Cá nhân Undung chưa đủ tầm để khán xem kiến thức trên có điểm gì sai sót. Nếu quả thực chứng nghiệm thì đây sẽ là 1 cú shock lớn. Mong các cao nhân tử vi-tứ trụ-kinh dịch vào cùng bàn luận và cho ý kiến về vấn đề này.Các thành viên trong diễn đàn Lý Học Đông Phương thân mến,
" Tử Vi Lạc Việt là hệ quả của công trình nghiên cứu xác định một nguyên lý căn để của Lý học Đông phương là: Hậu Thiên lạc Việt phối Hà Đồ và xác định tính hợp lý từ nguyên lý căn để này của Lạc Thư Hoa giáp"
Tử vi Lạc Việt cơ bản khác với tất cả các diễn đàn khác ở chỗ đổi Thủy-Hỏa, vòng Tràng sinh và vị trí an Khôi Việt trên một vài lá số. Điều này gây bỡ ngỡ cho không ít các thành viên mới tham gia trên diễn đàn, từ đó vội vàng kết luận là Trình tử vi Lạc Việt sai và phản ứng của nhiều người có phần không tích cực.
Bởi vậy TM xin mở ra topic này với mong muốn lý giải các thắc mắc của nhiều người về sự khác biệt này. Nếu thành viên nào có băn khoăn, trước tiên xin vui lòng đọc và tìm hiểu kỹ trước khi nêu ra câu hỏi hay phản biện lại. Diễn đàn rất chào mừng các bạn có ham muốn tìm hiểu, tư vấn, đóng góp và trao đổi kiến thức. Cảm ơn các bạn vì đã quan tâm.
Dưới đây là một vài trích đoạn trong sách của thầy Thiên Sứ và kèm theo đường link các cuốn sách với các bạn muốn tìm hiểu sâu thêm:
Tác giả: Nguyễn Vũ Tuấn Anh
Nguồn: Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông Phương - Nhà xuất bản tổng hợp TP.HCM
Tiên quyết: Hà đồ chính là cơ sở của Hậu thiên bát quái Lạc Việt.
Xét về nội dung bản văn thì chỉ duy nhất cuốn Chu Dịch nói về sự ứng dụng khởi nguyên của Hà đồ. Bạn đọc quán xét đồ hình dưới đây:
http://i907.photobucket.com/albums/ac27 ... v-hdcc.jpg" target="_blank
Qua đồ hình trên – tạm thời để sang một bên những vấn đề liên quan đến vị trí Tốn & Khôn (Đã chứng minh trong cuốn “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” và tiếp tục chứng minh trong cuốn sách này) – quan tâm cũng nhận thấy một sự trùng khớp hoàn toàn cho 4 phương vị chính Đông – Tây – Nam – Bắc là:
* Khảm Thủy / Chính Bắc trong ứng dụng của Hậu thiên bát quái nằm ở độ số 1 chính Bắc / Thủy của Hà đồ (Hiện tượng này cũng trùng khớp khi Hậu thiên bát quái Văn Vương liên hệ Lạc thư, theo cổ thư chữ Hán).
* Chấn Mộc / Chính Đông trong ứng dụng của Hậu thiên bát quái nằm ở độ số 3 chính Đông / Mộc của Hà đồ (Hiện tượng này cũng trùng khớp khi Hậu thiên bát quái Văn Vương liên hệ Lạc thư, theo cổ thư chữ Hán).
* Đoài Kim / Chính Tây trong ứng dụng của Hậu thiên bát quái Lạc Việt nằm ở độ số 9 chính Tây / Kim của Hà đồ. Trong cổ thư chữ Hán thì Đoài kim nằm ở cung số 7 là độ số thuộc Hỏa của Lạc thư . Hỏa khắc Kim .
* Ly Hỏa / Chính Nam trong ứng dụng của Hậu thiên bát quái Lạc Việt nằm ở độ số 7 chính Nam / Hỏa của Hà đồ. Trong cổ thư chữ Hán thì Ly/ Hỏa nằm ở cung số 9 thuộc Kim của Lạc thư. Hỏa khắc Kim
Tính chất Ngũ hành của hai phương vị chính trong Hậu thiên Lạc Việt với Hà đồ không đổi so với Hậu thiên bát quái Văn Vương liên hệ với Lạc thư theo cổ thư chữ Hán là Khảm - Thủy Bắc và Chấn - Mộc Đông.
Nhưng tính hợp lý và nhất quán hoàn toàn với 4 chính quái trên lại chỉ có ở Hà đồ liên hệ với Hậu thiên bát quái Lạc Việt là:
* Khảm Thủy - Bắc nằm ở chính vị cung Dương Thủy Bắc, độ số 1 của Hà đồ .
* Chấn Mộc - Đông nằm chính vị cung Dương Mộc Đông, độ số 3 của Hà đồ .
* Ly Hỏa - Nam, nằm ở chính vị cung Dương Hỏa Nam, độ số 7 của Hà đồ .
* Đoài Kim – Tây, nằm ở chính vị cung Kim Tây của Hà đồ.
Như vậy, chỉ có Hà đồ liên hệ với Hậu thiên bát quái Lạc Việt – mới chứng tỏ sự trùng khớp một cách hợp lý, nhất quán với mối liên hệ thực tế của sự khởi nguyên nền Lý học Đông phương trong Chu Dịch.
Tính hợp lý trùng khớp hoàn toàn này đã phủ nhận mối liên hệ giữa Hậu thiên Văn Vương với Lạc thư theo cổ thư chữ Hán.
Sự kết hợp của Hà đồ với Hậu thiên bát quái Lạc Việt, chính là chìa khóa rất quan yếu để mở kho tàng văn hóa Đông phương đầy huyễn ảo một cách kỳ vĩ, khi bụi thời gian phủ dầy lên nền văn hiến một thời vàng son của người Lạc Việt.
Trích dẫn 1: Hà đồ và nguyên lý cấu thành Hoa Giáp
I. Hà đồ và nguyên lý nghịch trong cấu thành Lạc thư hoa Giáp từ cổ thư chữ Hán
Trước hết, chúng ta xét đến độ số được sử dụng trong “Tinh lịch khảo nguyên”.
