“Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Trao đổi kiến thức về tứ trụ (tử bình, bát tự)
Nội qui chuyên mục
Đây là chuyên mục trao đổi kiến thức về tứ trụ (bát tự, tử bình) dành cho thành viên chính thức. Các bài viết trao đổi cần có nội dung kiến thức hoặc cung cấp thông tin nghiệm lý. Muốn nhờ xem, luận giải lá số vui lòng đăng tại mục Xem tứ trụ.
Các bài viết và thành viên vi phạm sẽ bị xử lý.
Chia sẻ
VULONG
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1107
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Gửi bài gửi bởi VULONG »

(Bổ xung)
Suy nghĩ lại tôi thấy với 4,76đh thì nó ở mức Phá Sản quá nặng trong khi ở đây tôi không biết thực tế nó nặng tới cỡ nào? Do vậy để khách quan cho phù hợp với thực tế, tôi nên đưa ra kết quả Phá Sản ở mức độ khá nặng thì hợp lý hơn.
Cho nên ta cần tăng thêm điểm giảm G khi lệnh tháng bị xung khắc từ 1/4 lên thành 1/3. Nếu áp dụng tỷ lệ này thì điểm giảm G sẽ từ 1G.1/4 = 0,25G thành 1G.1/3 = 0,33G (với xung khắc gần) và thêm 0,33.1/2G = 0,17G (với xung khắc cách 1 ngôi). Tổng cộng có (5,88 – 0,38 + 0,5)G = 6G.
Với số điểm giảm 6G này thì tổng điểm hạn còn lại là :
10,28.(12 – 6,5).1/12đh = 10,28.5,5/12đh = 4,71đh. Số điểm hạn này có lẽ hợp lý và dễ chấp nhận hơn chăng ?

VULONG
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1107
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Gửi bài gửi bởi VULONG »

Tôi xin luận và đăng lại toàn bộ ví dụ số 15 như sau :

Ví dụ số 15 :
Hình ảnh
Qua sơ đồ ta thấy Thân nhược mà Kiêu Ấn có 4 can chi và lớn hơn Thân trên 20đv nhưng không thể Tòng (Kiêu Ấn) vì Thân chỉ bằng 3,83/32 = 12% điểm vượng của Kiêu Ấn (tức nhỏ hơn 20%, sẽ nói sau). Do vậy Dụng thần phải là Tỷ Kiếp chính là Canh tàng trong Tị trụ tháng có 7đv, các hành còn lại đều là kỵ thần. Rõ ràng đây là một tứ trụ có Mệnh quá xấu.
Kiêu Ấn chưa lớn hơn Thân 30đv nên điểm hạn kỵ vượng không được tăng 1/3.
Kiêu Ấn có thêm 1đv vì có 4 can chi cùng hành (từ 4 can chi cùng hành trở lên mỗi can chi có 0,25đv, sẽ nói sau).
Ta xét hạn xẩy ra ở tiểu vận đầu là Kỷ Mùi vì nó thêm điểm hạn kỵ vượng ở cả can chi trong khi tiểu vận 2 là Mậu Ngọ chỉ có ở can.
1 - Dụng thần Canh vượng ở lưu niên Tị có -1đh nhưng nhập Mộ tại đại vận Sửu có 1đh.
2 - Nhật can Tân tử tuyệt tại lưu niên Tị có 1đh.
3 - Mùi tiểu vận có 1 hung thần có 0,13đh.
4 - Đại vận Ất Sửu có can Ất vượng ở lưu niên TKĐX với tiểu vận Kỷ Mùi có 0,13đh (vì TKĐX với tiểu vận bị giảm 75%đh) được thêm 0,05đh (vì chỉ có 2 trụ TKĐX với nhau).
5 - Ất đại vận khắc 5 can Kỷ nên mỗi lực khắc có 0đh (vì khắc từ 5 can trở lên không có điểm hạn) nhưng mỗi Kỷ bị khắc vẫn được xem là động nên mỗi Kỷ có 0,5đh kỵ vượng, riêng Kỷ tiểu vận bị giảm 50% còn 0,25đh kỵ vượng. Ất đại vận vượng ở lưu niên có 0,5đh can động.
Kỷ trong tứ trụ được lệnh và vượng ở lưu niên nên có 0đh can động, riêng Kỷ lưu niên vượng ở lưu niên có 0,5đh can động.
6 - Sửu đại vận xung Mùi tiểu vận có 0,15.1/2đh = 0,07đh (vì xung tiểu vận giảm 50%đh). Sửu xung Mùi gần (đều là kỵ vượng) nên Sửu đại vận có 0,5đh kỵ vượng nhưng Mùi tiểu vận có 0,25đh kỵ vượng và 0,13đh của Hung thần đều bị xung mất 5% còn 0,23đh0,12đh.
Hợi trụ ngày và trụ giờ trong tứ trụ khắc Tị lưu niên (Thái Tuế) mỗi lực có 1,3đh (1đh do khắc Thái Tuế còn 0,3đh do xung Thái Tuế). Hợi trụ ngày xung (ở đây xung hay khắc Lệnh tháng coi như bằng nhau) Tị có 0,3đh và được thêm 0,25đh (vì xung vào lệnh tháng), còn Hợi trụ giờ xung Tị trụ tháng có 0,15đh và được thêm 0,13đh do xung lệnh tháng (vì cách 1 ngôi).
7 - Sửu đại vận hình Mùi tiểu vận có 0,5đh (vì các lực tác động vào can chi tiểu vận bị giảm 50%).
8 - Sét trụ năm có Kỷ vượng ở lưu niên khắc Kim trang sức trụ ngày có 1đh.

