Tử Vi cách cục tối trọng âm dương
Nội qui chuyên mục
Đây là chuyên mục dành cho việc xem lá số tử vi. Các bài mang tính trao đổi học thuật xin vui lòng đăng trong mục Kiến thức tử vi.
Không được đính kèm lá số của trang web khác. Các bài không liên quan sẽ bị chuyển khỏi chuyên mục này.
Đây là chuyên mục dành cho việc xem lá số tử vi. Các bài mang tính trao đổi học thuật xin vui lòng đăng trong mục Kiến thức tử vi.
Không được đính kèm lá số của trang web khác. Các bài không liên quan sẽ bị chuyển khỏi chuyên mục này.
-
silverlight267
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 1421
- Tham gia: 18:20, 15/07/18
Tử Vi cách cục tối trọng âm dương
Bài viết dựa trên quan điểm cá nhân, ứng dụng từ dịch lý, ngũ hành thông qua thần sát khởi lệ để tìm về nguồn cội khí hóa âm dương ngũ hành.
Không nhận phản biện vì đây chỉ là góc nhìn cá nhân, để dễ nhớ dễ luận giải.
<<Kinh dịch bát quái quá rộng để hiểu tượng tần nguồn cơn>>
Topic sẽ phát triển thêm về một số cách an sao theo nguồn cội khí hóa âm dương.
Không nhận xem lá số tại topic này
_________________________________________________
Kiến giải vòng lưu chuyển khí âm dương ngũ hành:
Theo Việt Dịch Đồ, thần sát khởi lệ , cũng như theo lục thập hoa giáp, khí âm dương sẽ bắt đầu khởi từ giáp ất, đến bính đinh, qua canh tân và kết thúc ở nhâm thủy, xen giữa bao trùm các hành này là kỷ mậu (phải chăng thổ để nhuận khí âm dương?)
Âu có phải lẽ thường tình khi các chi Mão chỉ tàng can ất, chi dậu chỉ tàng can Tân, và chi Tý chỉ tàng can Qúy, nhưng chi Hỏa Thổ thì không tàng độc an, mà khi tỵ ngọ hỏa tàng 70 hỏa và 30 thổ?
Để suy nghĩ về vấn đề này có thể đưa ra một ví dụ: Thanh Long cư Thìn được coi là Long cư Long vị? Vì sao đất Thìn (Thổ) lại là điểm được chọn cho rồng ở, phải chăn chi Thìn tàng (60% thổ, 30%mộc và 10%thủy). Vậy Long gặp thìn là long nằm trong đất bùn, hợp với đặc tính của loài rồng?
Xét lưu chuyển khí trong một 12 cung cũng có thể nhận định thông qua việc cổ nhân an Tuần Triệt.
Tuần là nơi cao, nơi khởi của khí, Triệt là nơi trũng, nơi tận cung bị triệt khí không còn lưu, âm dương thuận lý chảy theo dòng tý->hợi, âm dương nghịch lý thì ngược lại.
Dòng khí sẽ mang hơi thở ngũ hành dựa trên thiên can gốc và tàng can của địa chi.
1.Tuần
Muốn an sao Tuần, phải tính xem tuổi sinh thuộc Giáp nào trong Lục giáp.
Giáp Tý tới Quý Dậu Tuất + Hợi
Giáp Tuất tới Quý Mùi: Thân + Dậu
Giáp Thân tới Quý Tỵ Ngọ + Mùi
Giáp Ngọ tới Quý Mão Thìn + Tuất
Giáp Thìn tới Quý Sửu Dần + Mão
Giáp Dần tới Quý Hợi Tý + Sửu
Tuần Trung Không Vong; Tuần Giáp Tí ở Tuất Hợi, Tuần Giáp Tuất ở Ngọ Mùi; Tuần Giáp Ngọ ở Thìn Tỵ; Tuần Giáp Thìn ở Dần Mão; Tuần Giáp Dần ở Tí Sửu.
"Khảo Nguyên Phụ Luận" nói rằng: "Mười Can là một Tuần, lấy 10 Can phối với 12 Chi từ Giáp đến Quý là hết, Thiên Can không bằng nên dư ra hai thời là Không Vong. Như Giáp Tí đến Quý Dậu không tới Tuất Hợi; vậy nên Giáp Tí lấy Tuất Hợi là Tuần Trung Không Vong. Ngoài ra phỏng theo như thế".
Lý do?
Tuần thay thế cho thiên can Giáp Ất của 2 địa chi cuối cùng của vòng 12 con giáp. Là nơi bắt đầu thiên can (Giap Ất) và là nơi 2 địa chi kết thúc.
2. Triệt
Sách Hiệp Kỉ Biện Phương Thư, Lịch Lệ, viết: "Triệt Lộ Không Vong, Can Giáp, Kỷ ở Thân Dậu; Can Ất Canh ở Ngọ Mùi, Can Bính Tân ở Thìn Tỵ; Can Đinh, Nhâm ở Dần Mão; Can Mậu, Quý ở Tí Sửu, Tuất Hợi".
Lý do?
Quay về cách an thiên can địa chi của lá số để thấy rõ.
An Triệt như trên để Triệt rơi vào 2 cung có thiên can là Nhâm, Qúy. Vì sao là Nhâm, Qúy mà không phải là Giap Ất Bính Tân?
Theo Việt Dịch Đồ:
Nhâm là vị trí Khảm Thủy là vị trí của Tí, nơi âm cực, là điểm cuối chu kỳ của dòng hành khí âm và Quý là vị trí Càn Thủy cũng là vị trí của Tí, nơi dương tận, là điểm cuối chu kỳ của dòng hành khí dương
Nói tóm lại, Nhâm Quý Thủy là điểm cuối "cùng tận" của chu kỳ âm dương, là điểm lùi đã "cùng" và tiến đã "tận".