Tinh lịch khảo nguyên viết:
Trong 49 giảm bớt đi, số thừa đủ 10 trở đi dư 1, 6 là Thủy; dư 2, 7 là Hỏa; dư 3, 8 là Mộc; dư 4, 9 là Kim; dư 5,10 là Thổ, đều dùng chỗ Ngũ hành sinh làm nạp âm, như thế thì giống với Hà đồ. Lại như phép đếm cỏ thi dùng sách thừa để định cơ (lẻ) ngẫu (chẵn), như thế dùng số thừa để định Ngũ hành, lý đó đúng và hợp nhau vậy. Như Giáp là 9, Tí là 9; Ất là 8, Sửu là 8, tổng cộng là 34, lấy 49 trừ cho 34 dư ra 15, bỏ 10 không dùng, lấy 5 là Thổ mà Thổ sinh Kim, vì vậy đặt là Kim. Bính Dần, Đinh Mão hợp số là 26, lấy 49 trừ cho 26 dư ra 23, bỏ 20 không dùng, lấy 3 là Mộc mà Mộc sinh Hỏa, vì vậy đặt là Hỏa. Mậu Thìn, Kỷ Tỵ hợp số là 23, lấy 49 trừ cho 23 dư ra 26, bỏ 20 không dùng, lấy 6 là Thủy mà Thủy sinh Mộc, vì vậy đặt là Mộc. Canh Ngọ, Tân Mùi hợp số là 32, lấy 49 trừ đi cho 32 dư ra 17, bỏ 10 không dùng, lấy 7 là Hỏa mà Hỏa sinh Thổ, vì vậy đặt là Thổ. Ngoài ra phỏng theo như thế”. Đây chính là số của Hà đồ và Tinh lịch khảo nguyên cũng công nhận điều này (Phần in đậm). Vì số Hà đồ mang tính qui luật thể hiện sự vận động của ngũ tinh cho nên sự trùng khớp này chứng tỏ bảng Lục thập hoa giáp lưu truyền trong cổ thư chữ Hán cũng phải dựa trên một nguyên tắc hoặc qui luật có liên hệ với Hà đồ. Về tính qui luật và nguyên tắc trong bảng lục thập hoa giáp lưu truyền trong cổ thư chữ Hán, người viết trình bày và minh chứng như sau:
Bắt đầu từ:
1. Hành Kim Giáp Tí-Ất Sửu = Hải trung Kim: Kim sinh (Mạnh); cách 8 năm (Cách bát sinh tử) đến Nhâm Thân-Quý Dậu = Kiếm phong Kim: Kim vương (Trọng); cách 8 năm đến Canh Thìn-Tân Tỵ = Bạch Lạp Kim: Kim mộ (Quý).
Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của Kim - tổng số là 24 năm; nghịch theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Hỏa là:
2. Hành Hỏa Mậu Tí - Kỷ Sửu = Tích Lịch Hỏa (Sinh); cách 8 năm đến:Bính Thân - Đinh Dậu = Sơn hạ Hỏa (Vượng); cách 8 năm đến: Giáp Thìn - Ất Tỵ= Phúc Đăng Hỏa (Mộ).
Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Hỏa - tổng số là 24 năm; nghịch theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Mộc là:
3. Hành Mộc Nhâm Tí-Quý Sửu = Tang đố Mộc (Sinh); cách 8 năm đến Canh Thân-Tân Dậu = Thạch Lựu Mộc (Vượng); cách 8 năm đến Mậu Thìn-Kỷ Tỵ = Đại Lâm Mộc (Mộ).
Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Mộc - tổng số là 24 năm; nghịch theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Thủy là:
4. Hành Thuỷ Bính Tí-Đinh Sửu = Giáng hạ Thủy (Sinh); cách 8 năm đến: Giáp Thân-Ất Dậu =Tuyền trung Thủy (Vượng); cách 8 năm đến:Nhâm Thìn-Quý Tỵ = Trường Lưu Thủy(Mộ).
Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Thủy - tổng số là 24 năm; nghịch theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Thổ là:
5. Hành Thổ Canh Tí-Tân Sửu = Bích thượng Thổ (Sinh); cách 8 năm đến: Mậu Thân-Kỷ Dậu = Đại dịch Thổ (Vượng); cách 8 năm đến: Bính Thìn-Đinh Tỵ = Sa trung Thổ (Mộ).
Kết thúc chu kỳ Sinh – Vượng – Mộ của hành Thổ - tổng số là 24 năm.
Qui luật cách bát sinh tử và Sinh Vượng Mộ - được lặp lại với nguyên tắc nghịch chiều kim đồng hồ trên Hà đồ ở trên bắt đầu từ Giáp Ngọ - Ất Mùi = Sa Trung Kim (Sinh) tiếp tục cho đến hết 60 năm của một hoa giáp.
Xin bạn đọc xem hình sau đây:
Nguyên lý nạp âm Lục thập hoa giáp trong cổ thư chữ Hán
http://i907.photobucket.com/albums/ac27 ... en/nah.jpg" target="_blank
Như vậy, người viết đã chứng tỏ một tính quy luật và nguyên lý trong việc sắp xếp nạp âm 60 hoa giáp lưu truyền từ cổ thư chữ Hán, liên quan đến Hà đồ. Mặc dù đây là một nguyên lý sai. Nhưng chính tính qui luật nghịch chiều của nguyên lý này đã làm nên sự trùng khớp về độ số với Hà đồ của bảng Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán mà Tinh lịch khảo nguyên nói tới; và sự trùng khớp về Ngũ hành giữa Ngũ Âm (Mang qui luật Ngũ hành) và hành khí của nạp âm trong Lục thập hoa giáp mà Chu Hy nói tới.
Tính qui luật là một trong những yếu tố cần của một lý thuyết khoa học. Nhưng đó lại chưa phải là yếu tố đủ và quyết định. Sự sai lầm của tính qui luật chủ quan trong nguyên tắc này trong việc lập thành bảng 60 hoa giáp từ cổ thư chữ Hán thể hiện ở những điểm sau đây:
1. Hà đồ là một đồ hình biểu lý cho sự tương tác của vũ trụ với Địa cầu theo chiều thuận kim đồng hồ (Sự vận động của các thiên thể theo chiều nghịch. Đây chính là biểu lý của Lạc thư =Dương: Biểu lý cho vật thể/ thiên thể = Âm. Hà đồ = Âm: Biểu lý cho sự tương tác theo chiều thuận: Dương). Do đó, không thể căn cứ trên đồ hình căn nguyên của nó mà lại đi theo chiều ngược với chính nguyên lý của nó.
