Tiểu sử các Tử Vi gia
Nội qui chuyên mục
Đây là chuyên mục dành cho việc xem lá số tử vi. Các bài mang tính trao đổi học thuật xin vui lòng đăng trong mục Kiến thức tử vi.
Không được đính kèm lá số của trang web khác. Các bài không liên quan sẽ bị chuyển khỏi chuyên mục này.
Đây là chuyên mục dành cho việc xem lá số tử vi. Các bài mang tính trao đổi học thuật xin vui lòng đăng trong mục Kiến thức tử vi.
Không được đính kèm lá số của trang web khác. Các bài không liên quan sẽ bị chuyển khỏi chuyên mục này.
-
menhtuanthantriet
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 1101
- Tham gia: 11:29, 11/02/14
Tiểu sử các Tử Vi gia
Trần Đoàn
Khoa tử vi bắt nguồn từ thời nào? Cho đến nay sách sử không ghi lại ai là người khai sáng ra nó. Các Tử vi gia thường chỉ chú ý đến việc giải đoán tử vi hơn là đi tìm hiểu lịch sử. Bởi vậy cho đến nay, lịch sử khoa này vẫn còn lờ mờ. Thậm chí có người còn lầm lẫn khoa Tử vi với những chuyện truyền kỳ hoang đường.
Đời Gia Tĩnh (vua Minh Thế Tông) có lưu truyền cuốn Tử vi Đẩu số Toàn thư do tiến sĩ La Hồng Tiên biên soạn. Lời tựa nói Tử Vi đẩu số toàn thư là của tác giả Hi Di Trần Đoàn.
Bài tựa viết như sau:
“Thường nghe nói cái lý của số mệnh rất huyền vi ít ai biết cho tường tận để mà thuận thụ coi công danh phú quí trên đời đều có mệnh.
Tôi vì muốn biết nên đă tới tận núi Hoa Sơn chỗ ông Hi Di Trần Đoàn đắc đạo để chiêm bái nơi thờ tự của bậc đại hiền. Lúc ra về thì thấy một vị cao niên thái độ ung dung chân thực đưa cho tôi cuốn sách mà bảo: “Đây là Tử vi đẩu số tập của Hi Di tiên sinh”.
Các sách về Tử vi sau này cũng đều thống nhất rằng người đầu tiên tổng hợp, hệ thống lại thành môn bói này là Trần Đoàn tức Hi Di Lão Tổ, sống vào đời Bắc Tống, Trung Quốc.
Trần Đoàn, tự Hi Di, người đất Hoa Sơn ngày nay về phía Nam huyện Hoa Âm tỉnh Thiểm Tây. Tương truyền rằng khi ra đời, ông bị sinh thiếu tháng, nên mãi hơn hai năm mới biết đi, thủa nhỏ thường đau yếu liên miên. Trần Đoàn học văn không thông, học võ không đủ sức, thường suốt ngày theo phụ thân ngao du khắp non cùng thủy tận.
Thân phụ Trần Đoàn là một nhà thiên văn, lịch số đại tài đương thời. Về năm sinh của tiên sinh không một thư tịch nào chép. Nhưng căn cứ vào bộ Triệu thị Minh thuyết Tử Vi kinh, khi Trần Đoàn yết kiến Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn vào niên hiệu Càn Đức nguyên niên (năm 963 Dương lịch) có nói: "Ngô kim nhật thất thập hữu dư" nghĩa là “tôi năm nay trên bảy mươi tuổI”. Vậy có thể Trần Đoàn ra đời vào khoảng 888-893 tức niên hiệu Vạn Đức nguyên niên đời Đường Hy Tông đến niên hiệu Cảnh Phúc nguyên niên đời Đường Chiêu Tông. Trần Đoàn bắt đầu học thiên văn năm 8 tuổi. Bộ Triệu thị Minh thuyết Tử Vi kinh thuật rằng:
"Tiên sinh 8 tuổi mà tính còn thơ dại. Lúc nào cũng ngồi trong lòng thân phụ. Một hôm thân phụ tiên sinh phải tính ngày giờ mưa bão trong tháng, bị tiên sinh quấy rầy, mới dắt tiên sinh ra sân, chỉ lên bầu trời đầy sao mà bảo:
- Con có thấy sao Tử Vi kia không? Đáp: - Thấy. Lại chỉ lên sao Thiên Phủ mà hỏi: - Con có thấy sao Thiên Phủ kia không? Đáp: - Thấy - Vậy con hãy đếm xem những sao đi theo sao Tử Vi và Thiên Phủ là bao nhiêu? Thân phụ tiên sinh tưởng rằng tiên sinh có đếm xong cũng trên nữa giờ. Không ngờ ông vừa vào nhà, tiên sinh đã chạy vào thưa: - Con đếm hết rồi. Đi sau sao Tử Vi là 5 sao, như vậy chòm sao Tử Vi có 6 sao. Đi sau sao Thiên Phủ là 7 sao, như vậy chòm Thiên phủ có 8 sao. Từ đấy tiên sinh được thân phụ hết sức truyền khoa thiên văn và lịch số".
Từ nhà Đường chuyển sang nhà Tống trải qua giai đoạn lịch sử quá độ trung ương tập quyền biến ra địa phương hùng cứ rồi chuyển thành đời Ngũ Đại đã rồi nhà Tống mới thống nhất.
Trần Đoàn lớn lên giữa lúc nhiễu nhương binh lửa, giết chóc loạn lạc, ông lên núi tu ẩn để tránh họa. Khi đã nắm được lẽ huyền vi của âm dương, ông thường đi đây đó để tìm anh hùng và chân chúa. Có một lần gặp người đàn bà gánh kĩu kịt trên vai hai đứa trẻ mỗi thúng ở đầu đòn gánh một đứa. Ông mới hỏi: “Hà vật lão ẩu? Này bà gánh kia chi vậy?” Người đàn bà mở nắp thúng cho Trần Đoàn coi rồi thở dài nói: “Tôi dẫn hai con tôi đi chạy loạn đây”.
Vừa nhác trông thấy hai đứa nhỏ, Trần Đoàn đã kêu lên: “Một vai bà mà gánh những hai vị thiên tử sao?”
Lòng ông vui mừng khôn xiết, vì thiên hạ sắp hưởng đời thái bình nên mới có hai vị chân chúa anh hùng xuất thế. Trần Đoàn liền lấy trong bọc ra mười lạng đưa biếu người đàn bà không quen biết rồi lên lưng lừa đi thẳng.
Thiên Lương
Cụ Thiên Lương có tên là Lê Quang Khải, sinh ngày 12-07 -1910 nhằm ngày 06 tháng 06, giờ mão trong một gia đình nho giáo tại làng Phượng Lau, tỉnh Hưng Yên Bắc Việt. Thân phụ cụ lúc đó là một nhà địa lý có tiếng tại tỉnh nhà, anh ruột cụ cũng nổi danh về môn dịch lý vào thời kỳ 1950 -1963 tại Sài Gòn dưới danh hiệu Đẩu Sơn.
Năm 18 tuổi cụ hoạt động chống thực dân Pháp trong lực lượng Việt Nam Quốc Dân Đảng do cố liệt sĩ Nguyễn Thái Học lãnh đạo, nhưng chẳng bao lâu tông tích bị bại lộ, cụ bị mật thám Pháp truy lung nên phải trốn vào Nam. Cụ đã lập gia đình và lập nghiệp tại xã Chánh Lưu tỉnh Thủ Dầu Một (nay là xã Chánh Hiệp tỉnh Sông Bé). Thời gian ở đây cụ có tất cả 6 người con nhưng bỏ mất 03. Năm 1945 cửa hàng buôn bán của cụ đang hồi cực thịnh nhưng chỉ sau 05 phút tất cả chỉ còn lại một đống tro tàn lẫn trong một đống gạch vụn; đây là hậu quả của cuộc oanh kích của phi cơ Đồng Minh vào quân đội Nhật bản trú đóng cách đó không quá ½ cây số. Buồn vì gia sản tiêu tan nên cụ bà sau khi sinh người con út (9/1945) đã bỏ cụ ở lại với 03 đứa con dại hường dương 34 tuổi. Qua năm sau cụ dẫn dắt đám con thơ trở về quê nội lập lại sự nghiệp. Qua năm sau cụ lập gia đình lần thứ hai và từ đó có thêm được 4 người con nhưng lại bỏ mất 1.