Là "không thể thoát ra" ứng với câu của "Hiệp Kỷ Nguỵ Biện": Theo nghĩa của Triệt Lộ Không Vong, cho rằng 10 Can đến đó là cực rồi, từ đó về sau hai Chi là Tuần Không, khiến cho không có đất để lâm tiếp sau, vậy nên gọi là Triệt Lộ Không Vong.
( Đóng ở Nhâm Qúy là điểm tận của dòng âm dương, vì đến Giap Ất đã có tuần chặn lại, không có đường để đi nên gọi là Triệt)
“Tuần,Triệt không phải là một sao như các sao. Nó chỉ là dữ kiện Âm Dương, tiểu biểu cho sự đóng mở hai giai đoạn Âm và Dương. . . Ở đây Tuần Triệt chi phối về hai phương diện. Ta có thể tạm đặt là: đối ngoại và đối nội.”
Triệt Lộ Không Vọng được tính căn cứ vào Hang Thiên Can của năm sinh. Trở lại nguồn gốc vạn vật theo Hà Ðồ Lạc Thủ của Kinh Dịch, thì từ thuở hư không tức Thái Cực sinh trời rồi mới tới đất (Thiên nhất sinh thủy, Ðịa lục thành chi…) cho nên hàng can chính là cái cội rể của con người. Xét theo cuộc đời, thời gian thì hàng can phải là phần trước, có nửa đời trước thì mới có nửa đời sau, cái sau sinh ra bởi cái trước.
Tuần Trung Không Vong được tính theo can chi của năm sinh năm trong giáp nào tức là gồm cả thiên can và địa chi, thuộc giáp nào trong lục thập hoa giáp (Hội), mà can chi là 2 yếu tố căn bản để tạo nên tuổi của con người, nên Tuần sẽ ảnh hưởng suốt cuộc đời của con người.
3. Phú về Tuần Triệt và giải nghĩa theo quan điểm cá nhân
Trước tiên để giải thích các câu phú, phải nhận định được ngũ hành của Tuần Triệt là gì?
Có 4 quan điểm về ngũ hành của Triệt - Tuần:
• Quan điểm thứ nhất cho rằng: Triệt hành Kim (đới Thủy), Tuần hành Hỏa (đới Mộc)
• Quan điểm thứ hai cho rằng: Triệt - Tuần không mang hành cố định mà phụ thuộc vào hành của cung mà Triệt - Tuần án ngữ.
• Quan điểm thứ ba cho rằng: Triệt hành Kim, Tuần hành Thủy.
• Quan điểm thứ tư cho rằng: Triệt hành Hỏa, Tuần hành Thổ.
Thiết nghĩ quan điểm thứ nhất hoàn toàn hợp lý.
Tuần là điểm khởi đầu âm dương (Giáp, Ất) giáp ất hành mộc, vậy nên nói Tuần hành hỏa đới mộc là vậy, hỏa này do mộc mà sinh ra!
Triệt là điểm kết thúc của âm dương ( Nhâm, Qúy) hành thủy, vậy nên nói Triệt hành kim đới thủy là vì kim do thủy mà sinh ra!Thiết nghĩ đây là hành khí âm dương ^^
Ta có Tuần đóng ở những chi cần sự thay thế của Giáp Ât
Triệt đóng ở những cung có thiên can là Nhâm Qúy
Phú có câu:
“Triệt đáo kim cung, Tuần lâm hỏa địa”
Triệt mang đới thủy, đáo kim cung, kim sinh thủy, thủy nhiều hơn… triệt sẽ tang tính tác động mạnh lên các sao khi khí âm dương hội tụ về đây ngày một mạnh hơn.
Tuần đới mộc, lâm hỏa địa, mộc sinh hỏa…. khí âm dương xuất phát từ cung này sẽ tang lên.
Thêm câu phú:
Kim phùng không tắc minh, Hỏa phùng không tắc phát
Không này là Tuần hay Triệt hay cả hai?
Tuần lâm kim cung, như mộc vào đất kim, phát quang mạnh mẽ, núi cao cây cối bớt rậm rạp. Tuần lâm đất hỏa, như mộc vào nơi có lửa, phát quang sinh khí mạnh mẽ?
Triệt lâm kim cung, sinh thủy làm tận đáy rồi mà thủy lại đc kim sinh nên biển lại dâng lên, lâm hỏa cung, bốc hơi thủy tức hanh thông?
Hỏa - thì bốc lên gặp Không thì càng "phát" vì không bị gì che lấp...
Kim - thì đặc gặp Không rỗng ví như cái chuông, thì đánh mới "kêu" vang...
Khí âm dương tại đây, quang đãng hay được đốt cháy để tạo ra nguồn khí dồi dào, hợp tình hợp lý ở mức nào còn phụ thuộc vào bộ phi tinh.
Vậy nên giang hồ đồn rằng, mệnh VCD mệnh kim hỏa đắc tam không mới đc tốt âu cũng vì mấy chữ hỏa kim mộc thủy này mà ra….
Tuần là chặn đầu, Triệt là điểm cuối, kiểu như Tuần là vùng cao nguyên, Triệt là vùng trũng. Vậy nên tuần chỉ cho ra mà không cho vào, còn triệt thì chỉ cho vào mà không cho ra.
Với cung Nhị hợp Tý Sửu, Ngọ Mùi thì Tuần Triệt có tác dụng mạnh, vì nó là cung vừa nhị hợp vừa là cung Giáp, mà Tuần Triệt làm tăng ảnh hưởng ở cung Giáp. do vậy Tuần Triệt ở cung Tý với tuổi Âm không có tác dụng nhiều nhưng cung Tý lại bị ảnh hưởng của cung Sửu mạnh. Đây gọi là THÔNG KHÍ.
Tam Không độc thủ phú quí nan toàn
Mệnh vô chính diệu chỉ có tam Không mà thiếu Khoa Quyền Lộc Lộc Tồn thì giàu sang không lâu bền.