Tổng số có 10,28đh. Số điểm này quá cao nên ta dễ dàng nhìn thấy 2 Hợi trong tứ trụ khắc Thái tuế chắc chắn gây ra điểm giảm G. Ta đã biết mỗi lực chi xung chi chỉ gây ra 1G thì chi khắc chi phải gây ra 2G là có thể chấp nhận được. Nếu thừa nhận điều này thì mỗi Hợi trong tứ trụ khắc Tị lưu niên có 2G. Khi đó Hợi trụ ngày mới khắc gần được Tị lệnh tháng có 0,3đh tương ứng có 1G (vì khắc gần trong tứ trụ điểm giảm G bị giảm 50%) và được thêm 0,25đh (vì khắc vào lệnh tháng), tương ứng được thêm 1G.1/3 = 0,33G (hay 1/4 ?), còn Hợi trụ giờ khắc Tị lệnh tháng cách 1 ngôi nên lực khắc bị giảm 50% còn 0,15đh, tương ứng có 0,5G và thêm 0,13đh, tương ứng có thêm 0,17G. Tổng cộng có 6G.
Hình ảnh
Qua bảng trên ta thấy với 6G thì tổng điểm hạn được giảm chính xác ở mức 6,5/12. Do vậy tổng điểm hạn còn lại là 10,28.5,5/12 = 4,71đh. Số điểm này có thể chấp nhận được vì nó hoàn toàn ứng hợp với thực tế là phá sản khá nặng.

Vì tai họa xẩy ra ở tiểu vận đầu là Kỷ Mùi nên nó phải xẩy ra trước ngày sinh nhật 21/5. Ta thấy tháng Bính Dần có ngày 4/2 là Ất Mùi; tháng Đinh Mão có ngày 24/3 là Quý Mùi; tháng Mậu Thìn có ngày 5/4 là Ất Mùi. Do vậy tiểu vận Kỷ Mùi chỉ có 3 ngày 4/2, 24/3 và 5/4 là TKĐX xung với trụ năm Kỷ Sửu. Đến giờ tôi vẫn chưa xác dịnh được ngày nào trong chúng là Cửa Ải chính gây ra tai họa này ?

Ta thấy ví dụ số 14 và 15 này đều có điểm hạn kỵ vượng tham gia chính gây ra tai họa về Tài, trong đó ví dụ số 14 tới 44%đh trong tổng số là 4,57đh, còn ví dụ số 15 này cũng chiếm tới 26%đh trong tổng số 10,28đh. Chả nhẽ điểm kỵ vượng lại có thể quyết định tai họa về Tài là phá tài hay phá sản hay sao ?

VULONG
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1107
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Gửi bài gửi bởi VULONG »

VULONG đã viết: 17:54, 19/02/26 Tôi xin luận và đăng lại toàn bộ ví dụ số 15 như sau :

Ví dụ số 15 :
Hình ảnh

Bảng trên tôi đã sai nên thay bằng bảng sau :
Hình ảnh
Thành thật xin lỗi mọi người.