Ngày 16/8/1954 cụ và cả gia đình một lần nữa lại rời quê cha di cư vào Sài Gòn lánh nạn Cộng Sản và làm việc tại Tổng Nha Ngân Sách và Ngoại Viện cho tới năm 1971 thì về hưu sống với con cháu cho tới ngáy 17/09/1985 ( nhằm ngày 22 –08 Giáp Tý ) lúc khoảng 3 giờ chiều thì quy tiên vì bệnh gan: vừa đúng tròn 40 năm sau ngày cụ chánh thất qua đời: hưởng thọ 76 tuổi tại xã Chánh Hiệp tỉnh Sông Bé .
Như vậy trải qua biết bao nhiêu chuyển biến của cuộc sống, phải chăng hương hồn cụ hẳn đã hài long nhắm mắt tại địa danh nơi mà trước kia cụ đã chọn nó làm nơi lập nghiệp?
Cụ Thiên Lương bắt đầu nghiên cứu Tử Vi từ năm 18 tuổi, nhưng bao phen cụ chán nản bỏ cuộc và không tin môn học cổ này, nhưng rốt cuộc cụ quay trở về với nó và thành công rực rỡ.
Trước năm 1970 cụ chỉ nghiên cứu và chỉ dạy cho con cái cùng ít bạn bè thân thuộc nên ít ai biết đến. Từ năm 1970 về sau, vì theo sự yêu cầu của con cái và nhất là của cố ký giả lão thành Trần Việt Sơn nên cụ đã đồng ý cho phổ biến trên tờ Khoa Học Huyền Bí những tài liệu do cụ đã ngiên cứu và khám phá và bút hiệu Thiên Lương được khai danh từ đó. Đến mùa xuân1974 cụ cho xuất bản quyển sách tử vi đầu tay mang tựa: “ Tử Vi Nghiệm Lý “ với 2000 số và đã bán hết sạch trong vòng 03 tháng . Cụ hy vọng vài năm sau sẽ cho ra tiếp quyển “Tử Vi Nghiệm Lý Toàn Thư” nhưng hoài vọng của cụ đã không thành vì ... ( cắt mấy chữ vì lý do chính trị ) Nam VN. Tất cả bài vở cùng tài liệu của cụ đã được gởi ra hải ngoại cho con trai thứ trước ngày cụ biết sắp sửa quy tiên.
Cụ Thiên Lương chủ trương môn tử vi nghiệm lý có nghĩa là những khám phá mới của cụ muốn cho các độc giả nghiên cứu, chiêm nghiệm với thời gian để ứng xem đúng sai, chứ cụ không chủ trương đả phá, phê bình hay bút chiến với bất cứ ai và cụ luôn luôn giữ thái độ im lặng mỗi khi có ai phê bình hay hoặc dở về các khám phá mới của cụ đã được phổ biến (1) ngoài ra cụ cũng căn dặn con cháu và các môn sinh đừng bao giờ dùng tử vi để kiếm tiền hoặc làm “cần câu cơm” và chỉ được “tạm” hành nghề khi ngoài tuổi 60 không ai nương tựa nhưng chỉ đủ sống độ nhật mà thôi.
Ba La
Nói tới thầy Tử Vi ở miền Nam thì phải nhận cụ Ba La là bậc thầy của các thầy. Sở dĩ nói bậc thầy vì tuổi tác -cụ mất năm 1973 lúc đó đã thọ 103 tuổi- và cũng vì sở học uyên bác của một bậc túc nho đã lặn lội bao năm ở Tầu, và có lẽ ở Côn Ðảo nữa. Cụ Ba La lấy tên làng Ba La ( Hà Ðông ) làm tên hiệu, không ai biết được tên tuổi thật của cụ, cụ cũng không chịu nói rõ cho ai biết, cụ chỉ kể những chuyện từ hồi Tây mới sang, lúc ấy dân ta còn chưa biết lính Tây thế nào nên khi thấy quân lính Pháp mặc đồng phục quần thẳng nếp thì tưởng là người Tây dương không có đầu gối dễ bị ngã nên dân ta trải ổi xanh ra đường hoặc lấy ổi xanh bắn… nghe cụ kể lại chuyện đánh Tây đời Tự Ðức và hồi chạy sang Tầu… người nghe tinh ý đoán rằng cụ thuộc thế hệ Cần Vương, Duy Tân, Ðông Kinh Nghĩa Thục… bôn ba ra hải ngoại từ đầu thế kỷ 20.
Mỗi lần đến thăm thầy, người xem có cảm tưởng như vào một động tiên nơi thâm sơn cùng cốc để gặp một người hiền ở ẩn, râu tóc bạc phơ như trong truyện Tầu. Thật vậy, cụ ở đường Nguyễn Phi Khanh, Ðakao, tóc bạc phơ búi củ hành, ngồi trên sập gỗ, khi có khách vào cụ trịnh trọng đứng dậy thay áo dài ta trắng, ngồi trên sập tiếp khách. Phong thái nhà Nho trọng Lễ đó làm người xem cảm phục và thoáng tiếc thuở ” vang bóng một thời ” của nhà Nho Lễ trị năm xưa. Cái thời nghiêm túc trọng người trọng vật, lấy thành tín lễ nghĩa mà cư xử với nhau. Cụ Ba La là bậc sư phụ tiêu biểu cho thời văn minh đó.
Giữa tiếng súng lẻ tẻ của tết Mậu Thân 1968, lần đầu tới gặp cụ, người viết lấy làm hối tiếc đã không được gặp Cụ sớm hơn để học hỏi.Với phong cách siêu phàm thoát tục, cụ từ tốn gieo quẻ Dịch sau khi cầu khấn nào ” Khổng Minh Gia Cát, nào Quỷ Cốc tiên sinh…xin ứng quẻ ” v.v… Có lẽ việc cầu khấn đó được dùng như một nghi lễ hình thức để tạo không khí tập trung tư tưởng hơn là thực sự trực tiếp cầu xin Gia Cát, Quỷ Cốc…Ðặt quẻ xong cụ dùng mấy đồng trinh đã mòn cả mặt chữ gieo quẻ Dịch rồi bấm quẻ, đồng thời cụ bấm số Tử Vi,sau đó mới nói tới số mệnh. Mắt cụ đã lòa và ngón tay thịt đã dẹt hẳn xuống với thời gian gần một thế kỷ, khuôn mặt trí thức siêu phàm, một hình dáng ông Nghè, ông Trạng năm xưa, bắt đầu nói vắn tắt: ” Số ông làm tới…, ông đứng hàng thứ… trong thiên hạ”. Cụ xem cho ai là xác quyết được ngay người ấy thuộc loại người nào trong xã hội, loại tiểu nhân hay quân tử, loại lãnh tụ hay thừa hành, quân nhân hay văn nhân v.v… đứng vai vế gì trên nấc thang công danh v.v… đấy là điều hết sức khó, gần như không thầy nào đoán được.
Người viết từng theo dõi một vị viết về Tử Vi rất hay, rất thâm cứu, trên một tờ báo xuất bản ở Mỹ khoảng 1976 – 77, tới lúc gửi lá số cho vị này xem thì lại đoán một ông giáo sư đại học là một thương phế binh, đoán một ông dược sĩ làm thủ công nghệ v.v…So với cụ Ba La mù mắt mà biết được người xem thuộc thành phần gì trong xã hội thì Cụ quả là người siêu phàm, độc đáo và khoa lý số chân truyền chắc hẳn phải có những bí quyết riêng.
Có nhiều người tới học Tử Vi cụ Ba La, kể gồm cả cụ Thiên Lương, trong cuốn Tử Vi Nghiệm Lý cụ Thiên Lương gọi cụ Ba La là ông Vua Tử Vi bất đắc chí và dành cả chương bàn về Tuần, Triệt, Không, Kiếp, để trả lại cho ân sư là cụ Ba La đã có công giải thích. Nhiều tướng tá định đảo chính, nhất là thời ông Diệm, đều tới vấn kế cụ. Hình như ông tướng Ðỗ Mậu cũng tới học cụ Ba La ít nhiều. Năm 1968, lúc ấy thế các ông Thiệu, Kỳ còn mạnh mà cụ đã nói ngay ” mấy thằng ấy thằng đổ trước thằng đổ sau, có ra gì “.