2. Chính vì sai lầm của nguyên tắc ngược chiều kim đồng hồ trên Hà đồ, nên qui luật cách bát sinh tử chỉ thể hiện giới hạn trong chính hành đó (Sinh - Vượng - Mộ) mà không thể hiện được ở các hành tiếp nối. Thí dụ:
Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Kim thì đáng lẽ phải là hành Thủy (Con do Kim sinh; Kim sinh Thuỷ) thì trong bảng Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán lại là hành Hỏa?
Nhưng có thể nói rằng: Ngay chính cả cái nguyên tắc sai này cũng không được phát hiện trong cổ thư chữ Hán cho đến tận bây giờ. Những phương pháp tính toán trong Tinh lịch khảo nguyên mới chỉ có tính tiếp cận với độ số Hà đồ mà thôi.
Chính những sai lệch này đã đẩy nền văn minh Đông phương trở thành huyền bí, khi mà những nguyên lý của một siêu lý thuyết vũ trụ quan thất truyền trải hàng thiên niên kỷ. Đã hàng ngàn năm trôi qua, mặc dù hết sức cố gắng, người ta cũng không thể khám phá những bí ẩn của nền văn hoá phương Đông huyền vĩ. Đơn giản chỉ là:
Người ta không thể tìm ra một cái đúng từ một cái sai.
Bởi vậy, ông Thiệu Vĩ Hoa - một nhà nghiên cứu nổi tiếng Trung Hoa hiện đại - đã phải thừa nhận rằng:
Nạp âm Ngũ hành trong bảng 60 Giáp Tý căn cứ theo nguyên tắc gì để xác định; người xưa tuy có bàn đến nhưng không có căn cứ rõ ràng và cũng chưa bàn được minh bạch. Do đó vẫn là huyền bí khó hiểu. Bảng 60 Giáp Tý biến hoá vô cùng; đối với giới học thuật của Trung Quốc cho đến nay vẫn là huyền bí khó hiểu”. Sự phục hồi những nguyên lý của học thuật cổ Đông phương chỉ có thể thực hiện từ nền văn minh Lạc Việt, mà hậu duệ chính là dân tộc Việt Nam hiện nay. Để phục hồi lại nạp âm của bảng Hoa giáp này, chúng ta cũng phải tìm trong Hà đồ.
II. Hà đồ và nguyên lý thuận trong cấu thành Lạc thư hoa Giáp từ văn minh Lạc Việt
Trong phần trên, người viết đã chứng tỏ nguyên tắc nạp âm của bảng Lục thập hoa giáp lưu truyền qua cổ thư chữ Hán là:
Chu kỳ cách bát sinh tử và nguyên lý Sinh - Vượng - Mộ của một hành trong 24 năm kết thúc thì chuyển sang hành khác – theo chiều ngược kim đồng hồ trên Hà đồ.
Người viết đã chứng tỏ nguyên tắc nạp âm trong bảng Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán là một nguyên tắc sai so với nguyên lý tạo nên nó là Hà đồ.
Bởi vì, Hà đồ là đồ hình biểu lý cho sự tương tác có tính qui luật của ngũ tinh - Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ - trong Thái Dương hệ. Điều này đã được chứng minh trên thực tế qua trình thiên văn Skymap pro. Các hành tinh vận động theo chiều ngược kim đồng hồ, nên sự tương tác sẽ theo chiều thuận và đây cũng chính là chiều Ngũ hành tương sinh của Hà đồ; thuận với chiều tương sinh của Ngũ hành trong 4 mùa của Địa Cầu.
Do đó, tính hợp lý với phương pháp “Sinh Vượng Mộ” và “Cách bát sinh tử” theo đồ hình biểu lý của nó là Hà đồ thì cũng phải theo đúng qui luật này.
Vậy, thực chất bản thể nguyên Thủy của bảng hoa giáp theo nguyên lý của Hà đồ phải là thuận theo chiều tương sinh của nó. Phần tiếp theo đây chứng tỏ điều này.
1. Nguyên tắc nạp âm Lạc thư Hoa giáp
Sách của người Lạc Việt viết về chu kỳ 60 năm
Nguyên lý nạp âm của Lạc thư hoa giáp vẫn ứng dụng những nguyên lý cơ bản được phát hiện trong cổ thư chữ Hán là:
* Qui luật Cách bát sinh tử.
* Chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ
* Căn cứ trên Hà đồ và tuân theo nguyên lý THUẬN chiều kim đồng hồ của đồ hình này, chúng ta sẽ có bảng Lạc thư hoa giáp. Qui luật sắp xếp của Lạc thư hoa giáp chỉ khác bảng lưu truyền qua cổ thư chữ Hán ở vị trí hai hành Thủy và Hỏa.
Điều này được trình bày như sau
Bắt đầu từ hành Kim:
1. Hành Kim
Giáp Tí- Ất Sửu = Hải trung Kim: Kim Sinh (Mạnh); cách 8 năm (Cách bát sinh tử) đến Nhâm Thân-Quý Dậu = Kiếm phong Kim: Kim Vượng (Trọng); cách 8 năm đến Canh Thìn-Tân Tỵ = Bạch Lạp Kim:Kim Mộ (Quý).
* Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của Kim - tổng cộng 24 năm.
Thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Thủy
Bạn đọc lưu ý: Thủy là con do Kim sinh.
Theo bảng Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán thì sau hành Kim là Hỏa. Điều này không thể hiện được qui luật “Cách bát sinh tử”. Bởi vì Hỏa khắc Kim và không phải con (Tử) của Kim.
2. Hành Thuỷ:
Mậu Tí - Kỷ Sửu = Giản hạ:Thủy (Sinh), cách 8 năm đến: Bính Thân - Đinh Dậu = Tuyền trung: Thủy (Vượng), cách 8 năm đến: Giáp Thìn-Ất Tỵ = Trường lưu:Thủy (Mộ).
* Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Thủy - Tổng cộng 24 năm.
Thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Mộc (Mộc là con do Thủy sinh) là:
3. Hành Mộc:
Nhâm Tí-Quý Sửu = Tang đố Mộc (Sinh), cách 8 năm đến Canh Thân-Tân Dậu = Thạch Lựu Mộc (Vượng), cách 8 năm đến Mậu Thìn - Kỷ Tỵ= Đại Lâm Mộc (Mộ).
* Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Mộc - Tổng cộng 24 năm.
Thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Hỏa (Hỏa là con do Mộc sinh) là:
4. Hành Hỏa
Bính Tí-Đinh Sửu = Lư trung Hỏa (Sinh), cách 8 năm đến:Giáp Thân-Ất Dậu = Sơn đầu Hỏa (Vượng), cách 8 năm đến: Nhâm Thìn - Quý Tỵ = Tích lịch Hỏa (Mộ).
* Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Hỏa - Tổng cộng 24 năm.
Thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Thổ (Thổ là con do Hỏa sinh) là:
5. Hành Thổ
Canh Tí-Tân Sửu = Bích thượng Thổ (Sinh); cách 8 năm đến: Mậu Thân-Kỷ Dậu = Đại dịch Thổ (Vượng); cách 8 năm đến Bính Thìn-Đinh Tỵ = Sa trung Thổ (Mộ).
* Kết thúc chu kỳ Sinh – Vượng – Mộ của hành Thổ.
Đến đây là kết thúc một kỷ 30 năm của Lạc thư hoa giáp. Qui luật “Cách bát sinh tử” được lặp lại với nguyên tắc thuận chiều kim đồng hồ trên Hà đồ ở trên bắt đầu từ Giáp Ngọ - Ất Mùi = Sa Trung Kim (Sinh) tiếp tục cho đến hết tạo thành bảng Lạc thư Hoa giáp với chu kỳ 60 năm. Nguyên tắc thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ (Chiều Ngũ hành tương sinh) và vẫn ứng dụng qui luật Cách bát sinh tử với Sinh - Vượng - Mộ, được minh họa bằng hình sau đây:
Nguyên tắc nạp âm Lạc thư hoa Giáp
Theo chiều tương sinh thuận chiều kim đồng hồ trên Hà đồ
http://i907.photobucket.com/albums/ac27 ... en/nav.jpg" target="_blank
Người viết xin được thể hiện chu kỳ của hai bảng Lạc thư hoa giáp và Lục thập hoa giáp lưu truyền qua cổ thư chữ Hán qua hình tròn để bạn đọc quan tâm dễ dàng so sánh tính tính quy luật và hợp lý giữa hai bảng như sau:
http://i907.photobucket.com/albums/ac27 ... yen/hg.jpg" target="_blank
http://i907.photobucket.com/albums/ac27 ... en/hg2.jpg" target="_blank
Qua hai đồ hình so sánh ở trên, qua những luận điểm chứng minh cho nguyên tắc và qui luật tạo thành bảng Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán và Lạc thư hoa giáp từ nền văn minh Lạc Việt, bạn đọc cũng nhận thấy tính qui luật và sự trùng khớp hợp lý của những giá trị nội tại tạo nên bảng Lạc thư hoa giáp. Đồng thời, bạn đọc cũng nhận thấy tính bất hợp lý trong bảng Lục thập hoa giáp lưu truyền trong cổ thư chữ Hán, chính vì sự sai lệch ngay từ nguyên lý của nó - Nghịch hành theo chiều ngược từ phải sang trái của Hà đồ. Trong khi đó, Hà đồ là đồ hình biểu lý Ngũ hành tương sinh theo chiều thuận. Đó chính là nguyên nhân để hàng ngàn năm trôi qua, biết bao học giả cổ kim thuộc văn minh Hoa Hạ không thể khám phá ra bí ẩn của nó.
Người ta không thể tìm ra một cái đúng từ một cái sai.
Qua những chứng minh ở trên, người viết đã chứng tỏ rằng: Chính Hà đồ là nguyên lý của chu kỳ hoa giáp 60 năm trong Lý học Đông phương dù theo cách nào: Hán cổ hay Lạc thư hoa giáp.
Hà đồ là một đồ hình căn bản trong Lý học Đông phương và được chứng minh trong luận đề “Hà đồ và văn minh Lạc Việt”, đồng thời cũng được chứng tỏ trong di sản văn hoá dân gian Lạc Việt là bức tranh thờ Ngũ Hổ của phường Hàng Trống với danh xưng: Pháp Đại uy nỗ.
Đây là điều không hề có trong các bản văn Hán cổ.
Dưới đây là bảng Lạc thư hoa giáp từ nền văn minh Lạc Việt để quí vị quan tâm so sánh và ứng dụng thay thế cho bảng Lục thập hoa giáp theo cổ thư chữ Hán.
2. Lạc thư hoa giáp
Sách của người Lạc Việt viết về quy luật tuần hoàn 60 năm trong vũ trụ
KỶ THỨ NHẤT
Lục khí - Vận 1
Tam Âm Tam Dương
Giáp Tí. Ất Sữu = Hải Trung Kim
Bính Dần. Đinh Mão = Tuyền Trung Thuỷ
Mậu Thìn.Kỷ Tỵ = Đại Lâm Mộc
Lục khí - Vận 2
Tam Âm Tam Dương
Canh Ngọ. Tân Mùi = Lộ BàngThổ
Nhâm Thân. Quí Dậu = Kiếm Phong Kim
Giáp Tuất. Ất Hợi = Trường Lưu Thuỷ
Lục khí - Vân 3
Tam Âm Tam Dương
Bính Tí, Đinh Sữu = Tích Lịch Hoả
Mậu Dần, Kỷ Mão = Thành Đầu Thổ
Canh Thìn, Tân Tỵ = Bạch Lạp Kim
Lục khí - Vận 4
Tam Âm Tam Dương
Nhâm Ngọ, Quí Mùi = Dương Liễu Mộc
Giáp Thân, Ất Dậu = Lư Trung Hoả
Bính Tuất, Đinh Hợi = Ốc Thượng Thổ
Lục khí - Vận 5
Tam Âm Tam Dương
Mậu Tí, Kỷ Sữu = Giáng Hạ thuỷ
Canh Dần, Tân Mão = Tùng Bách Mộc
Nhâm Thìn, Quí Tỵ = Sơn Đầu Hoả
KỶ THỨ II
Lục khí - vận 1
Tam Âm Tam Dương
Giáp Ngọ, Ất Mùi = Sa Trung Kim
Bính Thân, Đinh Dậu = Đại Khê Thuỷ .