Vậy nguyên nhân là đâu. VCD khi nào gặp tuần triệt là tốt, khi nào gặp tuần triệt là xấu. Vì bản thân Tuần chặn không cho ra, còn Triệt thì chặn không cho vào, nên mệnh mà thiếu Khoa Quyền Lộc Tồn thì còn gì phú.
Ấy vậy giang hồ hay đồn rằng gặp Tuần tốt hơn gặp Triệt, đơn giản vì gặp Tuần thì chỉ chặn đầu ra thôi, chứ lại vẫn nhận các sao từ tam phương tứ chính hội chiếu xung chiếu ầm ầm. Nhưng quan trọng là hội gì ? Gỉa sử lục sát tinh thì Triệt chặn ko cho vào thì có phải tốt hơn Tuần chặn ko cho ra không ?
« Cung VCD phải xem có hung tinh đắc địa hay không nữa, nếu không có hung tinh thì xem như YẾM KHÍ, và nếu cung đối cũng bị Tuần hay Triệt thì cung VCD trở nên VÔ KHÍ, vì Tuần Triệt ngăn chặn các cung với nhau. khi đó cung vô khí sẽ rất xấu, nếu không có cách cục như Nhật Nguyệt sáng sủa chiếu hay Phủ Tướng triều viên thì khó mà sống thọ hay khá được. khi cung VCD có Tuần Triệt thì lại vừa VÔ KHÍ và lại bị thêm KHÔNG nữa thì cộng hưởng lại sẽ dẫn đến cùng cực tất phản biến của Dịch, khi đó bản cung VCD sẽ bị ảnh hưởng rất mạnh của cung Giáp, nếu 2 cung Giáp có Quyền lộc hay các sao đôi cát tinh tiếp giáp như Tả Hữu Xương khúc...thì lại tốt ra. »
Không nhận phản biện vì đây chỉ là góc nhìn cá nhân, để dễ nhớ dễ luận giải.
<<Kinh dịch bát quái quá rộng để hiểu tượng tần nguồn cơn>>
Topic sẽ phát triển thêm về một số cách an sao theo nguồn cội khí hóa âm dương.
Không nhận xem lá số tại topic này
_________________________________________________
Kiến giải vòng lưu chuyển khí âm dương ngũ hành:
Theo Việt Dịch Đồ, thần sát khởi lệ , cũng như theo lục thập hoa giáp, khí âm dương sẽ bắt đầu khởi từ giáp ất, đến bính đinh, qua canh tân và kết thúc ở nhâm thủy, xen giữa bao trùm các hành này là kỷ mậu (phải chăng thổ để nhuận khí âm dương?)
Âu có phải lẽ thường tình khi các chi Mão chỉ tàng can ất, chi dậu chỉ tàng can Tân, và chi Tý chỉ tàng can Qúy, nhưng chi Hỏa Thổ thì không tàng độc an, mà khi tỵ ngọ hỏa tàng 70 hỏa và 30 thổ?
Để suy nghĩ về vấn đề này có thể đưa ra một ví dụ: Thanh Long cư Thìn được coi là Long cư Long vị? Vì sao đất Thìn (Thổ) lại là điểm được chọn cho rồng ở, phải chăn chi Thìn tàng (60% thổ, 30%mộc và 10%thủy). Vậy Long gặp thìn là long nằm trong đất bùn, hợp với đặc tính của loài rồng?
Xét lưu chuyển khí trong một 12 cung cũng có thể nhận định thông qua việc cổ nhân an Tuần Triệt.
Tuần là nơi cao, nơi khởi của khí, Triệt là nơi trũng, nơi tận cung bị triệt khí không còn lưu, âm dương thuận lý chảy theo dòng tý->hợi, âm dương nghịch lý thì ngược lại.
Dòng khí sẽ mang hơi thở ngũ hành dựa trên thiên can gốc và tàng can của địa chi.
1.Tuần
Muốn an sao Tuần, phải tính xem tuổi sinh thuộc Giáp nào trong Lục giáp.
Giáp Tý tới Quý Dậu Tuất + Hợi
Giáp Tuất tới Quý Mùi: Thân + Dậu
Giáp Thân tới Quý Tỵ Ngọ + Mùi
Giáp Ngọ tới Quý Mão Thìn + Tuất
Giáp Thìn tới Quý Sửu Dần + Mão
Giáp Dần tới Quý Hợi Tý + Sửu
Tuần Trung Không Vong; Tuần Giáp Tí ở Tuất Hợi, Tuần Giáp Tuất ở Ngọ Mùi; Tuần Giáp Ngọ ở Thìn Tỵ; Tuần Giáp Thìn ở Dần Mão; Tuần Giáp Dần ở Tí Sửu.
"Khảo Nguyên Phụ Luận" nói rằng: "Mười Can là một Tuần, lấy 10 Can phối với 12 Chi từ Giáp đến Quý là hết, Thiên Can không bằng nên dư ra hai thời là Không Vong. Như Giáp Tí đến Quý Dậu không tới Tuất Hợi; vậy nên Giáp Tí lấy Tuất Hợi là Tuần Trung Không Vong. Ngoài ra phỏng theo như thế".
Lý do?
Tuần thay thế cho thiên can Giáp Ất của 2 địa chi cuối cùng của vòng 12 con giáp. Là nơi bắt đầu thiên can (Giap Ất) và là nơi 2 địa chi kết thúc.
2. Triệt
Sách Hiệp Kỉ Biện Phương Thư, Lịch Lệ, viết: "Triệt Lộ Không Vong, Can Giáp, Kỷ ở Thân Dậu; Can Ất Canh ở Ngọ Mùi, Can Bính Tân ở Thìn Tỵ; Can Đinh, Nhâm ở Dần Mão; Can Mậu, Quý ở Tí Sửu, Tuất Hợi".
Lý do?
Quay về cách an thiên can địa chi của lá số để thấy rõ.