Vì phân biệt được kẻ tiểu nhân, người quân tử nên cụ Ba La rất thận trọng, dặn dò người tri kỷ chớ nên tiết lộ những gì cụ nói để tránh hậu họa. Cụ học số Tử Vi bên Tàu, sở học của cụ rất thâm sâu, từng ngồi xem số ở chợ Hà Ðông trước 1954, các ông Nguyễn và Vũ thời 1940 đã có tới nhà cụ để xem số, cụ nói ” nhà tôi có vườn rộng, các ông ấy vẫn tới chơi xem số “, người viết cố hỏi thêm, cụ không nói. Cụ chỉ nói tổng quát : ” các ông ấy xuất thân ở miền đất xấu, gặp nhiều tai ương, chẳng được lâu “, cụ nói thêm ” đất Việt ta thời xưa từ Thanh Hóa trở ra đất rộng sông dài, dựng nghiệp lâu dài được, miền Nghệ Tĩnh đất hẹp, bốc lên rồi tắt rất nhanh, chẳng quá hai ba giáp”. Lời cụ nói nay đã ứng nghiệm. Số ông Nguyễn tuổi Tân Mão, Thân Mệnh Tử Phá Thìn Tuất, giống số Mạc Ðăng Dung, Mộc mệnh, Thủy cục nên ứng vào sao Phá quân âm thủy, phú đoán “ Trai bất nhân Phá quân Thìn Tuất, gái bạc tình Tham Sát nhàn cung “, Mệnh ở Thìn, thuộc Ðông Nam, nên ảnh hưởng cả vùng Ðông Nam Á, Thiên không đóng Mệnh cung : cả đời không vừa ý, tất cả những gì vất vả để có rút cục vẫn là không !
Lối xem của cụ Ba La thường lấy sao ứng với bản mệnh làm sao chính. Thí dụ Kim mệnh thì lấy sao Kim trong cung Mệnh làm chính, còn các sao khác, dù là chính tinh cũng là phụ, là sao “của người ta” chứ không phải của mình, bởi vậy cho nên khi thấy có Tử Phủ Vũ Tướng hoặc Sát Phá Liêm Tham chớ vội mừng vì phải xem sao ấy có thuộc bản mệnh mình không. Khi tìm được sao chính ứng với mình rồi thì sẽ xem các cách của sao ấy hoặc khi tới đại hạn nào phù hợp với nhau để đoán đại vận bộc phát. Thí dụ người Kim mệnh có Sát Phá Tham Tử Tướng ở cung Thân Mệnh không ăn vì 5 sao đó mà lại ăn vào sao Kình Dương (Kim) thủ mệnh, đó là hung tinh độc thủ đại phát, cách của Kình Dương, Kim Mệnh, cư Tuất cung là ” hào kiệt dương danh hội Cơ Lương, thả mạn đàm binh, văn chương nhi quán thế “ Mỗi lần tới các câu phú đoán chữ Nho cụ Ba La lại giải thích ” chữ Văn Chương thời xưa không có nghĩa như Văn Chương thời nay đâu, thời đặt ra phú Tử Vi này đã cả nghìn năm rồi, chữ Văn Chương có nghĩa là văn võ toàn tài, kinh lược, các ông bây giờ Tây học không biết được ! ” Nhưng Kình Dương có Thiên Cơ nhị hợp còn Thiên Lương lại lạc đâu mất, thành ra phải chờ tới đại hạn có Thiên Lương thì Kình Dương mới bộc phát lên đúng cách như phú Tử Vi Trần Ðoàn đã viết.
Vì cụ Ba La đã nghiên cứu sách vở Tử Vi từ bên Tầu nên mọi ngọn ngành của Tử Vi cụ đều tinh thông. Cụ thường dặn Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ khắc chế của người sau đặt thêm vào, không quá quan trọng như nhiều người tưởng. Thí dụ như Kim mệnh ăn sao Kim (Kình Dương), đứng cạnh có sao Phá Quân (Thủy) thì chất Thủy “bòn” chất Kim đi làm cho Kim chậm phát chứ không phải là không phát nổi. Sao nào rồi cũng có thể phát khi tới vận hội của nó.
Khi hỏi về Âm Nam, Dương Nam là nghĩa gì thì cụ nói Âm Nam là ” Tâm vô ẩn địa “ chỉ người đầu óc không định hướng. Cụ kể thêm chuyện ông Lý Thường Kiệt sao Thái Dương bị triệt nên làm hoạn quan. Cụ coi các cách như Ðào Hồng, Hỉ, Khoa Quyền…là phụ, biết qua để đoán chứ không quan trọng như tìm đâu ra là sao của chính mình. Giáp mệnh có Lộc, nhị hợp với Thân; giáp Thân có Lộc, nhị hợp với Mệnh, đó là ” Minh Lộc ám Lộc “, cụ Ba La mỉm cười nói ” các ông bây giờ theo Tây học, học Tử Vi nhưng đâu có biết như thế “.
Năm 1972 – 73, tới xem cụ đột nhiên nói ” Tới năm Mão (1975) không biết ai gánh vác vũ trụ cho “, cụ mơ tưởng một ngày kia sẽ trở về quê quán làng Ba La và chết già ở đấy, nào ngờ cuối năm 1973, cụ mất, hưởng thọ 103 tuổi. Chiều hôm ấy tới đường Nguyễn Phi Khanh, bảng hiệu Ba La Tử Vi Bói Dịch vẫn còn treo mà Thầy thì đã phiêu du cõi Tiên, tôi ngậm ngùi biết từ đây, trên thành phố tân tiến Sài Gòn này, vết tích dư âm một thời cổ xưa đã tuyệt, mà lòng kẻ hậu sinh đang mắc bệnh Duy Ma bỗng lồng lộng cô đơn như đi vào núi tìm thầy mà thầy đã đi hái thuốc khuất bóng đâu đâu !
Một môn đệ của cụ Ba La, thầy bói Cầu Kiệu, ông này mù, còn trẻ, không được thông minh lắm, học không hết bậc thầy quá cao siêu, nên chỉ đoán được tới mức khá mà chưa đạt được mức siêu. Thầy bói Cầu Kiệu, cũng dùng sao hợp với bản mệnh để giải số. Nghe nói sau này, thầy bói Cầu Kiệu rất đông khách tới xem hung cát trên đường vượt biên !
Cụ Ba La không hẳn là một thầy bói. Cụ là nhà Nho với sở học thông Thiên-Ðịa-Nhân, lúc mắt lòa, chữ Nho hết thời, nên mới ra hành nghề Tử Vi Bói Dịch như người xưa thường làm Nho Y Lý Số. Về Ðịa lý Phong thủy cụ cũng rất tinh thông, nhìn cung Phúc Ðức có thể biết mộ nào phát, long mạch ở đâu. Như cung Phúc Ðức có Tử Phủ Vũ Tướng, Long Ðức, Âm Dương là được ngôi mộ đại phát, gần đình chùa, đại địa.
Riêng về sấm ký, cụ tinh thông Sấm Trạng Trình và biết nguyên ủy của sự tam sao thất bản của tập Sấm Quốc Bảo này. Vì cụ đã đọc Sấm Trạng Trình từ thời còn Triều Nguyễn thế kỷ 19 nên cụ biết câu nào vua Tự Ðức sửa đổi, câu nào các nhà Nho sau này như Phó Bảng Nguyễn Can Mộng đặt ra để thúc dục lòng yêu nước của dân ta v.v… Cụ đã giải thích cặn kẽ và chiết tự để tìm hiểu các ẩn ngữ trong Sấm Trạng Trình. Nghe lời Cụ mới thấy Sấm Trạng Trình đã bị bóp méo thêm bớt rất nhiều !
Trí óc cụ Ba La vận hành trên một kích thước dài rộng của lịch sử và siêu sử, nên khi coi số cụ biết nhân vật nào là hiện thân của con Tinh thời Hùng Vương, hóa thân gây hoạn nạn cho dân ta, muốn trừ con Tinh này phải chờ ngày Thánh Nhân ra đời, hậu thân của Thánh Tản Viên, để trừ khử con tinh đó. Theo cụ Ba La, ông Nguyễn từ khi đổi họ (khoảng 1942 – 43) mới bắt đầu thành công vì lúc đó ông mang lấy cái chướng nghiệp của con Tinh hiện thân của ác sát lực (evil force) trên đất Việt.
Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử
Cụ Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử Lê Tư Vinh, tác giả hai cuốn "Tử Vi Áo Bí Biện Chứng Học" và "Tướng Pháp Áo Bí", sinh ngày 9 tháng 3 năm 1926, tức là ngày 25 tháng 1 (âm lịch) năm Bính Dần giờ Dậu. Mệnh có Liêm Tham ở Tỵ đắc triệt và Hoá Kỵ cứu gỡ.
Về tài năng và công trạng của cụ Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử đối với nền học thuật nước nhà thật là cũng không kém gì cụ Thiên Lương, nếu không muốn nói là hơn xa cụ Thiên Lương. Hai tác phẩm đồ sộ của cụ Việt Viêm Tử đã kể trên là những chứng cớ hùng hồn cho sự phán quyết ấy.