VULONG
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1107
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Gửi bài gửi bởi VULONG »

Ví dụ số 17 :
Hình ảnh
Qua sơ đồ ta thấy trong tứ trụ có bán hợp của Hợi trụ ngày với Mão trụ tháng hóa Mộc (vì có Ất trụ năm làm thần dẫn) và có Thân nhược mà Thực Thương (Mộc) là kỵ vượng (vì lớn hơn hỷ dụng 1 là Thủy trên 10đv). Vì Mộc (Thực Thương) chỉ có 3 can chi nên không thể tòng Mộc được. Do vậy dụng thần đầu tiên phải là Kiêu Ấn, Dụng thần chính là Canh tàng trong Tị trụ năm có 4,2đv, hỷ thần là Tỷ Kiếp (Thủy) còn kỵ thần là Thực Thương (Mộc), Tài tinh (Hỏa) và Quan Sát (Thổ).
Năm Tân Tị (2001) thuộc đại vận Ất Hợi có 2 tiểu vận là Kỷ Mão và Mậu Dần nhưng ngày 4/12 xẩy ra tai họa nó thuộc tiểu vận thứ 2 là Mậu Dần.
Ta thấy có ngũ hợp của Bính trụ giờ với Tân lưu niên không hóa (vì không có thần dẫn).
Lục hợp của Hợi đại vận với Dần tiểu vận hóa Mộc (vì có Ất trụ tháng làm thần dẫn) cùng bán hợp Mộc trong tứ trụ đều bị phá tan cả cục và hợp bởi lực xung của Tị lưu niên (có 8,07đv) với 2 Hợi lớn hơn lực hợp của Mão trụ tháng với Hợi trụ ngày (chỉ có 6,5đv) cũng như lớn hơn lực hợp của Dần tiểu vận với Hợi đại vận (chỉ có 6,17đv). Mộc cục trong tứ trụ chỉ có 2 chi bị phá nhưng không phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm (vì không có 2 chi bị phá khác hành).

1 - Dụng thần Canh vượng ở lưu niên Tị có -1đh.
2 - Nhật can Quý nhược ở lưu niên Tị có 0đh.
3 - Ất đại vận có 1 cát thần có -0,25đh và Dần tiểu vận có 3 hung thần có 3.0,13đh.
4 - Lưu niên Tân Tị TKĐX với đại vận Ất Hợi có 0,38đh (vì Tân chỉ vượng ở đại vận) và thêm 0,05đh (vì chỉ có 2 trụ TKĐX với nhau).
5 - Mộc cục trong tứ trụ chỉ có 2 chi bị phá có -0,5đh (đúng bằng điểm hạn của hành đó nhưng đổi dấu), chi Hợi tự do có -0,25đh còn chi Mão có 0,25đh (bằng 50%đh hạn của hành đó). Mộc cục ở tuế vận bị phá không có các điểm hạn này (vì nó xuất hiện sau khi sinh).
6 - Hợi trụ ngày là Kình dương (vì Nhật can ở trạng thái Đế vượng tại Hợi) nên khi Kình dương (Hợi) xuất hiện trên tuế vận thì mỗi Kình dương có 1đh (riêng ở tiểu vận có 0,5đh). Do vậy Hợi đại vận là Kình dương có 1đh.
7 - Bính trụ giờ được lệnh và vượng ở lưu niên hợp và khắc Tân lưu niên có 0,5đh và có 0đh can động. Tân lưu niên chỉ vượng ở đại vận có -0,5đh can động nhưng bị khắc mất 50% bởi Bính còn -0,25đh.
Ất đại vận vượng ở lưu niên lại là kỵ vượng khắc Kỷ trụ tháng và Mậu tiểu vận nên mỗi lực có 0,7đh, riêng lực khắc với Mậu tiểu vận chỉ có 0,18đh (vì khắc trái dấu giảm 50% và khắc vào tiểu vận giảm thêm 50%). Ất đại vận có 0,5đh can động và 0,5đh kỵ vượng.
Khi đó Ất trụ năm cũng là kỵ vượng được lệnh và vượng ở lưu niên mới khắc được Kỷ trụ tháng có 1đh (vì khắc gần), có 0,5đh kỵ vượng và 0đh can động. Kỷ trụ tháng thất lệnh nhưng vượng ở lưu niên Tị có 0,5đh can động nhưng bị 2 Ất khắc mất hết.
Hợi trụ ngày và Hợi đại vận khắc thái tuế Tị mỗi lực có 1,3đh. Khi đó Hợi trụ ngày mới xung khắc được Tị trụ năm có 0,3.50%đh = 0,15đh (vì cách 1 ngôi), còn Hợi đại vận xung khắc Tị trụ năm có 0,3đh (vì xung khắc gần).
8 - Hợi đại vận tự hình Hợi trụ ngày có 1đh. Dần tiểu vận hình và hại Tị lưu niên mỗi lực có 1đh.
9 - Nước biển trụ ngày có Quý được lệnh nhưng chỉ vượng ở đại vận khắc Đất trên thành của trụ tháng có 1đh nhưng khắc Lửa đỉnh núi đại vận chỉ có 0,5đh (vì Quý chỉ vượng ở đại vận).
Tổng cộng có 11,25đh. Vì chỉ bị tai nạn nặng nhưng không đe dọa tới tính mạng nên rõ ràng ở đây phải có nhiều điểm giảm G là cái chắc.