An Triệt như trên để Triệt rơi vào 2 cung có thiên can là Nhâm, Qúy. Vì sao là Nhâm, Qúy mà không phải là Giap Ất Bính Tân?
Theo Việt Dịch Đồ:
Nhâm là vị trí Khảm Thủy là vị trí của Tí, nơi âm cực, là điểm cuối chu kỳ của dòng hành khí âm và Quý là vị trí Càn Thủy cũng là vị trí của Tí, nơi dương tận, là điểm cuối chu kỳ của dòng hành khí dương
Nói tóm lại, Nhâm Quý Thủy là điểm cuối "cùng tận" của chu kỳ âm dương, là điểm lùi đã "cùng" và tiến đã "tận".
Là "không thể thoát ra" ứng với câu của "Hiệp Kỷ Nguỵ Biện": Theo nghĩa của Triệt Lộ Không Vong, cho rằng 10 Can đến đó là cực rồi, từ đó về sau hai Chi là Tuần Không, khiến cho không có đất để lâm tiếp sau, vậy nên gọi là Triệt Lộ Không Vong.
( Đóng ở Nhâm Qúy là điểm tận của dòng âm dương, vì đến Giap Ất đã có tuần chặn lại, không có đường để đi nên gọi là Triệt)
“Tuần,Triệt không phải là một sao như các sao. Nó chỉ là dữ kiện Âm Dương, tiểu biểu cho sự đóng mở hai giai đoạn Âm và Dương. . . Ở đây Tuần Triệt chi phối về hai phương diện. Ta có thể tạm đặt là: đối ngoại và đối nội.”
Triệt Lộ Không Vọng được tính căn cứ vào Hang Thiên Can của năm sinh. Trở lại nguồn gốc vạn vật theo Hà Ðồ Lạc Thủ của Kinh Dịch, thì từ thuở hư không tức Thái Cực sinh trời rồi mới tới đất (Thiên nhất sinh thủy, Ðịa lục thành chi…) cho nên hàng can chính là cái cội rể của con người. Xét theo cuộc đời, thời gian thì hàng can phải là phần trước, có nửa đời trước thì mới có nửa đời sau, cái sau sinh ra bởi cái trước.
Tuần Trung Không Vong được tính theo can chi của năm sinh năm trong giáp nào tức là gồm cả thiên can và địa chi, thuộc giáp nào trong lục thập hoa giáp (Hội), mà can chi là 2 yếu tố căn bản để tạo nên tuổi của con người, nên Tuần sẽ ảnh hưởng suốt cuộc đời của con người.
3. Phú về Tuần Triệt và giải nghĩa theo quan điểm cá nhân
Trước tiên để giải thích các câu phú, phải nhận định được ngũ hành của Tuần Triệt là gì?
Có 4 quan điểm về ngũ hành của Triệt - Tuần:
• Quan điểm thứ nhất cho rằng: Triệt hành Kim (đới Thủy), Tuần hành Hỏa (đới Mộc)
• Quan điểm thứ hai cho rằng: Triệt - Tuần không mang hành cố định mà phụ thuộc vào hành của cung mà Triệt - Tuần án ngữ.
• Quan điểm thứ ba cho rằng: Triệt hành Kim, Tuần hành Thủy.
• Quan điểm thứ tư cho rằng: Triệt hành Hỏa, Tuần hành Thổ.
Thiết nghĩ quan điểm thứ nhất hoàn toàn hợp lý.
Tuần là điểm khởi đầu âm dương (Giáp, Ất) giáp ất hành mộc, vậy nên nói Tuần hành hỏa đới mộc là vậy, hỏa này do mộc mà sinh ra!
Triệt là điểm kết thúc của âm dương ( Nhâm, Qúy) hành thủy, vậy nên nói Triệt hành kim đới thủy là vì kim do thủy mà sinh ra!Thiết nghĩ đây là hành khí âm dương ^^
Ta có Tuần đóng ở những chi cần sự thay thế của Giáp Ât
Triệt đóng ở những cung có thiên can là Nhâm Qúy
Phú có câu:
“Triệt đáo kim cung, Tuần lâm hỏa địa”
Triệt mang đới thủy, đáo kim cung, kim sinh thủy, thủy nhiều hơn… triệt sẽ tang tính tác động mạnh lên các sao khi khí âm dương hội tụ về đây ngày một mạnh hơn.
Tuần đới mộc, lâm hỏa địa, mộc sinh hỏa…. khí âm dương xuất phát từ cung này sẽ tang lên.
Thêm câu phú:
Kim phùng không tắc minh, Hỏa phùng không tắc phát
Không này là Tuần hay Triệt hay cả hai?
Tuần lâm kim cung, như mộc vào đất kim, phát quang mạnh mẽ, núi cao cây cối bớt rậm rạp. Tuần lâm đất hỏa, như mộc vào nơi có lửa, phát quang sinh khí mạnh mẽ?
Triệt lâm kim cung, sinh thủy làm tận đáy rồi mà thủy lại đc kim sinh nên biển lại dâng lên, lâm hỏa cung, bốc hơi thủy tức hanh thông?
Hỏa - thì bốc lên gặp Không thì càng "phát" vì không bị gì che lấp...
Kim - thì đặc gặp Không rỗng ví như cái chuông, thì đánh mới "kêu" vang...
Khí âm dương tại đây, quang đãng hay được đốt cháy để tạo ra nguồn khí dồi dào, hợp tình hợp lý ở mức nào còn phụ thuộc vào bộ phi tinh.
Vậy nên giang hồ đồn rằng, mệnh VCD mệnh kim hỏa đắc tam không mới đc tốt âu cũng vì mấy chữ hỏa kim mộc thủy này mà ra….
Tuần là chặn đầu, Triệt là điểm cuối, kiểu như Tuần là vùng cao nguyên, Triệt là vùng trũng. Vậy nên tuần chỉ cho ra mà không cho vào, còn triệt thì chỉ cho vào mà không cho ra.