Cụ Lê Tư Vinh vốn là một Đại Tá Hải Quân trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (trước 1975). Sau năm 75 cụ di tản sang Hoa Kỳ, và có một thời gian cụ làm việc cho chính phủ Hoa Kỳ trong phái đoàn tìm kiếm tù binh và xác chết của lính Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.
Cụ Lê Tư Vinh thường tự hào là hậu duệ của Lý Đông A và hay nói với thuộc hạ trong đảng của ông là ông có sứ mệnh làm lãnh tụ của nước Việt Nam sau này đấy.
Maitre Khánh Sơn
Thầy Khánh Sơn là người nổi tiếng sớm nhất và lâu nhất ở Sai Gòn trước năm 1975. Từ những năm Pháp thuộc, thầy xưng là Maitre Khánh Sơn. Báo chí đăng ảnh thầy đeo kính trắng trí thức, một ngón tay chỉ vào cái chìa khóa, tượng trưng cho sự khám phá mọi điều huyền bí (?!). Thầy hành nghề từ thập niên 1940 sau khi tốt nghiệp sư phạm Hà Nội, chứ không phải vì thất nghiệp mà phải xoay nghề như một số thầy từ bên Tàu sang.
Theo nhiều người kể lại, thầy Khánh Sơn là người hào hoa phong nhã, làm ra nhiều tiền nên dù vợ con đàng hoàng, thầy vẫn được các bà, các cô mê mệt.
Viên toàn quyền Pháp Pasquier trấn nhậm Đông Dương vào năm 1936, được thầy Khánh Sơn đã đưa ra câu “sấm” để giải đoán vận mệnh ông ta:
Bao giờ hai bảy mười ba
Lửa thiêng đốt cháy tám gà trên mây
Thầy Khánh Sơn ám chỉ rằng “tám gà” là “bát kê” (phiên âm tên vị toàn quyền Pasquier và “trên mây” là “máy bay”. Sau đó ít lâu, máy bay chở viên toàn quyền về Pháp bị bốc cháy khiến tất cả tám người đều tử nạn. Từ đó tên tuổi thày nổi như cồn được mọi người biết đến, và thời gian hành nghề của thày Khánh Sơn kéo dài rất lâu.
Thày cũng từng tiên đoán vận mệnh của nhiều nhân vật tên tuổi như cựu hoàng Bảo Đại, cựu quốc vương Sihanouk…
Minh Nguyệt
Thầy Minh Nguyệt, người miền Nam, quảng cáo trên báo là giáo sư Minh Nguyệt, mở văn phòng đường Đề Thám, cùng các thầy Huỳnh Liên, Khánh Sơn, có hàng chục ngàn thân chủ vào thời ấy. Văn phòng thày Minh Nguyệt thu hút nhiều nữ thân chủ, phần đông có chồng ngoại quốc đã về nước. Các cô nhờ thầy đoán số khi nào được gặp lại cố nhân để đời sống lên hương như trong qúa khứ. Nhiều bà có nhan sắc cũng mong được nâng khăn sửa túi cho thầy Minh Nguyệt, nhưng thầy nghiêm lắm, chẳng bao giờ dở thói trăng hoa.
Nguyễn Văn Canh
Thầy Nguyễn Văn Canh sinh quán tại Nam Định. Thày Canh bị mù loà từ thuở sơ sinh, được gia đình cho học nghề bói toán làm kế sinh nhai.
Thuở đầu đời, thầy hành nghề tại Thái Bình, Hà Nội, rồi di cư vào Sài Gòn. Thày Canh đông con, tất cả đều học hành nên người, gia đình sung túc nhờ nghề của thầy rất sáng giá vào thời ấy. Thầy sở trường về tử vi bói dịch, nổi tiếng như một nhà tiên tri. Dáng người thầy bệ vệ cao lớn, thày có sức khỏe dồi dào, tinh thần minh mẫn. Xem tử vi thầy bấm lá số trên năm đầu ngón tay. Thầy Canh, cư ngụ trên đường Nguyễn thiện thuật, chỉ cần nghe ngày sinh tháng đẻ của thân chủ một lần là thầy nhớ mãi, nói vanh vách bố cục của sao, vận tốt xấu ra sao, ít khi sai lầm. Nói xong, thầy nhớ mãi, lần sau khách đến chỉ cần nói tên là thày biết số này ra sao ! Và nếu có thêm một chai bia lạnh “33” trên bàn thì khỏi nói, thầy xem số càng sắc nước. đặc biệt về võ cách “Sát-Phá-Liêm-Tham”.
Ngoài ra còn một số thày tử vi, tướng số cũng có tiếng tăm như nhà biên khảo Vũ Tài Lục (Hòa Hưng), thày Ích (Calmette), nhạc gia của MC Nguyễn Ngọc Ngạn. Thày Kim (Chi Lăng), Thày Quang Thông (Trần Quí Cáp, thường xem số cho TT Nguyễn Cao Kỳ). Cụ Lê Đình Tỵ tỏng sự tại bộ Ngoại Giao, nhờ tài Tử vi mà được cất nhắc lên tham vụ ngoại giao tại Singapore. Cụ Tỵ là người khai tâm cho tác giả khoảng năm 1963, và Thiếu Tướng Đỗ Mậu cũng là môn sinh của cụ.
Những bóng hồng trong giới bói toán
Tuy cũng thành công, nhưng so với qúi ông thì số lượng các bà thầy coi bói thời ấy ít hơn nhiều. Thường thì, khách của các bà thầy là phụ nữ, nhưng đôi khi cũng có các đấng thiếu gia lắm tiền nhưng mê tín.
Bà Anna Phán đã nổi tiếng một thời từ Hà Nội. Bà theo làn sóng di cư vào Nam nhưng chỉ hành nghề vài năm thì nghỉ. Có người nói rằng vì tuổi già sức yếu nên con cháu không muốn bà tiếp tục hành nghề, dù rằng lộc thánh vẫn còn.
Trẻ hơn bà Anna Phán, là bà thầy mang cái tên rất đầm: Madame Claire. Madame này chẳng những có biệt tài bói toán mà còn là người phụ nữ lịch lãm, nhan sắc đậm đà. Tin đồn rằng, một công tử Bạc Liêu (Paul Phước) khá lớn tuổi nhưng si tình, vẫn còn đem đến dâng tặng Madame những món tiền lớn và nhiều nữ trang đắt tiền.
Cô Bích, một thiếu phụ, người Đà Nẵng, rất nổi tiếng về bói toán và lập am lên đồng tại miền Trung. Trước đây, cô kết hôn với một sĩ quan Pháp nhưng không có con. Là người ít học, nhưng khi “đồng lên” cô Bích viết chữ Hán đẹp như rồng bay phượng múa. Cô giải thích đó là lời tiên thánh truyền dạy cho kẻ đến hầu cửa cô, và khi đồng nhập thì con đồng trở nên đẹp lộng lẫy, cặp mắt sắc như dao. Cô Bích mất tại Đà Nẵng sau năm 1980.
Nhưng nữ thày bói lừng danh hơn cả là cô Nguyệt Hồ, 43 tuổi, ở đường Đinh Công Tráng. xưa kia đã một thời là hoa khôi. Phần lớn khách đến là ngắm cô nhiều hơn là xem bói, trong đó có tác giả bài này. Bạn bè hỏi thăm “Bà thày xem đúng không?” Tôi ngẩn người: “Cô thầy mặc áo lụa mỏng, đẹp qúa”. Hoặc đôi lúc đưa bạn gái đi xem xi nê, được hỏi phim hay không. Tôi thật tình cũng quên mất xem phim gì.
Cả bốn vị nữ lưu thày bói kể trên đều thành công với nghề nghiệp và sống cuộc đời sung túc, nếu không nói là vương giả. Các bà thày xem tử vi, bói bài, chỉ tay mà còn kiêm thêm dịch vụ gỡ rối tơ lòng. Các nữ thân chủ đông đảo, luôn phải lấy hẹn trước và ngồi chờ.
Ngoài ra, còn nhiều cao thủ tử vi khác mà tôi chưa tìm được tiểu sử như Nguyễn Phát Lộc, Vân Đằng Thái Thứ Lang, Vũ Tài Lộc, Huỳnh Liên,….. Hy vọng Quý vị nào có các tài liệu về cuộc đời và sự nghiệp của những người này sẽ cùng chia sẻ với bạn đọc.