Để dễ hiểu ta đưa ra quy tắc :
1 - Nếu mỗi lực khắc của chi trong tứ trụ hay chi đại vận với thái tuế có 2G thì khi đó mỗi lực khắc của nó với chi trong tứ trụ mới có 1G (khi khắc gần), còn mỗi lực hình hay hại hoặc tự hình của nó với các chi trong tứ trụ mới có 0,5G, chi tiểu vận cũng tương tự khi đó khắc thái tuế có 2G, xung thái tuế có 1G còn hình, hại thái tuế có 0,5G.
2 - Nếu mỗi lực xung của chi trong tứ trụ hay chi đại vận với thái tuế có 1G thì khi đó mỗi lực xung của nó với các chi trong tứ trụ mới có 0,5G (khi xung gần), còn mỗi lực hình hay hại của nó với các chi trong tứ trụ mới có 0,25G.
3 - Nếu chi đại vận xung các chi trong tứ trụ có 1G thì khi đó mỗi lực hình hay hại của nó với các chi trong tứ trụ mới có 0,5G, còn các chi trong tứ trụ giống chi đại vận xung hay hình, hại các chi trong tứ trụ điểm G tương ứng sẽ giảm đi 50%.
(Lý thuyết cơ bản về điểm G sẽ nói sau.)

Nếu chỉ có chi Hợi trụ ngày trong tứ trụ khắc thái tuế Tị thì không thể gây ra được điểm G nhưng may mắn ta thấy có thêm Hợi đại vận cũng khắc thái tuế Tị. Do vậy ta coi 2 Hợi này giống như cùng ở trong tứ trụ khắc thái tuế Tị nên mỗi lực khắc có 2G là hợp lý. Khi đó Hợi trụ ngày mới khắc được Tị trụ năm có 1G.50% = 0,5G (vì cách 1 ngôi). Tương tự ta có Hợi đại vận khắc Tị trụ tháng có 1G (vì khắc gần). Hợi đại vận tự hình Hợi trụ ngày có 0,5G còn Dần tiểu vận hình và hại thái tuế Tị mỗi lực có 0,5G.

Tổng cộng có 7G, với số điểm G này thì tổng điểm hạn được giảm 7/12 còn lại 11,25.5/12đh = 4,69đh. Với số điểm này có thể chấp nhận được vì nó tương ứng với thực tế tai họa giao thông khá nặng.

Ở ví dụ này ta thấy điểm kỵ vượng chỉ chiếm 1/11,25 = 9%, điểm hình, hại và tự hình chiếm 3/11,25 = 26,67%, còn điểm xung khắc bởi tứ hành xung của Hợi với Tị chiếm 3,05/11,25 = 27,11% . Tai họa này gây ra bởi lực về hình, hại và xung khắc nên không thể về phá tài hay phá sản được mà về giao thông do đi lại bất cẩn bởi chính mình tự hại mình và người ngoài gây ra (vì có các đh về tự hình và hình, hại) dẫn đến va chạm bởi xe cộ với nhau (có 2 Hợi xung khắc Tị) là hoàn toàn hợp lý.

Nhưng tiểu vận Mậu Dần từ 10/3 đến ngày 4/12 là ngày xẩy ra tai họa có nhiều ngày TKĐX với trụ năn Ất Tị mà lại xẩy ra vào tháng Kỷ Hợi của năm Tân Tị là Sao ?
Phải chăng vì có Hợi trụ ngày và Hợi đại vận xung khắc với thái tuế Tị ?