Mậu Tuất, Kỷ Hợi = Bình Địa Mộc
Lục Khí - Vận 2
Tam Âm Tam Dương
Canh Tí, Tân Sữu = Bích Thượng Thổ
Nhâm Dần, Quí Mão = Kim Bạch Kim
Giáp Thìn, Ất Tỵ = Đại Hải Thuỷ
Lục Khí - Vận 3
Tam Âm Tam Dương
Bính Ngọ, Đinh Mùi = Thiên Thượng Hoả
Mậu Thân, Kỷ Dậu = Đại Dịch Thổ
Canh Tuất, Tân Hợi = Thoa Xuyến Kim
Lục khí - Vận 4
Tam Âm Tam Dương
Nhâm Tí, Quí Sữu = Tang Đố Mộc
Giáp Dần, Ất Mão = Sơn Hạ Hoả
Bính Thìn, Đinh Tỵ = Sa Trung Thổ
Lục khí - Vận 5
Tam Âm Tam Dương
Mậu Ngọ, Kỷ Mùi = Thiên Hà Thuỷ
Canh Thân, Tân Dậu =Thạch Lựu Mộc
Nhâm Tuất, Quí Hợi = Phúc Đăng Hoả.
http://i907.photobucket.com/albums/ac27 ... en/kt1.jpg" target="_blank
http://i907.photobucket.com/albums/ac27 ... en/kt2.jpg" target="_blank
Trên thực tế, người viết bài này đã ứng dụng Lạc thư hoa giáp thay thế cho bảng Lục thập hoa giáp lưu truyền từ cổ thư chữ Hán, trong tất cả những vấn đề liên quan.
Trích dẫn 2: Tính hợp lý của độ số Cục trong Tử vi và Lạc Thư Hoa Giáp
Hầu hết những người có tìm hiểu về Tử Vi đều biết cục số của Tử Vi lưu truyền trong cổ thư chữ Hán là:
Thủy - NHỊ Cục.
Mộc - Tam Cục.
Kim - Tứ Cục
Thổ - Ngũ Cục
Hỏa - LỤC Cục
Bây giờ chúng ta cùng quán xét độ số trên Hà đồ với độ số cục do cổ thư viết bằng chữ Hán thì chúng khác nhau ở cục số của Thủy / Hỏa.
Điều này được mô tả như sau:
http://i907.photobucket.com/albums/ac27 ... en/cs1.jpg" target="_blank
Như vậy; chúng ta cũng nhận thấy rằng sự sai lệnh này ở đúng vị trí của hai hành Thuỷ/Hỏa. Chúng ta cũng biết rằng:
Hành của cục trong Tử Vi chính là hành của tháng an Mệnh theo năm sinh của đương số.
Bởi vậy, khi Thuỷ/ Hỏa đã đổi chỗ cho nhau trong Lục thập hoa giáp thì hành của cục cũng sẽ đổi Thủy & Hỏa. Điều này được miêu tả so sánh như sau:
http://i907.photobucket.com/albums/ac27 ... en/cs2.jpg" target="_blank
Qua sự so sánh trên, chúng ta lại thấy một sự trùng khớp hợp lý giữa độ số cục trong Lạc thư hoa giáp với Hà đồ, vốn là nguyên lý căn bản của nó.
Còn bảng Lục thập hoa giáp lưu truyền qua cổ thư chữ Hán thì ngay cả người Hán cũng chẳng biết nguyên lý nào tạo ra nó và rối mù. Trước hết là không có tính nhất quán bởi độ số cục ngay từ đồ hình khởi nguyên của nó là Hà đồ (Đã chứng minh ở trên: Nguyên lý nghịch chiều tương sinh của Hà đồ).
Người viết đã hân hạnh trình bày về tính qui luật và khả năng tiên tri là hai trong số những tiêu chí để thẩm định một lý thuyết khoa học.
Không có tính qui luật thì không có khả năng tiên tri.
Xét về góc độ khoa học thì khả năng tồn tại một phương pháp tiên tri là hệ quả tất yếu của một lý thuyết khoa học đã hoàn chỉnh. Bởi vậy, tính qui luật là không thể thiếu được, đó là yếu tố cần trong một lý thuyết thống nhất và hoàn chỉnh. Điều này không thể tìm thấy trong các bản văn chữ Hán lưu truyền từ hàng ngàn năm nay. Bởi vì, một lý thuyết tiền đề bị thất truyền. Khả năng tiên tri trong các phương pháp ứng dụng từ các cổ thư này - vốn là hệ quả của một lý thuyết - bị hạn chế bởi những sai lệch.
Ứng dụng của cục số trong Lạc thư hoa Giáp và tử vi
Từ khi cuốn “Thời Hùng Vương và bí ẩn Lục thập hoa giáp” được phát hành 1999, đã được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu về ảnh hưởng của sự thay đổi hành Thủy & Hỏa trong Lạc thư hoa giáp trong ứng dụng .Do đó, người viết xin được dành phần này để nói rõ hơn về thực chất của sự thay đổi hai hành Thủy & Hỏa trong bảng Hoa giáp.
- Sự thay đổi Thủy Hỏa trong bảng hoa giáp chỉ giới hạn trong hai hành Thủy và Hỏa, không có sự thay đổi ở các hành khác.
- Sự thay đổi Thủy Hỏa trong bảng hoa giáp chỉ giới hạn ở nạp âm trong chu kỳ 60 hoa giáp, không phải là sự thay đổi ở những vấn đề liên quan khác giữa Thủy & Hỏa trong thuyết Âm Dương Ngũ hành. Có người cho rằng sự thay đổi này trong bảng hoa giáp thì Thủy & Hỏa trong thập Thiên Can và Địa chi cũng phải thay đổi là một sai lầm. Thí dụ như cho rằng: Bính Đinh Hỏa phải đổi thành Thủy, hoặc Tỵ Ngọ Hỏa cũng đổi thành Thủy là sai lầm.
- Sự thay đổi Thủy & Hỏa trong bảng hoa giáp là một sự hiểu chỉnh hạn chế chỉ ứng dụng trong hai hành Thủy & Hỏa, chứ không phải là một sự phủ định tính tương tác của Ngũ hành trong bảng hoa giáp với những vấn đề liên quan.
- Sự thay đổi hành Thủy & Hỏa trong Lạc thư hoa giáp so với Lục thập hoa giáp chứng tỏ sự sai lệch trong cổ thư chữ Hán truyền lại, là một trong sự phát triển tất yếu tiến tới sự hoàn chỉnh, nhất quán, nhằm chứng tỏ quan niệm cho rằng:
Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết nhất quán, hoàn chỉnh và là một lý thuyết thống nhất, giải thích từ sự hình thành vũ trụ cho đến mọi vấn đề liên quan đến con người với khả năng tiên tri. Học thuyết này thuộc về dân tộc Việt, là nền tảng của danh xưng văn hiến với lịch sử gần 5000 năm của dân tộc Việt và là cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương. Quan niệm này nhân danh khoa học, nên nó phải đáp ứng đầy đủ những tiêu chí của khoa học hiện đại.