Nguồn : *******.com
Khoa tử vi bắt nguồn từ thời nào? Cho đến nay sách sử không ghi lại ai là người khai sáng ra nó. Các Tử vi gia thường chỉ chú ý đến việc giải đoán tử vi hơn là đi tìm hiểu lịch sử. Bởi vậy cho đến nay, lịch sử khoa này vẫn còn lờ mờ. Thậm chí có người còn lầm lẫn khoa Tử vi với những chuyện truyền kỳ hoang đường.
Đời Gia Tĩnh (vua Minh Thế Tông) có lưu truyền cuốn Tử vi Đẩu số Toàn thư do tiến sĩ La Hồng Tiên biên soạn. Lời tựa nói Tử Vi đẩu số toàn thư là của tác giả Hi Di Trần Đoàn.
Bài tựa viết như sau:
“Thường nghe nói cái lý của số mệnh rất huyền vi ít ai biết cho tường tận để mà thuận thụ coi công danh phú quí trên đời đều có mệnh.
Tôi vì muốn biết nên đă tới tận núi Hoa Sơn chỗ ông Hi Di Trần Đoàn đắc đạo để chiêm bái nơi thờ tự của bậc đại hiền. Lúc ra về thì thấy một vị cao niên thái độ ung dung chân thực đưa cho tôi cuốn sách mà bảo: “Đây là Tử vi đẩu số tập của Hi Di tiên sinh”.
Các sách về Tử vi sau này cũng đều thống nhất rằng người đầu tiên tổng hợp, hệ thống lại thành môn bói này là Trần Đoàn tức Hi Di Lão Tổ, sống vào đời Bắc Tống, Trung Quốc.
Trần Đoàn, tự Hi Di, người đất Hoa Sơn ngày nay về phía Nam huyện Hoa Âm tỉnh Thiểm Tây. Tương truyền rằng khi ra đời, ông bị sinh thiếu tháng, nên mãi hơn hai năm mới biết đi, thủa nhỏ thường đau yếu liên miên. Trần Đoàn học văn không thông, học võ không đủ sức, thường suốt ngày theo phụ thân ngao du khắp non cùng thủy tận.
Thân phụ Trần Đoàn là một nhà thiên văn, lịch số đại tài đương thời. Về năm sinh của tiên sinh không một thư tịch nào chép. Nhưng căn cứ vào bộ Triệu thị Minh thuyết Tử Vi kinh, khi Trần Đoàn yết kiến Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn vào niên hiệu Càn Đức nguyên niên (năm 963 Dương lịch) có nói: "Ngô kim nhật thất thập hữu dư" nghĩa là “tôi năm nay trên bảy mươi tuổI”. Vậy có thể Trần Đoàn ra đời vào khoảng 888-893 tức niên hiệu Vạn Đức nguyên niên đời Đường Hy Tông đến niên hiệu Cảnh Phúc nguyên niên đời Đường Chiêu Tông. Trần Đoàn bắt đầu học thiên văn năm 8 tuổi. Bộ Triệu thị Minh thuyết Tử Vi kinh thuật rằng:
"Tiên sinh 8 tuổi mà tính còn thơ dại. Lúc nào cũng ngồi trong lòng thân phụ. Một hôm thân phụ tiên sinh phải tính ngày giờ mưa bão trong tháng, bị tiên sinh quấy rầy, mới dắt tiên sinh ra sân, chỉ lên bầu trời đầy sao mà bảo:
- Con có thấy sao Tử Vi kia không? Đáp: - Thấy. Lại chỉ lên sao Thiên Phủ mà hỏi: - Con có thấy sao Thiên Phủ kia không? Đáp: - Thấy - Vậy con hãy đếm xem những sao đi theo sao Tử Vi và Thiên Phủ là bao nhiêu? Thân phụ tiên sinh tưởng rằng tiên sinh có đếm xong cũng trên nữa giờ. Không ngờ ông vừa vào nhà, tiên sinh đã chạy vào thưa: - Con đếm hết rồi. Đi sau sao Tử Vi là 5 sao, như vậy chòm sao Tử Vi có 6 sao. Đi sau sao Thiên Phủ là 7 sao, như vậy chòm Thiên phủ có 8 sao. Từ đấy tiên sinh được thân phụ hết sức truyền khoa thiên văn và lịch số".
Từ nhà Đường chuyển sang nhà Tống trải qua giai đoạn lịch sử quá độ trung ương tập quyền biến ra địa phương hùng cứ rồi chuyển thành đời Ngũ Đại đã rồi nhà Tống mới thống nhất.
Trần Đoàn lớn lên giữa lúc nhiễu nhương binh lửa, giết chóc loạn lạc, ông lên núi tu ẩn để tránh họa. Khi đã nắm được lẽ huyền vi của âm dương, ông thường đi đây đó để tìm anh hùng và chân chúa. Có một lần gặp người đàn bà gánh kĩu kịt trên vai hai đứa trẻ mỗi thúng ở đầu đòn gánh một đứa. Ông mới hỏi: “Hà vật lão ẩu? Này bà gánh kia chi vậy?” Người đàn bà mở nắp thúng cho Trần Đoàn coi rồi thở dài nói: “Tôi dẫn hai con tôi đi chạy loạn đây”.
Vừa nhác trông thấy hai đứa nhỏ, Trần Đoàn đã kêu lên: “Một vai bà mà gánh những hai vị thiên tử sao?”
Lòng ông vui mừng khôn xiết, vì thiên hạ sắp hưởng đời thái bình nên mới có hai vị chân chúa anh hùng xuất thế. Trần Đoàn liền lấy trong bọc ra mười lạng đưa biếu người đàn bà không quen biết rồi lên lưng lừa đi thẳng.
Thiên Lương
Cụ Thiên Lương có tên là Lê Quang Khải, sinh ngày 12-07 -1910 nhằm ngày 06 tháng 06, giờ mão trong một gia đình nho giáo tại làng Phượng Lau, tỉnh Hưng Yên Bắc Việt. Thân phụ cụ lúc đó là một nhà địa lý có tiếng tại tỉnh nhà, anh ruột cụ cũng nổi danh về môn dịch lý vào thời kỳ 1950 -1963 tại Sài Gòn dưới danh hiệu Đẩu Sơn.
Năm 18 tuổi cụ hoạt động chống thực dân Pháp trong lực lượng Việt Nam Quốc Dân Đảng do cố liệt sĩ Nguyễn Thái Học lãnh đạo, nhưng chẳng bao lâu tông tích bị bại lộ, cụ bị mật thám Pháp truy lung nên phải trốn vào Nam. Cụ đã lập gia đình và lập nghiệp tại xã Chánh Lưu tỉnh Thủ Dầu Một (nay là xã Chánh Hiệp tỉnh Sông Bé). Thời gian ở đây cụ có tất cả 6 người con nhưng bỏ mất 03. Năm 1945 cửa hàng buôn bán của cụ đang hồi cực thịnh nhưng chỉ sau 05 phút tất cả chỉ còn lại một đống tro tàn lẫn trong một đống gạch vụn; đây là hậu quả của cuộc oanh kích của phi cơ Đồng Minh vào quân đội Nhật bản trú đóng cách đó không quá ½ cây số. Buồn vì gia sản tiêu tan nên cụ bà sau khi sinh người con út (9/1945) đã bỏ cụ ở lại với 03 đứa con dại hường dương 34 tuổi. Qua năm sau cụ dẫn dắt đám con thơ trở về quê nội lập lại sự nghiệp. Qua năm sau cụ lập gia đình lần thứ hai và từ đó có thêm được 4 người con nhưng lại bỏ mất 1.
Ngày 16/8/1954 cụ và cả gia đình một lần nữa lại rời quê cha di cư vào Sài Gòn lánh nạn Cộng Sản và làm việc tại Tổng Nha Ngân Sách và Ngoại Viện cho tới năm 1971 thì về hưu sống với con cháu cho tới ngáy 17/09/1985 ( nhằm ngày 22 –08 Giáp Tý ) lúc khoảng 3 giờ chiều thì quy tiên vì bệnh gan: vừa đúng tròn 40 năm sau ngày cụ chánh thất qua đời: hưởng thọ 76 tuổi tại xã Chánh Hiệp tỉnh Sông Bé .
Như vậy trải qua biết bao nhiêu chuyển biến của cuộc sống, phải chăng hương hồn cụ hẳn đã hài long nhắm mắt tại địa danh nơi mà trước kia cụ đã chọn nó làm nơi lập nghiệp?
Cụ Thiên Lương bắt đầu nghiên cứu Tử Vi từ năm 18 tuổi, nhưng bao phen cụ chán nản bỏ cuộc và không tin môn học cổ này, nhưng rốt cuộc cụ quay trở về với nó và thành công rực rỡ.