Mà tháng Hợi (của lưu niên) lại là tháng Kỷ Hợi TKĐX với trụ năm Ất Tị, đây có phải là yếu tố then chốt để tác động gây ra tai họa hay không ? Nhưng tháng Hợi có ngày Kỷ Hợi (2/12) TKĐX với năm Ất Tị nhưng tai họa lại không xẩy ra mà lại xẩy ra sau 2 ngày là ngày Tân Sửu (4/12), vậy thì tại sao ?
Hy vọng mọi người trả lời giúp tôi những câu hỏi này.

VULONG
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1107
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Gửi bài gửi bởi VULONG »

Ví dụ trên là Ví dụ số 16 nhưng tôi đã viết nhầm là Ví dụ số 17.
Thành thật xin lỗi mọi người.

VULONG
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1107
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Gửi bài gửi bởi VULONG »

Hình ảnh
Ngoài ra can chi ngũ hành còn đại diện cho các mùa, ngũ hành, phương hướng, mầu sắc, nghề nghiệp... sẽ nói sau.

Ví dụ số 17 :
Hình ảnh
Qua sơ đồ trên ta thấy tứ trụ này có Thân vượng mà Kiêu Ấn ít và Thực Thương không nhiều nên dụng thần đầu tiên phải là Quan Sát chính là Quý tàng trong Tý trụ tháng, hỷ thần là Thực Thương và Tài tinh, kỵ thần là Kiêu Ấn và Tỷ Kiếp.
Tai họa xẩy ra vào ngày 8/8/2005, nó thuộc đại vận Quý Mùi và ở tiểu vận Tân Dậu (vì chưa qua ngày sinh nhật 12/12).
Vì can luôn luôn động trước so với địa chi nên ngũ hợp của Canh trụ giờ với Ất lưu niên hóa Kim (vì có Dậu thái tuế làm thần dẫn) có trước. Sau đó mới tới bán hợp của Tị trụ ngày với Dậu thái tuế hóa Kim (vì có Kim cục làm thần dẫn chứ không phải Canh).

Do có can trong tứ trụ hợp với tuế vận hóa cục nên điểm vượng trong vùng tâm phải được tính lại. Kim có 2đv được thêm 3,53đv của Ất lưu niên hóa Kim và 6,4đv của Tị trụ ngày hóa Kim thành 11,93đv, Hỏa có 11,02đv bị mất 6,4đv của Tị trụ ngày còn 4,62đv. Lúc này Thân đã trở thành nhược mà Tài tinh (Kim) là kỵ thần 1 nên dụng thần đầu tiên phải là Tỷ Kiếp (Hỏa), khi đó Dụng thần chính sẽ là Bính trụ tháng có 4,2đv, hỷ thần là Kiêu Ấn (Thổ), kỵ thần là Thực Thương, Tài tinh và Quan Sát.

Vì Kim là kỵ thần 1 động nên ta phải tính thêm điểm vượng của các can chi động ở tuế vận (điểm vượng này không có khả năng làm thay đổi điểm hạn của ngũ hành mà nó chỉ có khả năng xác định điểm kỵ vượng). Kim có 11,93đv được thêm 7,67đv của Dậu thái tuế thành 19,6đv, Thủy có 4,5đv được thêm 4,22đv của Quý đại vận thành 8,72đv. Ta thấy Kim thành hành kỵ vượng có 0,5đh (vì nó lớn hơn hỷ dụng 1 là Hỏa trên 10đv).

1 - Dụng thần Bính tử tuyệt tại lưu niên Dậu có 1đh.
2 - Nhật can Đinh vượng ở lưu niên Dậu có -1đh.
3 - Quý đại vận có 1 cát thần có -0,25đh, và Dậu tiểu vận có 2 cát thần có -2.0,13đh.
4 - Ngũ hợp của Ất với Canh hóa Kim (có thần dẫn là Dậu thái tuế) có 0,5đh, nên mỗi can chi Ất và Canh có 0,5đh kỵ vượng. Bán hợp của Tị với Dậu hóa Kim có 0,5đh, Dậu thái tuế hóa Kim có 0,5đh kỵ vượng nhưng Tị trụ ngày là kỵ vượng không có điểm kỵ vượng (vì các chi trong tứ trụ không có điểm hạn kỵ vượng).
5 - Trụ ngày Đinh Tị là Tứ Phế có 1đh (vì trụ ngày có can chi là Hỏa nhưng sinh vào tháng Tý -Thủy). Điều này cho biết đương số tiềm ẩn có những bệnh tật hiểm nghèo (nan y).
6 - Đinh trụ ngày thất lệnh nhưng vượng ở lưu niên là động mặc dù không khắc được 2 Kim cục có 4 can chi là kỵ vượng (sẽ nói sau), có -1đh can động.
Quý đại vận nhược ở tuế vận khắc Bính và Đinh trong tứ trụ đều có 0đh, có 0đh can động.
7 - Mùi đại vận hình 2 Tuất và hại Tý trong tứ trụ mỗi lực có 1đh.
8 - Lửa đỉnh núi trụ năm có Giáp được lệnh nhưng nhược ở tuế vận nên khắc 3 nạp âm là nước khe trụ tháng, Kim trang sức trụ giờ và gỗ Liễu đại vận có tổng cộng 1đh.
Gỗ Lựu tiểu vận có Tân vượng ở tiểu vận khắc gỗ Liễu đại vận có 1đh.