Bảng Hoa giáp là một trong những nguyên tắc căn bản về thời gian trong những ứng dụng của học thuật cổ Đông phương. Cho nên,tính tất yếu của sự hiệu chỉnh hai hành Thủy & Hỏa này sẽ dẫn đến sự hiểu chỉnh trong một số sự ứng dụng liên quan. Những bộ môn ứng dụng nào không liên quan đến nạp âm Ngũ hành trong bảng Hoa giáp sẽ không bị ảnh hưởng bởi sự hiệu chỉnh này. Thí dụ trong Tử Vi sự hiệu chỉnh này sẽ ảnh hưởng tới những người có cục và Mệnh thuộc Thủy và Hỏa.
Trong trường hợp chúng ta lấy Tử vi theo các chương trình Tử vi vi tính đã lập sẵn - vốn căn cứ theo bảng Lục thập hoa giáp lưu truyền từ cổ thư chữ Hán - thì chỉ khi:
- Gặp mạng Thủy và Hỏa sẽ đối chiếu với bảng Lạc thư hoa giáp để hiệu chỉnh lại. Thí dụ: trước đây mạng là: Giáng Hạ Thủy, nay là Lư Trung Hỏa.
- Gặp cục Thủy & Hỏa thì sửa đổi lại và tất yếu những chòm sao và sao liên quan đến Cục Thủy hay Hỏa phải an lại theo đúng tính chất của cục đó.
Thí dụ:
Theo sách cổ chữ Hán, đương số có Thủy Nhị Cục. Vì Thủy cục nên Trường sinh bắt đầu từ Thân. Nay theo Lạc thư hoa giáp là Hỏa Nhị Cục, Trường sinh bắt đầu từ Dần.
- Tất cả những câu phú và phương pháp luận đoán liên quan đến Thủy & Hỏa vẫn giữ nguyên giá trị, nhưng ứng dụng cho bảng Lạc thư hoa giáp. Thí dụ:
Người có mệnh (Hoặc hạn) gặp Tử Phủ cư Dần tốt cho Hỏa và không tốt cho Thủy vẫn nguyên giá trị.
Nhưng điều này ứng dụng cho Lạc thư hoa giáp.
Sự luận đoán đúng sai vẫn còn tuỳ thuộc vào yếu tố khả năng của người luận đoán. Nhưng cùng một người luận đoán và một phương pháp luận đoán sẽ là sự kiểm chứng tính chính xác của Lạc thư hoa giáp.
Một trong những tiêu chí khoa học là:
Không có tính quy luật thì không thể có khả năng tiên tri.
Nền văn minh Lạc Việt, từ những di sản văn hoá phi vật thể đã chứng tỏ tính hoàn chỉnh, nhất quán, tính quy luật, khả năng giải thích một cách hợp lý các vấn đề liên quan và khả năng tiên tri. Người viết rất cảm ơn sự quan tâm của quí vị nghiên cứu về môn Tử Vi sẽ có thời gian thực nghiệm tính hợp lý của Lạc thư hoa giáp, nhân danh nền văn minh Lạc Việt với gần 5000 năm văn hiến.
Tính hợp lý của nguyên lý căn bản trong tính ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành là: Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ không chỉ dừng lại ở sự giải thích những phương pháp ứng dụng trong thuật phong thủy. Mà còn phải chứng tỏ tính hợp lý đó trong tất cả những phương pháp ứng dụng liên quan, theo đúng tiêu chí khoa học hiện đại.
Trong chương này nguyên lý căn bản Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ tiếp tục chứng minh khả năng chứng giải một cách hợp lý, có tính qui luật, tính khách quan và nhất quán trong một phương pháp tiên tri nổi tiếng và huyền vĩ của học thuật Đông phương cổ là Tử Vi Đẩu số. Đồng thời, người viết tiếp tục minh chứng với bạn đọc quan tâm về một thực tại đàng sau những giá trị của học thuật cổ Đông phương. Đó chính là sự vận động tương tác có tính quy luật của vũ trụ.
Thủy Hỏa đổi chỗ??-Bí ẩn 60 Hoa Giáp
Nội qui chuyên mục
Đây là chuyên mục dành cho việc xem lá số tử vi. Các bài mang tính trao đổi học thuật xin vui lòng đăng trong mục Kiến thức tử vi.
Không được đính kèm lá số của trang web khác. Các bài không liên quan sẽ bị chuyển khỏi chuyên mục này.
Đây là chuyên mục dành cho việc xem lá số tử vi. Các bài mang tính trao đổi học thuật xin vui lòng đăng trong mục Kiến thức tử vi.
Không được đính kèm lá số của trang web khác. Các bài không liên quan sẽ bị chuyển khỏi chuyên mục này.
-
Ungdung132
- Lục đẳng

- Bài viết: 2993
- Tham gia: 21:09, 25/05/12
Thủy Hỏa đổi chỗ??-Bí ẩn 60 Hoa Giáp
Xin được phép trích dẫn 1 đoạn nghiên cứu của bác Thiên Sứ trên lyhocdongphuong
-
Ungdung132
- Lục đẳng

- Bài viết: 2993
- Tham gia: 21:09, 25/05/12
TL: Thủy Hỏa đổi chỗ??-Bí ẩn 60 Hoa Giáp
Tác giả bài viết này có từng gây rất nhiều tranh cãi, thay đổi các kiến thức xưa nay. Về các bài phản biện thì ungdung đã đọc qua, nhưng chưa thấy nói về vấn đề nêu trên và chiều đi của Ngụ hành Nạp Âm. Mong có cao nhân vào giải đáp giúp thắc mắc.
-
Luffive
- Nhị đẳng

- Bài viết: 438
- Tham gia: 00:10, 10/03/14
TL: Thủy Hỏa đổi chỗ??-Bí ẩn 60 Hoa Giáp
Mình đã đọc qua các bài nghiên cứu của bác Thiên sứ, tất cả từ đầu đến cuối mình đều thấy chặt chẽ và rất hợp lý, mọi lỹ thuyết đều gắn kết với nhau. Và thật sự đây ko chỉ là cú sôc đối với những thầy luận giải tử vi hay tử bình trụ và các môn khác. Mà đây là lý thuyết thống nhất cho toàn bộ các môn khoa học trong vũ trụ. chấn động đến tất cả giới khoa học và huyền học.