Với cung Nhị hợp Tý Sửu, Ngọ Mùi thì Tuần Triệt có tác dụng mạnh, vì nó là cung vừa nhị hợp vừa là cung Giáp, mà Tuần Triệt làm tăng ảnh hưởng ở cung Giáp. do vậy Tuần Triệt ở cung Tý với tuổi Âm không có tác dụng nhiều nhưng cung Tý lại bị ảnh hưởng của cung Sửu mạnh. Đây gọi là THÔNG KHÍ.
Tam Không độc thủ phú quí nan toàn
Mệnh vô chính diệu chỉ có tam Không mà thiếu Khoa Quyền Lộc Lộc Tồn thì giàu sang không lâu bền.
Vậy nguyên nhân là đâu. VCD khi nào gặp tuần triệt là tốt, khi nào gặp tuần triệt là xấu. Vì bản thân Tuần chặn không cho ra, còn Triệt thì chặn không cho vào, nên mệnh mà thiếu Khoa Quyền Lộc Tồn thì còn gì phú.
Ấy vậy giang hồ hay đồn rằng gặp Tuần tốt hơn gặp Triệt, đơn giản vì gặp Tuần thì chỉ chặn đầu ra thôi, chứ lại vẫn nhận các sao từ tam phương tứ chính hội chiếu xung chiếu ầm ầm. Nhưng quan trọng là hội gì ? Gỉa sử lục sát tinh thì Triệt chặn ko cho vào thì có phải tốt hơn Tuần chặn ko cho ra không ?
« Cung VCD phải xem có hung tinh đắc địa hay không nữa, nếu không có hung tinh thì xem như YẾM KHÍ, và nếu cung đối cũng bị Tuần hay Triệt thì cung VCD trở nên VÔ KHÍ, vì Tuần Triệt ngăn chặn các cung với nhau. khi đó cung vô khí sẽ rất xấu, nếu không có cách cục như Nhật Nguyệt sáng sủa chiếu hay Phủ Tướng triều viên thì khó mà sống thọ hay khá được. khi cung VCD có Tuần Triệt thì lại vừa VÔ KHÍ và lại bị thêm KHÔNG nữa thì cộng hưởng lại sẽ dẫn đến cùng cực tất phản biến của Dịch, khi đó bản cung VCD sẽ bị ảnh hưởng rất mạnh của cung Giáp, nếu 2 cung Giáp có Quyền lộc hay các sao đôi cát tinh tiếp giáp như Tả Hữu Xương khúc...thì lại tốt ra. »
-
silverlight267
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 1421
- Tham gia: 18:20, 15/07/18
TL: Tử Vi cách cục tối trọng âm dương
Không nhận xem lá số ở topic này
_______________________________________
Bàn về cách an sao Thiên Quan, Thiên Phúc theo "Thần sát Khởi Lệ" và "Tử Vi Nguyên Lý và Cốt Tuỷ"
THIÊN PHÚC: Đại phúc tinh, chủ phúc lộc.
- Giáp ái kim Kê (Dậu) Ất ái Hầu (Thân).
- Đinh Trư (Hợi) Bính Thử (Tí) Kỷ Hổ (Dần) đầu.
- Mậu tầm ngọc Thố (Mão) Canh Nhâm Mã (Ngọ).
- Tân Quý phùng Xà (Tỵ) phúc lộc đa.
Theo Thần Sát Khởi Lệ: "Nơi chính Quan của Chi là Thiên Phúc Quý Nhân". Cổ nhân đặt Thiên Phúc ở cung Thiên Can bị khắc vì ở trong cung ấy chủ có Lộc khắc ta.
Ví dụ: Giáp (Mộc dương) ở Dậu là Kim âm (Tân Lộc Tồn ở Dậu khắc là Phúc của Giáp),
Tương tự Ất (Mộc âm) Thiên phúc ở Thân kim dương (Canh Lộc ở Thân), Lộc Tồn ở Mão- Mộc âm
Bính (Hỏa) ở Tí (Quý),
Đinh (Hỏa) ở Hợi (Nhâm),
Mậu (Thổ) ở Mão (Ất)
Kỷ (Thổ) ở Dần (Giáp),
Canh (Kim) ở Ngọ (Đinh), Tân (Kim) ở Tỵ (Bính)
Nhâm (Thủy) Thiên Phúc ở Ngọ hỏa dương (Kỷ Lộc ở Ngọ), Lộc Tồn ở Hợi thủy âm
Quý (Thủy) ở Tỵ (Mậu lộc ở Tỵ)
THIÊN QUAN: Đại phúc tinh, chủ quý hiển.
- Giáp Dương (Mùi) Nhâm Khuyển (Tuất) Ất Long (Thìn) nghi.
- Bính Xà (Tỵ) Đinh Hổ (Dần) Kỷ Tân Kê (Dậu).
- Mậu Thố (Mão) Canh Trư (Hợi) Qúy Mã (Ngọ) thương.
Kỳ nhân quý hiển khả tiên tri.
Thần Sát Sát Khởi Lệ nói: "Tuỳ theo Can của Chính Quan Tinh gọi là Thiên Quan Quý Nhân. Quan Tinh: Thuật Tinh Mệnh lấy Can của năm gặp tháng, Can của ngày gặp giờ Ngũ Hành Chính Quan tương khắc là Quan Tinh)". Thật ra, Cổ Nhân đã dùng cách khắc ta là Quan Lộc để đặt Thiên Quan
=> nghĩa là tính Thiên Can của tháng Dần khởi đi đến tháng nào có Can khắc Can năm thì đặt ở đó, nên Thiên Quan phải an như sau:
Theo Tử vi nguyên thủy và cốt tủy viết như sau:
"Giáp: Thiên Quan ở Mùi vì Giáp khởi tháng Dần là Bính, tháng hai là Đinh, Mậu..., đến tháng (6) Tân Mùi, Tân là Quan của Giáp, nên đặt ở đó.