Với các ví dụ tử vong hay tai họa nặng nhưng thoát chết thì mặc dù đầu tiên ta đều phải kiểm tra lại điểm hạn của các quy tắc đã được sử dụng xem có phải chỉnh sửa hay không, nhưng với bước thứ hai thì ngược với các ví dụ tai họa nặng thoát chết là tìm thêm các quy tắc có thể gây ra điểm hạn sao cho tổng điểm hạn ứng hợp với thực tế đã xẩy ra thì ta phải tìm thêm các quy tắc có thể gây ra các điểm gảm G sao cho tổng diểm hạn là nhỏ nhất mà vẫn có thể gây ra tử vong.

Ở ví dụ này tổng cộng có tới 6,5đh là thừa sức gây ra tử vong. Do vậy đầu tiên ta phải kiểm tra xem các điểm hạn được sử dụng ở đây có phải chỉnh sửa gì hay không ? Sau khi kiểm tra không thấy phải chỉnh sửa thì bước thứ hai ta phải tìm ra các quy tắc có thể gây ra điểm giảm G sao cho tổng điểm hạn này được giảm đi nhưng vẫn có thể gây ra tử vong.

Ta thấy Mùi đại vận hình, hại với 3 chi trong tứ trụ có thể gây ra điểm G.
Nếu đúng vậy thì ta cho :
1 - Mỗi lực có 0,5G thì tổng số có 1,5G thì khi đó tổng điểm hạn được giảm ở mức 1/6 còn lại là 6,5.5/6đh = 5,42đh. Số điểm hạn này chấp nhận được (vì nó thừa sức gây ra tử vong).
2 - Mỗi lực có 0,75G thì tổng số có 2,25G thì khi đó tổng điểm hạn được giảm ở mức 1/5 còn lại là 6,5.4/5đh = 5,2đh. Số điểm hạn này chấp nhận được (vì nó thừa sức gây ra tử vong).
3 - Mỗi lực có 0,917G thì tổng số có 2,751G thì khi đó tổng điểm hạn được giảm ở trên mức 1/4 một tý còn lại là 6,5.3/4đh = 4,875đh. Số điểm hạn này không thể chấp nhận được (vì nó không đủ sức gây ra tử vong).

Từ đây ta thấy mỗi lực có 0,75G là chính xác và hợp lý nhất.

Mặc dù mỗi lực có thể tới max 0,83G. Vì 3.0,83G = 2,49G nó rất gần tới mức giảm 2,5G là mức giảm trung bình giữa 2 mức 2,25G và 2,75G tương ứng được giảm giữa 2 mức là 1/5 và 1/4 còn lại là 6,5.(4/5 + 3/4).1/2đh = 5,04đh. Số điểm hạn này có thể coi là nhỏ nhất có thể chấp nhận được (vì nó đủ sức gây ra tử vong).

Từ đây ta đưa ra quy tắc mới :
Chi đại vận có 3 lực hình, hại với các chi trong tứ trụ thì mỗi lực có 0,75G.


Từ ví dụ số 14 ta thấy điểm hạn kỵ vượng có liên quan tới phá tài hay phá sản (tức liên quan tới Tài tinh - tiền, của cải). Còn ở ví dụ số 16 ta thấy điểm hạn hình, hại, tự hình cộng với điểm hạn của xung khắc (tứ hành xung) có liên quan tới tai họa máu me về thân thể nên có thể coi nó chủ về tai nạn giao thông.

