 vào lúc 18:29, 02/10/12 với 1 lần sửa.

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Apple [Bot], Bing [Bot], ChatGPT User, ChoiAnna, Claude [Bot], Criteo [Bot], fx6789, Google Adsense [Bot], HIEU2004Z, HOANGDUY2107, IAS Crawler, IAS OR, kimlong24188, loannb, Majestic-12 [Bot], Meta web [Bot], Perplexity [[Bot], Qchihi, Thatsatnguongdau85, TikTok [Spider], Trendiction [Bot], vanha_4001833 khách.