Trước năm 1970 cụ chỉ nghiên cứu và chỉ dạy cho con cái cùng ít bạn bè thân thuộc nên ít ai biết đến. Từ năm 1970 về sau, vì theo sự yêu cầu của con cái và nhất là của cố ký giả lão thành Trần Việt Sơn nên cụ đã đồng ý cho phổ biến trên tờ Khoa Học Huyền Bí những tài liệu do cụ đã ngiên cứu và khám phá và bút hiệu Thiên Lương được khai danh từ đó. Đến mùa xuân1974 cụ cho xuất bản quyển sách tử vi đầu tay mang tựa: “ Tử Vi Nghiệm Lý “ với 2000 số và đã bán hết sạch trong vòng 03 tháng . Cụ hy vọng vài năm sau sẽ cho ra tiếp quyển “Tử Vi Nghiệm Lý Toàn Thư” nhưng hoài vọng của cụ đã không thành vì ... ( cắt mấy chữ vì lý do chính trị ) Nam VN. Tất cả bài vở cùng tài liệu của cụ đã được gởi ra hải ngoại cho con trai thứ trước ngày cụ biết sắp sửa quy tiên.
Cụ Thiên Lương chủ trương môn tử vi nghiệm lý có nghĩa là những khám phá mới của cụ muốn cho các độc giả nghiên cứu, chiêm nghiệm với thời gian để ứng xem đúng sai, chứ cụ không chủ trương đả phá, phê bình hay bút chiến với bất cứ ai và cụ luôn luôn giữ thái độ im lặng mỗi khi có ai phê bình hay hoặc dở về các khám phá mới của cụ đã được phổ biến (1) ngoài ra cụ cũng căn dặn con cháu và các môn sinh đừng bao giờ dùng tử vi để kiếm tiền hoặc làm “cần câu cơm” và chỉ được “tạm” hành nghề khi ngoài tuổi 60 không ai nương tựa nhưng chỉ đủ sống độ nhật mà thôi.
Ba La
Nói tới thầy Tử Vi ở miền Nam thì phải nhận cụ Ba La là bậc thầy của các thầy. Sở dĩ nói bậc thầy vì tuổi tác -cụ mất năm 1973 lúc đó đã thọ 103 tuổi- và cũng vì sở học uyên bác của một bậc túc nho đã lặn lội bao năm ở Tầu, và có lẽ ở Côn Ðảo nữa. Cụ Ba La lấy tên làng Ba La ( Hà Ðông ) làm tên hiệu, không ai biết được tên tuổi thật của cụ, cụ cũng không chịu nói rõ cho ai biết, cụ chỉ kể những chuyện từ hồi Tây mới sang, lúc ấy dân ta còn chưa biết lính Tây thế nào nên khi thấy quân lính Pháp mặc đồng phục quần thẳng nếp thì tưởng là người Tây dương không có đầu gối dễ bị ngã nên dân ta trải ổi xanh ra đường hoặc lấy ổi xanh bắn… nghe cụ kể lại chuyện đánh Tây đời Tự Ðức và hồi chạy sang Tầu… người nghe tinh ý đoán rằng cụ thuộc thế hệ Cần Vương, Duy Tân, Ðông Kinh Nghĩa Thục… bôn ba ra hải ngoại từ đầu thế kỷ 20.
Mỗi lần đến thăm thầy, người xem có cảm tưởng như vào một động tiên nơi thâm sơn cùng cốc để gặp một người hiền ở ẩn, râu tóc bạc phơ như trong truyện Tầu. Thật vậy, cụ ở đường Nguyễn Phi Khanh, Ðakao, tóc bạc phơ búi củ hành, ngồi trên sập gỗ, khi có khách vào cụ trịnh trọng đứng dậy thay áo dài ta trắng, ngồi trên sập tiếp khách. Phong thái nhà Nho trọng Lễ đó làm người xem cảm phục và thoáng tiếc thuở ” vang bóng một thời ” của nhà Nho Lễ trị năm xưa. Cái thời nghiêm túc trọng người trọng vật, lấy thành tín lễ nghĩa mà cư xử với nhau. Cụ Ba La là bậc sư phụ tiêu biểu cho thời văn minh đó.
Giữa tiếng súng lẻ tẻ của tết Mậu Thân 1968, lần đầu tới gặp cụ, người viết lấy làm hối tiếc đã không được gặp Cụ sớm hơn để học hỏi.Với phong cách siêu phàm thoát tục, cụ từ tốn gieo quẻ Dịch sau khi cầu khấn nào ” Khổng Minh Gia Cát, nào Quỷ Cốc tiên sinh…xin ứng quẻ ” v.v… Có lẽ việc cầu khấn đó được dùng như một nghi lễ hình thức để tạo không khí tập trung tư tưởng hơn là thực sự trực tiếp cầu xin Gia Cát, Quỷ Cốc…Ðặt quẻ xong cụ dùng mấy đồng trinh đã mòn cả mặt chữ gieo quẻ Dịch rồi bấm quẻ, đồng thời cụ bấm số Tử Vi,sau đó mới nói tới số mệnh. Mắt cụ đã lòa và ngón tay thịt đã dẹt hẳn xuống với thời gian gần một thế kỷ, khuôn mặt trí thức siêu phàm, một hình dáng ông Nghè, ông Trạng năm xưa, bắt đầu nói vắn tắt: ” Số ông làm tới…, ông đứng hàng thứ… trong thiên hạ”. Cụ xem cho ai là xác quyết được ngay người ấy thuộc loại người nào trong xã hội, loại tiểu nhân hay quân tử, loại lãnh tụ hay thừa hành, quân nhân hay văn nhân v.v… đứng vai vế gì trên nấc thang công danh v.v… đấy là điều hết sức khó, gần như không thầy nào đoán được.
Người viết từng theo dõi một vị viết về Tử Vi rất hay, rất thâm cứu, trên một tờ báo xuất bản ở Mỹ khoảng 1976 – 77, tới lúc gửi lá số cho vị này xem thì lại đoán một ông giáo sư đại học là một thương phế binh, đoán một ông dược sĩ làm thủ công nghệ v.v…So với cụ Ba La mù mắt mà biết được người xem thuộc thành phần gì trong xã hội thì Cụ quả là người siêu phàm, độc đáo và khoa lý số chân truyền chắc hẳn phải có những bí quyết riêng.
Có nhiều người tới học Tử Vi cụ Ba La, kể gồm cả cụ Thiên Lương, trong cuốn Tử Vi Nghiệm Lý cụ Thiên Lương gọi cụ Ba La là ông Vua Tử Vi bất đắc chí và dành cả chương bàn về Tuần, Triệt, Không, Kiếp, để trả lại cho ân sư là cụ Ba La đã có công giải thích. Nhiều tướng tá định đảo chính, nhất là thời ông Diệm, đều tới vấn kế cụ. Hình như ông tướng Ðỗ Mậu cũng tới học cụ Ba La ít nhiều. Năm 1968, lúc ấy thế các ông Thiệu, Kỳ còn mạnh mà cụ đã nói ngay ” mấy thằng ấy thằng đổ trước thằng đổ sau, có ra gì “.
Vì phân biệt được kẻ tiểu nhân, người quân tử nên cụ Ba La rất thận trọng, dặn dò người tri kỷ chớ nên tiết lộ những gì cụ nói để tránh hậu họa. Cụ học số Tử Vi bên Tàu, sở học của cụ rất thâm sâu, từng ngồi xem số ở chợ Hà Ðông trước 1954, các ông Nguyễn và Vũ thời 1940 đã có tới nhà cụ để xem số, cụ nói ” nhà tôi có vườn rộng, các ông ấy vẫn tới chơi xem số “, người viết cố hỏi thêm, cụ không nói. Cụ chỉ nói tổng quát : ” các ông ấy xuất thân ở miền đất xấu, gặp nhiều tai ương, chẳng được lâu “, cụ nói thêm ” đất Việt ta thời xưa từ Thanh Hóa trở ra đất rộng sông dài, dựng nghiệp lâu dài được, miền Nghệ Tĩnh đất hẹp, bốc lên rồi tắt rất nhanh, chẳng quá hai ba giáp”. Lời cụ nói nay đã ứng nghiệm. Số ông Nguyễn tuổi Tân Mão, Thân Mệnh Tử Phá Thìn Tuất, giống số Mạc Ðăng Dung, Mộc mệnh, Thủy cục nên ứng vào sao Phá quân âm thủy, phú đoán “ Trai bất nhân Phá quân Thìn Tuất, gái bạc tình Tham Sát nhàn cung “, Mệnh ở Thìn, thuộc Ðông Nam, nên ảnh hưởng cả vùng Ðông Nam Á, Thiên không đóng Mệnh cung : cả đời không vừa ý, tất cả những gì vất vả để có rút cục vẫn là không !