-
xuankiemtran
- Nhất đẳng

- Bài viết: 122
- Tham gia: 21:06, 03/05/13
TL: Thủy Hỏa đổi chỗ??-Bí ẩn 60 Hoa Giáp
Xời, vấn đề này đã gây tranh cãi rất nhiều kể từ khi bác Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh công bố lý thuyết về Hậu Thiên Việt. Nhìn chung hưởng ứng có , bác bỏ có. Nhưng mấu chốt gây tranh cãi không phải chủ yếu là cái Lạc Thư hoa giáp Thủy - Hỏa đổi chỗ kia mà là vì Hậu Thiên Việt sử dụng lý thuyết hoàn toàn khác : hoán vị Tốn - Khôn trên hậu thiên bát quái ! Đánh mạnh 1 chưởng vào nền tảng huyền học hiện nay 
Như vậy với việc đổi chỗ này, lý thuyết của Hậu Thiên Việt chủ yếu dựa trên nền tảng là Hà Đồ mà sẽ gần như không còn khái niệm Lạc Thư nữa. Hệ quả của việc hoán vị này là phải sửa lại lý thuyết của hầu hết các môn còn lại. Các vị khác chả "giãy nảy " lên là đúng rồi chớ còn gì nữa
Như vậy với việc đổi chỗ này, lý thuyết của Hậu Thiên Việt chủ yếu dựa trên nền tảng là Hà Đồ mà sẽ gần như không còn khái niệm Lạc Thư nữa. Hệ quả của việc hoán vị này là phải sửa lại lý thuyết của hầu hết các môn còn lại. Các vị khác chả "giãy nảy " lên là đúng rồi chớ còn gì nữa
-
Luffive
- Nhị đẳng

- Bài viết: 438
- Tham gia: 00:10, 10/03/14
TL: Thủy Hỏa đổi chỗ??-Bí ẩn 60 Hoa Giáp
ý kiến của xuankiemtran thế nào, bạn theo lý thuyết đó hay bác bỏ nó, mình có lấy lá số tử vi bên diễn đàn đó vài lần và thấy có độ chính xác cao ( với những lá khác bên này )
-
xuankiemtran
- Nhất đẳng

- Bài viết: 122
- Tham gia: 21:06, 03/05/13
TL: Thủy Hỏa đổi chỗ??-Bí ẩn 60 Hoa Giáp
Thực tiễn sẽ chứng minh lý thuyết. Nếu bạn tin nó, cứ dùng lấy. Vì lý thuyết mà bác Thiên Sứ công bố là hoàn toàn mới trong khi từ hàng ngàn đời nay nền tảng về Hậu Thiên Tàu - Lạc Thư đã ngấm vào máu, ăn sâu vào những người nghiên cứu huyền học rồi. Muốn họ từ bỏ cả 1 hệ thống lý luận đã trải qua bao đời để học lại từ đầu trước một vấn đề hoàn toàn mới mẻ thì đâu có dễ, chắc cần thời dan còn dài dài ...
Thế nên những giá trị thực tiễn từ những luận đoán từ Hậu Thiên Việt có thể sẽ có giá trị để nâng tầm hệ thống lý luận này trong 1 tương lai không xa. Có thể không chỉ người Việt dùng hàng Việt mà có khi còn lan sang Tàu nữa chứ chả đùa
Và biết đâu vào 1 ngày nào đó, Kinh Dịch là của người Việt chúng ta thật !
Thế nên những giá trị thực tiễn từ những luận đoán từ Hậu Thiên Việt có thể sẽ có giá trị để nâng tầm hệ thống lý luận này trong 1 tương lai không xa. Có thể không chỉ người Việt dùng hàng Việt mà có khi còn lan sang Tàu nữa chứ chả đùa
Và biết đâu vào 1 ngày nào đó, Kinh Dịch là của người Việt chúng ta thật !
- wuaaiha
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 1426
- Tham gia: 19:13, 30/05/13
- Đến từ: https://www.facebook.com/daotuvi?ref=hl http://tuvivietnam.vn/threads/thong-bao ... -lop-tu-vi
TL: Thủy Hỏa đổi chỗ??-Bí ẩn 60 Hoa Giáp
kinh dịch được chứng mình là của vn rồi mà a
em thì đang thắc mắc ngu liêu nó có ứng ng ở với nam bán cầu hơn ko ~.~
-
Ungdung132
- Lục đẳng

- Bài viết: 2993
- Tham gia: 21:09, 25/05/12
TL: Thủy Hỏa đổi chỗ??-Bí ẩn 60 Hoa Giáp
Bác ý đổi chỗ 2 quẻ Tốn Khôn, từ đó suy ra nhiều thứ rất dị
Như chiều Sinh của Ngũ hành là 2 chiều. Ví dụ Thủy sinh Mộc thì Mộc cũng sinh dc Thủy
Có cả web nghiên cứu ở đây
http://vietdich.blogspot.com/" target="_blank
Các bài phản biện lý thuyết này cũng nhiều, trên lyso mình cũng có
viewtopic.php?f=31&t=5958&start=10" target="_blank
Như chiều Sinh của Ngũ hành là 2 chiều. Ví dụ Thủy sinh Mộc thì Mộc cũng sinh dc Thủy
Có cả web nghiên cứu ở đây
http://vietdich.blogspot.com/" target="_blank
Các bài phản biện lý thuyết này cũng nhiều, trên lyso mình cũng có
viewtopic.php?f=31&t=5958&start=10" target="_blank
-
xuankiemtran
- Nhất đẳng

- Bài viết: 122
- Tham gia: 21:06, 03/05/13
TL: Thủy Hỏa đổi chỗ??-Bí ẩn 60 Hoa Giáp
Với Hậu Thiên Việt liên hệ với Hà Đồ thì :
- Hành Thủy : trường sinh tại Thân, vượng tại Tý, mộ tại Thìn
- Hành Mộc : trường sinh tại Hợi, vượng tại Mão, mộ tại Mùi
- Hành Hỏa : trường sinh tại Dần, vượng tại Ngọ, mộ tại Tuất
- Hành Kim, Thổ : cùng trường sinh tại Tỵ , vượng tại Dậu, mộ tại Sửu ----- ?