- Ất: Thiên Quan ở Thìn vì Ất khởi tháng Dần là Bính, Mão là Đinh, tháng (3) Canh Thìn, Canh là Quan Lộc của Ất, nên đặt ở đó.
- Bính: ở Tỵ vì khởi tháng Dần là Canh, ... tháng 3 là Nhâm Thìn, tháng (4) Quý Tỵ, Quý là Quan Lộc của Đinh, nên đặt Thiên Quan ở đó.
- Đinh: ở Dần vì khởi tháng Dần là Nhâm, Nhâm là Quan Lộc của Đinh nên đặt Thiên Quan ở đó.
- Mậu: ở Mão vì Mậu khởi tháng Dần là Giáp, tháng hai Ất Mão, Ất là Quan Lộc của Mậu nên đặt Thiên Quan ở đó.
- Kỷ: ở Tuất vì Kỷ khởi tháng Dần là Bính, tháng Dậu là Quý, tháng 9 Giáp Tuất, Giáp là Quan Lộc của Kỷ nên đặt Thiên Quan ở đó.
- Canh: ở Hợi vì Canh khởi tháng Dần là Mậu, tháng 2 là Kỷ Mão,... tháng 9 là Bính Tuất, tháng 10 Đinh Hợi, Đinh là Quan của Canh.
- Tân: ở Thân vì Tân khởi tháng Dần là Canh, tháng 2 là Tân, ... tháng 7 Bính Thân, Bính là Quan của Tân nên đặt Thiên Quan ở đó.
- Nhâm: ở Dậu vì Nhâm khởi tháng Dần là Nhâm đến tháng (8) là Kỷ Dậu, Kỷ là Quan của Nhâm nên đặt Thiên Quan ở đó.
- Quý: ở Ngọ vì Quý khởi tháng Dần là Giáp đến tháng (5) là Mậu Ngọ, Mậu là Quan của Quý nên an Thiên Quan ở đó".
P/s: Một vài sách khi an Thiên Quan Nhâm/Kỷ/Tân có sai lệch, thiết nghĩ không đúng
_______________________________________
Bàn về cách an sao Thiên Quan, Thiên Phúc theo "Thần sát Khởi Lệ" và "Tử Vi Nguyên Lý và Cốt Tuỷ"
THIÊN PHÚC: Đại phúc tinh, chủ phúc lộc.
- Giáp ái kim Kê (Dậu) Ất ái Hầu (Thân).
- Đinh Trư (Hợi) Bính Thử (Tí) Kỷ Hổ (Dần) đầu.
- Mậu tầm ngọc Thố (Mão) Canh Nhâm Mã (Ngọ).
- Tân Quý phùng Xà (Tỵ) phúc lộc đa.
Theo Thần Sát Khởi Lệ: "Nơi chính Quan của Chi là Thiên Phúc Quý Nhân". Cổ nhân đặt Thiên Phúc ở cung Thiên Can bị khắc vì ở trong cung ấy chủ có Lộc khắc ta.
Ví dụ: Giáp (Mộc dương) ở Dậu là Kim âm (Tân Lộc Tồn ở Dậu khắc là Phúc của Giáp),
Tương tự Ất (Mộc âm) Thiên phúc ở Thân kim dương (Canh Lộc ở Thân), Lộc Tồn ở Mão- Mộc âm
Bính (Hỏa) ở Tí (Quý),
Đinh (Hỏa) ở Hợi (Nhâm),
Mậu (Thổ) ở Mão (Ất)
Kỷ (Thổ) ở Dần (Giáp),
Canh (Kim) ở Ngọ (Đinh), Tân (Kim) ở Tỵ (Bính)
Nhâm (Thủy) Thiên Phúc ở Ngọ hỏa dương (Kỷ Lộc ở Ngọ), Lộc Tồn ở Hợi thủy âm
Quý (Thủy) ở Tỵ (Mậu lộc ở Tỵ)
THIÊN QUAN: Đại phúc tinh, chủ quý hiển.
- Giáp Dương (Mùi) Nhâm Khuyển (Tuất) Ất Long (Thìn) nghi.
- Bính Xà (Tỵ) Đinh Hổ (Dần) Kỷ Tân Kê (Dậu).
- Mậu Thố (Mão) Canh Trư (Hợi) Qúy Mã (Ngọ) thương.
Kỳ nhân quý hiển khả tiên tri.
Thần Sát Sát Khởi Lệ nói: "Tuỳ theo Can của Chính Quan Tinh gọi là Thiên Quan Quý Nhân. Quan Tinh: Thuật Tinh Mệnh lấy Can của năm gặp tháng, Can của ngày gặp giờ Ngũ Hành Chính Quan tương khắc là Quan Tinh)". Thật ra, Cổ Nhân đã dùng cách khắc ta là Quan Lộc để đặt Thiên Quan
=> nghĩa là tính Thiên Can của tháng Dần khởi đi đến tháng nào có Can khắc Can năm thì đặt ở đó, nên Thiên Quan phải an như sau:
Theo Tử vi nguyên thủy và cốt tủy viết như sau:
"Giáp: Thiên Quan ở Mùi vì Giáp khởi tháng Dần là Bính, tháng hai là Đinh, Mậu..., đến tháng (6) Tân Mùi, Tân là Quan của Giáp, nên đặt ở đó.
- Ất: Thiên Quan ở Thìn vì Ất khởi tháng Dần là Bính, Mão là Đinh, tháng (3) Canh Thìn, Canh là Quan Lộc của Ất, nên đặt ở đó.
- Bính: ở Tỵ vì khởi tháng Dần là Canh, ... tháng 3 là Nhâm Thìn, tháng (4) Quý Tỵ, Quý là Quan Lộc của Đinh, nên đặt Thiên Quan ở đó.
- Đinh: ở Dần vì khởi tháng Dần là Nhâm, Nhâm là Quan Lộc của Đinh nên đặt Thiên Quan ở đó.