Lối xem của cụ Ba La thường lấy sao ứng với bản mệnh làm sao chính. Thí dụ Kim mệnh thì lấy sao Kim trong cung Mệnh làm chính, còn các sao khác, dù là chính tinh cũng là phụ, là sao “của người ta” chứ không phải của mình, bởi vậy cho nên khi thấy có Tử Phủ Vũ Tướng hoặc Sát Phá Liêm Tham chớ vội mừng vì phải xem sao ấy có thuộc bản mệnh mình không. Khi tìm được sao chính ứng với mình rồi thì sẽ xem các cách của sao ấy hoặc khi tới đại hạn nào phù hợp với nhau để đoán đại vận bộc phát. Thí dụ người Kim mệnh có Sát Phá Tham Tử Tướng ở cung Thân Mệnh không ăn vì 5 sao đó mà lại ăn vào sao Kình Dương (Kim) thủ mệnh, đó là hung tinh độc thủ đại phát, cách của Kình Dương, Kim Mệnh, cư Tuất cung là ” hào kiệt dương danh hội Cơ Lương, thả mạn đàm binh, văn chương nhi quán thế “ Mỗi lần tới các câu phú đoán chữ Nho cụ Ba La lại giải thích ” chữ Văn Chương thời xưa không có nghĩa như Văn Chương thời nay đâu, thời đặt ra phú Tử Vi này đã cả nghìn năm rồi, chữ Văn Chương có nghĩa là văn võ toàn tài, kinh lược, các ông bây giờ Tây học không biết được ! ” Nhưng Kình Dương có Thiên Cơ nhị hợp còn Thiên Lương lại lạc đâu mất, thành ra phải chờ tới đại hạn có Thiên Lương thì Kình Dương mới bộc phát lên đúng cách như phú Tử Vi Trần Ðoàn đã viết.
Vì cụ Ba La đã nghiên cứu sách vở Tử Vi từ bên Tầu nên mọi ngọn ngành của Tử Vi cụ đều tinh thông. Cụ thường dặn Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ khắc chế của người sau đặt thêm vào, không quá quan trọng như nhiều người tưởng. Thí dụ như Kim mệnh ăn sao Kim (Kình Dương), đứng cạnh có sao Phá Quân (Thủy) thì chất Thủy “bòn” chất Kim đi làm cho Kim chậm phát chứ không phải là không phát nổi. Sao nào rồi cũng có thể phát khi tới vận hội của nó.
Khi hỏi về Âm Nam, Dương Nam là nghĩa gì thì cụ nói Âm Nam là ” Tâm vô ẩn địa “ chỉ người đầu óc không định hướng. Cụ kể thêm chuyện ông Lý Thường Kiệt sao Thái Dương bị triệt nên làm hoạn quan. Cụ coi các cách như Ðào Hồng, Hỉ, Khoa Quyền…là phụ, biết qua để đoán chứ không quan trọng như tìm đâu ra là sao của chính mình. Giáp mệnh có Lộc, nhị hợp với Thân; giáp Thân có Lộc, nhị hợp với Mệnh, đó là ” Minh Lộc ám Lộc “, cụ Ba La mỉm cười nói ” các ông bây giờ theo Tây học, học Tử Vi nhưng đâu có biết như thế “.
Năm 1972 – 73, tới xem cụ đột nhiên nói ” Tới năm Mão (1975) không biết ai gánh vác vũ trụ cho “, cụ mơ tưởng một ngày kia sẽ trở về quê quán làng Ba La và chết già ở đấy, nào ngờ cuối năm 1973, cụ mất, hưởng thọ 103 tuổi. Chiều hôm ấy tới đường Nguyễn Phi Khanh, bảng hiệu Ba La Tử Vi Bói Dịch vẫn còn treo mà Thầy thì đã phiêu du cõi Tiên, tôi ngậm ngùi biết từ đây, trên thành phố tân tiến Sài Gòn này, vết tích dư âm một thời cổ xưa đã tuyệt, mà lòng kẻ hậu sinh đang mắc bệnh Duy Ma bỗng lồng lộng cô đơn như đi vào núi tìm thầy mà thầy đã đi hái thuốc khuất bóng đâu đâu !
Một môn đệ của cụ Ba La, thầy bói Cầu Kiệu, ông này mù, còn trẻ, không được thông minh lắm, học không hết bậc thầy quá cao siêu, nên chỉ đoán được tới mức khá mà chưa đạt được mức siêu. Thầy bói Cầu Kiệu, cũng dùng sao hợp với bản mệnh để giải số. Nghe nói sau này, thầy bói Cầu Kiệu rất đông khách tới xem hung cát trên đường vượt biên !
Cụ Ba La không hẳn là một thầy bói. Cụ là nhà Nho với sở học thông Thiên-Ðịa-Nhân, lúc mắt lòa, chữ Nho hết thời, nên mới ra hành nghề Tử Vi Bói Dịch như người xưa thường làm Nho Y Lý Số. Về Ðịa lý Phong thủy cụ cũng rất tinh thông, nhìn cung Phúc Ðức có thể biết mộ nào phát, long mạch ở đâu. Như cung Phúc Ðức có Tử Phủ Vũ Tướng, Long Ðức, Âm Dương là được ngôi mộ đại phát, gần đình chùa, đại địa.
Riêng về sấm ký, cụ tinh thông Sấm Trạng Trình và biết nguyên ủy của sự tam sao thất bản của tập Sấm Quốc Bảo này. Vì cụ đã đọc Sấm Trạng Trình từ thời còn Triều Nguyễn thế kỷ 19 nên cụ biết câu nào vua Tự Ðức sửa đổi, câu nào các nhà Nho sau này như Phó Bảng Nguyễn Can Mộng đặt ra để thúc dục lòng yêu nước của dân ta v.v… Cụ đã giải thích cặn kẽ và chiết tự để tìm hiểu các ẩn ngữ trong Sấm Trạng Trình. Nghe lời Cụ mới thấy Sấm Trạng Trình đã bị bóp méo thêm bớt rất nhiều !
Trí óc cụ Ba La vận hành trên một kích thước dài rộng của lịch sử và siêu sử, nên khi coi số cụ biết nhân vật nào là hiện thân của con Tinh thời Hùng Vương, hóa thân gây hoạn nạn cho dân ta, muốn trừ con Tinh này phải chờ ngày Thánh Nhân ra đời, hậu thân của Thánh Tản Viên, để trừ khử con tinh đó. Theo cụ Ba La, ông Nguyễn từ khi đổi họ (khoảng 1942 – 43) mới bắt đầu thành công vì lúc đó ông mang lấy cái chướng nghiệp của con Tinh hiện thân của ác sát lực (evil force) trên đất Việt.
Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử
Cụ Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử Lê Tư Vinh, tác giả hai cuốn "Tử Vi Áo Bí Biện Chứng Học" và "Tướng Pháp Áo Bí", sinh ngày 9 tháng 3 năm 1926, tức là ngày 25 tháng 1 (âm lịch) năm Bính Dần giờ Dậu. Mệnh có Liêm Tham ở Tỵ đắc triệt và Hoá Kỵ cứu gỡ.
Về tài năng và công trạng của cụ Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử đối với nền học thuật nước nhà thật là cũng không kém gì cụ Thiên Lương, nếu không muốn nói là hơn xa cụ Thiên Lương. Hai tác phẩm đồ sộ của cụ Việt Viêm Tử đã kể trên là những chứng cớ hùng hồn cho sự phán quyết ấy.
Cụ Lê Tư Vinh vốn là một Đại Tá Hải Quân trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (trước 1975). Sau năm 75 cụ di tản sang Hoa Kỳ, và có một thời gian cụ làm việc cho chính phủ Hoa Kỳ trong phái đoàn tìm kiếm tù binh và xác chết của lính Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.
Cụ Lê Tư Vinh thường tự hào là hậu duệ của Lý Đông A và hay nói với thuộc hạ trong đảng của ông là ông có sứ mệnh làm lãnh tụ của nước Việt Nam sau này đấy.
Maitre Khánh Sơn
Thầy Khánh Sơn là người nổi tiếng sớm nhất và lâu nhất ở Sai Gòn trước năm 1975. Từ những năm Pháp thuộc, thầy xưng là Maitre Khánh Sơn. Báo chí đăng ảnh thầy đeo kính trắng trí thức, một ngón tay chỉ vào cái chìa khóa, tượng trưng cho sự khám phá mọi điều huyền bí (?!). Thầy hành nghề từ thập niên 1940 sau khi tốt nghiệp sư phạm Hà Nội, chứ không phải vì thất nghiệp mà phải xoay nghề như một số thầy từ bên Tàu sang.