Vì rằng với Hậu Thiên Việt, Khôn Thổ vốn từ Tây Nam chuyển sang Đông Nam (Thìn - Khôn - Tỵ ) nên bác TS cho rằng Thổ nên trường sinh tại đây là hợp lý hơn so với lý thuyết cũ : thổ trường sinh tại Thân (Mùi - Khôn - Thân ) --- ?
Và rằng khi chuyển vị vẫn giữ nguyên độ số Khôn [2] sau khi chuyển và Tốn [4] sau khi chuyển ----- ?
Như vậy có thể thấy rằng những ai học phong thủy huyền không có thể khóc ra tiếng Mán nếu xem đc lý thuyết này bởi vì khẩu quyết gối đầu giường của họ : Lượng Thiên Xích coi như " bỏ sọt rác "
Vậy các bạn nghĩ sao về vấn đề như trên ?
Thế là từ đó ngài Thiên Sứ đề xuất ra 1 vòng tràng sinh như sau :Xét hành Thuỷ:
Bắt đầu từ Âm Thuỷ độ số 6/ Tây Bắc (Chính vị Càn) sinh Dương Thuỷ độ số 1/ Chính Bắc (Chính vị Khảm).
Xét hành Mộc:
Thuỷ sinh Mộc - Bắt đầu từ Âm Mộc độ số 8 / Đông Bắc (Chính Vị Cấn) sinh Dương Mộc độ số 3/ Chính Đông (Chính vị Chấn).
Xét hành Hoả:
Mộc sinh Hoả - Bắt đầu từ Âm Hoả độ số 2/ Đông Nam (Chính vị Khôn/ Hậu Thiên Lạc Việt) sinh Dương Hoả độ số 7/ Chính Nam (Chính vị Ly).
Nhập trung - Hoả sinh Thổ (5/10).
Xét hành Kim:
Thổ sinh Kim - tiếp tục thuận chiều kim đồng hồ - Âm Kim độ số 4/ Tây Nam (Chính vị Tốn/ Hậu Thiên Lạc Việt) sinh Dương Kim độ số 9/ Chính Tây (Chính vị Đoài).
Chúng ta nhận thấy rằng: Phần từ Hoả sang Kim - nếu thuận theo chiều tương sinh của Hà Đồ thì độ số nhỏ (Âm) sinh độ số lớn. Ngược lại, phần từ Thuỷ sang Mộc - nếu thuận theo chiều kim đồng hồ thì độ số lớn (Âm) sinh độ số nhỏ. Vấn đề chính là : Nếu ta tiếp tục theo lý: số lớn sinh số nhỏ thì Dương Hoả độ số 7 sẽ sinh Âm Hoả độ số 2. Hoả Mộ sẽ sính Thổ. Do đó tiền nhân Lạc Việt đã đặt quái Khôn vào đấy.
# Tổng hợp hai điều đã dẫn 1 & 2 thì cung số Đông Nam ở Hà Đồ là Âm Hoả đới Thổ với sự xác định của Chính vị Khôn (Đã xác định định tính Thổ từ Tiên Thiên). Điều này giải thích vì sao Tỵ Âm Hoả lại sinh Dậu Âm kim thành Tam hợp cục Tỵ Dậu Sửu. Bởi vậy, nếu chỉ tách riêng Hà Đồ và không phốiHậu Thiên Lạc Việt thì sẽ không giải thích được vì sao Tỵ Âm Hoả chưa đủ mạnh để sinh Kim.
- Hành Thủy : trường sinh tại Thân, vượng tại Tý, mộ tại Thìn
- Hành Mộc : trường sinh tại Hợi, vượng tại Mão, mộ tại Mùi
- Hành Hỏa : trường sinh tại Dần, vượng tại Ngọ, mộ tại Tuất
- Hành Kim, Thổ : cùng trường sinh tại Tỵ , vượng tại Dậu, mộ tại Sửu ----- ?
Vì rằng với Hậu Thiên Việt, Khôn Thổ vốn từ Tây Nam chuyển sang Đông Nam (Thìn - Khôn - Tỵ ) nên bác TS cho rằng Thổ nên trường sinh tại đây là hợp lý hơn so với lý thuyết cũ : thổ trường sinh tại Thân (Mùi - Khôn - Thân ) --- ?
Và rằng khi chuyển vị vẫn giữ nguyên độ số Khôn [2] sau khi chuyển và Tốn [4] sau khi chuyển ----- ?
Như vậy có thể thấy rằng những ai học phong thủy huyền không có thể khóc ra tiếng Mán nếu xem đc lý thuyết này bởi vì khẩu quyết gối đầu giường của họ : Lượng Thiên Xích coi như " bỏ sọt rác "
Vậy các bạn nghĩ sao về vấn đề như trên ?
-
Luffive
- Nhị đẳng

- Bài viết: 438
- Tham gia: 00:10, 10/03/14
TL: Thủy Hỏa đổi chỗ??-Bí ẩn 60 Hoa Giáp
Ungdung132 đã viết:Bác ý đổi chỗ 2 quẻ Tốn Khôn, từ đó suy ra nhiều thứ rất dị
Như chiều Sinh của Ngũ hành là 2 chiều. Ví dụ Thủy sinh Mộc thì Mộc cũng sinh dc Thủy
Có cả web nghiên cứu ở đây
http://vietdich.blogspot.com/" target="_blank
Các bài phản biện lý thuyết này cũng nhiều, trên lyso mình cũng có
viewtopic.php?f=31&t=5958&start=10" target="_blank
Sao tôi vao link bác đưa ko thấy tác giả nào là thiên sứ hay nguyên vu tuấn anh,
Web chính thức của bác ý là lyhocdongphuong.org mà, ở đó cũng có đầy đủ các bài nghiên cứu
Đang trực tuyến
Đang xem chuyên mục này: abiabu, Ahrefs [Bot], bhuong4714_11, ChatGPT User, CHUONGZKHUE, Claude [Bot], Coc Coc [Bot], Criteo [Bot], hacvt9a, hhonhuy, Hml07_i, IAS [Bot], IAS IE, leean, Lhs1996, linktink01, LittleBiscuit, Nak1, TikTok [Spider], Trendiction [Bot], viquanle, Vũ Thiên Khôi, WhatsApp và 2873 khách.