- Mậu: ở Mão vì Mậu khởi tháng Dần là Giáp, tháng hai Ất Mão, Ất là Quan Lộc của Mậu nên đặt Thiên Quan ở đó.
- Kỷ: ở Tuất vì Kỷ khởi tháng Dần là Bính, tháng Dậu là Quý, tháng 9 Giáp Tuất, Giáp là Quan Lộc của Kỷ nên đặt Thiên Quan ở đó.
- Canh: ở Hợi vì Canh khởi tháng Dần là Mậu, tháng 2 là Kỷ Mão,... tháng 9 là Bính Tuất, tháng 10 Đinh Hợi, Đinh là Quan của Canh.
- Tân: ở Thân vì Tân khởi tháng Dần là Canh, tháng 2 là Tân, ... tháng 7 Bính Thân, Bính là Quan của Tân nên đặt Thiên Quan ở đó.
- Nhâm: ở Dậu vì Nhâm khởi tháng Dần là Nhâm đến tháng (8) là Kỷ Dậu, Kỷ là Quan của Nhâm nên đặt Thiên Quan ở đó.
- Quý: ở Ngọ vì Quý khởi tháng Dần là Giáp đến tháng (5) là Mậu Ngọ, Mậu là Quan của Quý nên an Thiên Quan ở đó".
P/s: Một vài sách khi an Thiên Quan Nhâm/Kỷ/Tân có sai lệch, thiết nghĩ không đúng
-
4pillar
- Tam đẳng

- Bài viết: 736
- Tham gia: 02:58, 30/12/17
TL: Tử Vi cách cục tối trọng âm dương
Theo mày tử vi giáp Tả Hữu hay Có tả hữu trong tam hợp tốt hơn?
-
silverlight267
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 1421
- Tham gia: 18:20, 15/07/18
TL: Tử Vi cách cục tối trọng âm dương
Vụ này em chưa nghiên cứu.
Nhưng theo em thì Tả Thổ Hữu Thủy. Giáp tốt hơn trong trường hợp hợp cách tương sinh bình hòa.
Tương tự tam hợp tốt hơn nếu Tả Hữu đóng đúng cách tương sinh bình hòa. Tùy đất để biết.
Nếu cả hai đều hợp cách, bỏ qua ảnh hưởng của Tuần Triệt và các sao khác. Thì giáp tốt hơn tam hợp. Vì tam hợp có ít nhất 1 cung lực ảnh hưởng sẽ yếu hơn vì ngược âm dương.
-
4pillar
- Tam đẳng

- Bài viết: 736
- Tham gia: 02:58, 30/12/17
TL: Tử Vi cách cục tối trọng âm dương
Ý nghĩa thực sự của Giáp Cách là gì mày biết không em?
-
silverlight267
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 1421
- Tham gia: 18:20, 15/07/18
TL: Tử Vi cách cục tối trọng âm dương
3 cung liên tục nhau thì âm dương tương thông (theo thần sát khởi lệ). Mà anh lập topic khác chúng ta thảo luận sau. Em còn để topic này viết bài ko đứt đoạn.
-
kimhoai
- Tứ đẳng

- Bài viết: 855
- Tham gia: 14:19, 22/12/18
TL: Tử Vi cách cục tối trọng âm dương
Tử vi không đơn thuần là âm dương với ngũ hành đâu nhé. Tử vi kết hợp nhiều học thuyết và luận điểm triết học, chân lý á đông, luận tử vi nếu cứ chăm chăm vào luận ngũ hành là sai bét đấysilverlight267 đã viết: 17:01, 06/04/19Vụ này em chưa nghiên cứu.
Nhưng theo em thì Tả Thổ Hữu Thủy. Giáp tốt hơn trong trường hợp hợp cách tương sinh bình hòa.
Tương tự tam hợp tốt hơn nếu Tả Hữu đóng đúng cách tương sinh bình hòa. Tùy đất để biết.
Nếu cả hai đều hợp cách, bỏ qua ảnh hưởng của Tuần Triệt và các sao khác. Thì giáp tốt hơn tam hợp. Vì tam hợp có ít nhất 1 cung lực ảnh hưởng sẽ yếu hơn vì ngược âm dương.
Học hành nên từ từ không nên tham lam quá. 1 điểm trong bài này đủ để luận cả ngày rồi
Theo anh nếu chú muốn học tử vi từ gốc thì bài đầu tiên là lá số tử vi thành lập như thế nào, các cung được xây an theo nguyên tắc nào
Sửa lần cuối bởi kimhoai vào lúc 17:54, 06/04/19 với 1 lần sửa.
-
silverlight267
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 1421
- Tham gia: 18:20, 15/07/18
TL: Tử Vi cách cục tối trọng âm dương
Em viết trên góc nhìn cá nhân qua việc an sao dựa theo gốc âm dương. Sau đó sẽ phát triển sau. Nhưng em thấy dòng chảy âm dương trong tử vi rất hay. Anh tìm đọc quyển Thần Sát khởi lệ thì anh sẽ rất đam mê. Em đã test thử việc nghiệm lý bản thân và vài người để xem dòng tiền và thấy chính xác.
Topic em sẽ phát triển từ cách an sao để truy nguồn nguyên nhân an sao.
Sửa lần cuối bởi silverlight267 vào lúc 18:06, 06/04/19 với 1 lần sửa.
-
kimhoai
- Tứ đẳng

- Bài viết: 855
- Tham gia: 14:19, 22/12/18
TL: Tử Vi cách cục tối trọng âm dương
Phải học từng bước 1silverlight267 đã viết: 17:54, 06/04/19Em nghiên cứu xong thần sát khởi lệ về âm dương trong tử vi rùi em sẽ kết hợp với phú và triết học sau.kimhoai đã viết: 17:48, 06/04/19Tử vi không đơn thuần là âm dương với ngũ hành đâu nhé. Tử vi kết hợp nhiều học thuyết và luận điểm triết học, chân lý á đông, luận tử vi nếu cứ chăm chăm vào luận ngũ hành là sai bét đấysilverlight267 đã viết: 17:01, 06/04/19
Vụ này em chưa nghiên cứu.