Theo nhiều người kể lại, thầy Khánh Sơn là người hào hoa phong nhã, làm ra nhiều tiền nên dù vợ con đàng hoàng, thầy vẫn được các bà, các cô mê mệt.
Viên toàn quyền Pháp Pasquier trấn nhậm Đông Dương vào năm 1936, được thầy Khánh Sơn đã đưa ra câu “sấm” để giải đoán vận mệnh ông ta:
Bao giờ hai bảy mười ba
Lửa thiêng đốt cháy tám gà trên mây
Thầy Khánh Sơn ám chỉ rằng “tám gà” là “bát kê” (phiên âm tên vị toàn quyền Pasquier và “trên mây” là “máy bay”. Sau đó ít lâu, máy bay chở viên toàn quyền về Pháp bị bốc cháy khiến tất cả tám người đều tử nạn. Từ đó tên tuổi thày nổi như cồn được mọi người biết đến, và thời gian hành nghề của thày Khánh Sơn kéo dài rất lâu.
Thày cũng từng tiên đoán vận mệnh của nhiều nhân vật tên tuổi như cựu hoàng Bảo Đại, cựu quốc vương Sihanouk…
Minh Nguyệt
Thầy Minh Nguyệt, người miền Nam, quảng cáo trên báo là giáo sư Minh Nguyệt, mở văn phòng đường Đề Thám, cùng các thầy Huỳnh Liên, Khánh Sơn, có hàng chục ngàn thân chủ vào thời ấy. Văn phòng thày Minh Nguyệt thu hút nhiều nữ thân chủ, phần đông có chồng ngoại quốc đã về nước. Các cô nhờ thầy đoán số khi nào được gặp lại cố nhân để đời sống lên hương như trong qúa khứ. Nhiều bà có nhan sắc cũng mong được nâng khăn sửa túi cho thầy Minh Nguyệt, nhưng thầy nghiêm lắm, chẳng bao giờ dở thói trăng hoa.
Nguyễn Văn Canh
Thầy Nguyễn Văn Canh sinh quán tại Nam Định. Thày Canh bị mù loà từ thuở sơ sinh, được gia đình cho học nghề bói toán làm kế sinh nhai.
Thuở đầu đời, thầy hành nghề tại Thái Bình, Hà Nội, rồi di cư vào Sài Gòn. Thày Canh đông con, tất cả đều học hành nên người, gia đình sung túc nhờ nghề của thầy rất sáng giá vào thời ấy. Thầy sở trường về tử vi bói dịch, nổi tiếng như một nhà tiên tri. Dáng người thầy bệ vệ cao lớn, thày có sức khỏe dồi dào, tinh thần minh mẫn. Xem tử vi thầy bấm lá số trên năm đầu ngón tay. Thầy Canh, cư ngụ trên đường Nguyễn thiện thuật, chỉ cần nghe ngày sinh tháng đẻ của thân chủ một lần là thầy nhớ mãi, nói vanh vách bố cục của sao, vận tốt xấu ra sao, ít khi sai lầm. Nói xong, thầy nhớ mãi, lần sau khách đến chỉ cần nói tên là thày biết số này ra sao ! Và nếu có thêm một chai bia lạnh “33” trên bàn thì khỏi nói, thầy xem số càng sắc nước. đặc biệt về võ cách “Sát-Phá-Liêm-Tham”.
Ngoài ra còn một số thày tử vi, tướng số cũng có tiếng tăm như nhà biên khảo Vũ Tài Lục (Hòa Hưng), thày Ích (Calmette), nhạc gia của MC Nguyễn Ngọc Ngạn. Thày Kim (Chi Lăng), Thày Quang Thông (Trần Quí Cáp, thường xem số cho TT Nguyễn Cao Kỳ). Cụ Lê Đình Tỵ tỏng sự tại bộ Ngoại Giao, nhờ tài Tử vi mà được cất nhắc lên tham vụ ngoại giao tại Singapore. Cụ Tỵ là người khai tâm cho tác giả khoảng năm 1963, và Thiếu Tướng Đỗ Mậu cũng là môn sinh của cụ.
Những bóng hồng trong giới bói toán
Tuy cũng thành công, nhưng so với qúi ông thì số lượng các bà thầy coi bói thời ấy ít hơn nhiều. Thường thì, khách của các bà thầy là phụ nữ, nhưng đôi khi cũng có các đấng thiếu gia lắm tiền nhưng mê tín.
Bà Anna Phán đã nổi tiếng một thời từ Hà Nội. Bà theo làn sóng di cư vào Nam nhưng chỉ hành nghề vài năm thì nghỉ. Có người nói rằng vì tuổi già sức yếu nên con cháu không muốn bà tiếp tục hành nghề, dù rằng lộc thánh vẫn còn.
Trẻ hơn bà Anna Phán, là bà thầy mang cái tên rất đầm: Madame Claire. Madame này chẳng những có biệt tài bói toán mà còn là người phụ nữ lịch lãm, nhan sắc đậm đà. Tin đồn rằng, một công tử Bạc Liêu (Paul Phước) khá lớn tuổi nhưng si tình, vẫn còn đem đến dâng tặng Madame những món tiền lớn và nhiều nữ trang đắt tiền.
Cô Bích, một thiếu phụ, người Đà Nẵng, rất nổi tiếng về bói toán và lập am lên đồng tại miền Trung. Trước đây, cô kết hôn với một sĩ quan Pháp nhưng không có con. Là người ít học, nhưng khi “đồng lên” cô Bích viết chữ Hán đẹp như rồng bay phượng múa. Cô giải thích đó là lời tiên thánh truyền dạy cho kẻ đến hầu cửa cô, và khi đồng nhập thì con đồng trở nên đẹp lộng lẫy, cặp mắt sắc như dao. Cô Bích mất tại Đà Nẵng sau năm 1980.
Nhưng nữ thày bói lừng danh hơn cả là cô Nguyệt Hồ, 43 tuổi, ở đường Đinh Công Tráng. xưa kia đã một thời là hoa khôi. Phần lớn khách đến là ngắm cô nhiều hơn là xem bói, trong đó có tác giả bài này. Bạn bè hỏi thăm “Bà thày xem đúng không?” Tôi ngẩn người: “Cô thầy mặc áo lụa mỏng, đẹp qúa”. Hoặc đôi lúc đưa bạn gái đi xem xi nê, được hỏi phim hay không. Tôi thật tình cũng quên mất xem phim gì.
Cả bốn vị nữ lưu thày bói kể trên đều thành công với nghề nghiệp và sống cuộc đời sung túc, nếu không nói là vương giả. Các bà thày xem tử vi, bói bài, chỉ tay mà còn kiêm thêm dịch vụ gỡ rối tơ lòng. Các nữ thân chủ đông đảo, luôn phải lấy hẹn trước và ngồi chờ.
Ngoài ra, còn nhiều cao thủ tử vi khác mà tôi chưa tìm được tiểu sử như Nguyễn Phát Lộc, Vân Đằng Thái Thứ Lang, Vũ Tài Lộc, Huỳnh Liên,….. Hy vọng Quý vị nào có các tài liệu về cuộc đời và sự nghiệp của những người này sẽ cùng chia sẻ với bạn đọc.
Nguồn : *******.com
-
Rommel
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 2039
- Tham gia: 10:18, 19/08/24
TL: Tiểu sử các Tử Vi gia
Sách viết “Trần Đoàn ngủ mấy chục năm trên núi Hoa Sơn mới thức dậy “
tui nghĩ ổng ngồi thiền chứ không phải ngủ, thời xưa thiền là bí truyền.
tui nghĩ ổng ngồi thiền chứ không phải ngủ, thời xưa thiền là bí truyền.
Đang trực tuyến
Đang xem chuyên mục này: AdsBot [Google], Baidu [Spider], biben2026, Bing [Bot], Commander faithful, Criteo [Bot], Dad of ad, emubinh, Google [Bot], hoanglong11023, IAS [Bot], IAS Crawler, IAS OR, Kinhduongdala, Lavender91, Leducmanh21041997, Long Đức, Meta ext [Bot], midorii, mimimomo123, nguyenhoa146, Perplexity [[Bot], phucthienloc, Quý Mão 12345, thaonhibui, Thatsatnguongdau85, Trendiction [Bot], Tungnguyen_11, vantam672002, vtplqdqn, Yandex [Bot], yesterday2016 và 321 khách.