Nhưng theo em thì Tả Thổ Hữu Thủy. Giáp tốt hơn trong trường hợp hợp cách tương sinh bình hòa.
Tương tự tam hợp tốt hơn nếu Tả Hữu đóng đúng cách tương sinh bình hòa. Tùy đất để biết.
Nếu cả hai đều hợp cách, bỏ qua ảnh hưởng của Tuần Triệt và các sao khác. Thì giáp tốt hơn tam hợp. Vì tam hợp có ít nhất 1 cung lực ảnh hưởng sẽ yếu hơn vì ngược âm dương.
Học hành nên từ từ không nên tham lam quá. 1 điểm trong bài này đủ để luận cả ngày rồi![]()
P/s: Cái gì cũng phải học từ gốc đến ngọn chứ dốt như em mà học triết học sớm thì tẩu hỏa nhập ma. Cách an sao thì em học từ hồi lâu rùi. Lúc nhớ lúc quên. Giờ em đang học nguồn gốc nguyên nhân của việc an từng con sao để dễ nhớ hơn.![]()
![]()
![]()
1/Âm dương là gì ?
2/Ngũ hành là gì ?
3/ Âm dương trên lá số tử vi
4/Ngũ hành tiên thiên?
5/Ngũ hành hậu thiên?
6/ phối hà đồ và bát quái tiên thiên trên lá số tử vi ?
7/ phối lạc thư và bát quái hậu thiên trên lá số tử vi?
8/ Thiên can là gì?
9/ Địa chi là gì?
10/Tuần - Triệt là gì?
...
Còn nhiều lắm, chú tìm hiểu được những cái này thì nhiều vấn đề không cần phải học tự sẽ thông suốt. Sách viêt đa số man thư, dẫn người đọc tới những đống rác lớn, bản chất các tác giả cũng chả hiểu mấy về tử vi ở mức độ gốc gác, chỉ giỏi viết lan man nên đừng quá lệ thuộc
-
silverlight267
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 1421
- Tham gia: 18:20, 15/07/18
TL: Tử Vi cách cục tối trọng âm dương
Dịch lý và âm dương ngũ hành? Theo anh cái nào sinh ra trước? Hay nó sinh ra từ một nguồn gốc đó là thần sát?kimhoai đã viết: 18:05, 06/04/19Phải học từng bước 1silverlight267 đã viết: 17:54, 06/04/19Em nghiên cứu xong thần sát khởi lệ về âm dương trong tử vi rùi em sẽ kết hợp với phú và triết học sau.kimhoai đã viết: 17:48, 06/04/19
Tử vi không đơn thuần là âm dương với ngũ hành đâu nhé. Tử vi kết hợp nhiều học thuyết và luận điểm triết học, chân lý á đông, luận tử vi nếu cứ chăm chăm vào luận ngũ hành là sai bét đấy
Học hành nên từ từ không nên tham lam quá. 1 điểm trong bài này đủ để luận cả ngày rồi![]()
P/s: Cái gì cũng phải học từ gốc đến ngọn chứ dốt như em mà học triết học sớm thì tẩu hỏa nhập ma. Cách an sao thì em học từ hồi lâu rùi. Lúc nhớ lúc quên. Giờ em đang học nguồn gốc nguyên nhân của việc an từng con sao để dễ nhớ hơn.![]()
![]()
![]()
1/Âm dương là gì ?
2/Ngũ hành là gì ?
3/ Âm dương trên lá số tử vi
4/Ngũ hành tiên thiên?
5/Ngũ hành hậu thiên?
6/ phối hà đồ trên lá số tử vi ?
7/ phối lạc thư trên lá số tử vi?
8/ Thiên can là gì?
9/ Địa chi là gì?
10/Tuần - Triệt là gì?
...
Còn nhiều lắm, chú tìm hiểu được những cái này thì nhiều vấn đề không cần phải học tự sẽ thông suốt. Sách viêt đa số man thư, dẫn người đọc tới những đống rác lớn, đừng quá lệ thuộc![]()
Em biết em cần học gì và nên học gì. Và em muốn đi theo hướng không phải là huyền học nên em sẽ kiến giải mọi thứ trên gốc âm dương ngũ hành.
Anh học toán thì cũng biết. Mọi phép toán lũy thừa đạo hàm vvvv sau này đều xuất phát từ gốc cộng trừ nhân chia.
Em học lập trình em biết mọi hàm sau này đều xuất phát từ hàm if...else.. for
Vậy nên em học tử vi xuất phát từ âm dương ngũ hành.
Như nào là man thư? Như nào là không phải man thư? Theo em chẳng có sách nào là man hay ko man cả. Chỉ là nó phù hợp trong hoàn cảnh nào thôi.
Anh có quyền trọng cái này hơn hay cái kia hơn. Nhưng em trọng âm dương ngũ hành hơn. Em thuộc dạng học cả tứ trụ và tử vi song song. Nên có lẽ suy nghĩ của em khác quan điểm của anh một chút.
Đang trực tuyến
Đang xem chuyên mục này: Apple [Bot], Bing [Bot], Byte [Spider], Bạch Vân Cư Sĩ, ChatGPT User, Claude [Bot], Coc Coc [Bot], Criteo [Bot], Đẹp đẹp đẹp, Google [Bot], Google Adsense [Bot], hacvt9a, Hungnguyen30, IAS [Bot], IAS Crawler, leachnz, Long Đức, Majestic-12 [Bot], Peer39 [crawler], PHDI, Quý Mão 12345, siunhan92dn, Thefallenone, TikTok [Spider], Tonyhieu, Yandex [Bot] và 346 khách.