Ở ví dụ này tai họa lại do bệnh tật về ung thư phổi gây ra. Vậy thì sai sao ?
Theo sơ đồ trên ta thấy đầu tiên có ngũ hợp của Canh với Ất hóa Kim vì có Dậu lưu niên làm thần dẫn (vì can động trước chi) thì rõ ràng Canh đã hóa theo âm Kim là Dậu (vì Dậu là thần dẫn). Do vậy ta có thể hiểu là Kim cục ở đây này là âm Kim của Tân, Dậu chứ không phải dương Kim của Canh, Thân. Sau đó bán hợp Tị với Dậu mới hóa Kim có thần dẫn là âm Kim cục chứ không phải của Canh trụ giờ. 2 Âm Kim cục có 1đh thêm 3 điểm hạn kỵ vượng của âm Kim cục là 3.0,5đh kỵ vượng thành 2,5đh. Nó chiếm 2,5/6,5 = 39% tổng điểm hạn. Theo bảng can chi ngũ hành đại diện cho Lục Phủ Ngũ Tạng trên ta thấy Dậu đại diện cho Phổi nên bị bệnh ung thư về Phổi do chính điểm hạn của âm Kim cục (của Dậu) này gây ra là hoàn toàn chính xác.

Nếu Ất lưu niên thành can khác thì Canh không hóa được Kim cục thì bán hợp của Tị với Dậu hóa Kim do Canh làm thần dẫn, khi đó nó thành dương Kim cục của Canh. Và nếu tổng điểm hạn của dương Kim cục quá lớn thì bệnh ung thư không xuất hiện ở Phổi mà phải xuất hiện ở Ruột già – đại diện của dương Kim cục (hiểu đơn giản là như vậy).

Ngay đầu năm (tháng Dần và Mão) đã có 2 âm Kim cục này nên chắc chắn bệnh ung thư đã xuất hiện tại Phổi. Dĩ nhiên thường nó cần tới 5 hay 6 tháng để Ủ Bệnh sau đó mới phát tán di căn gây ra tử vong. Điều này cũng phù hợp với tháng Dần và Mão hành Mộc trong tứ trụ là hỷ thần rất vượng còn Kim thì ngược lại ở tử tuyệt nên rất yếu. Do vậy bệnh ung thư Phổi mặc dù đã xuẩt hiện nhưng chỉ có thể ở trạng tái tĩnh (tức Ủ Bệnh). Chỉ đến ngày 7/8 là bắt đầu tháng Giáp Thân thì âm Kim cục mới ở trạng thái Đế Vượng (là vượng nhất) nên ngay hôm sau ngày 8/8 là ngày Giáp Tý bệnh Ung Thư đã phát tán di căn gây ra tử vong, nó không cần đợi đến ngày 12/8 là ngày Mậu Thìn TKĐX với trụ năm Giáp Tuất.

Từ ví dụ này cho ta thấy khi một hành đột nhiên quá vượng nhưng không thể Tòng (hay quá nhược) thì thường tiềm ẩn tai họa lớn do bệnh tật tương ứng với Lục Tạng Ngũ Phủ mà nó đại diện.

VULONG
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1107
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Gửi bài gửi bởi VULONG »

Quy ước : Tháng 1 của năm dương lịch là tháng 13 của năm trước theo lịch can chi

Ví dụ số 18 : Georg Alzer sinh ngày 4/1/1903 lúc 2,00’ am (?). Anh ta bị mật vụ Đức bắt vào đêm 8/11/1939 tại biên giới Áo sau khi một mình ám sát Adolf Hitler bất thành tại quán bia Burger Broikeler ở Munich, do Adolf Hitler rời đi trước đó 13 phút. (theo Wikipedia).
Sơ đồ diễn tả tai họa của Alzer bị bắt vào đêm 8/11/1939
Hình ảnh
Ngày 8/11/1939 lúc 16,48' mới bắt đầu tháng Ất Hợi nên đêm 8/11 (tức qua 16,48') Georg Alzer đã bị bắt là hoàn toàn chính xác. Nhưng tại sao lại phải vào tháng Hợi, mà ngay ngày trước đó 7/11 còn thuộc tháng Giáp Tuất, nó là ngày Mậu Thân TKĐX với năm Nhâm Dần ? Điều này cho biết tháng (của lưu niên) trong một số trường hợp mới là yếu tố tác động mạnh nhất cho tai họa xẩy ra, sau đó mới đến ngày (của lưu niên) TKĐX với trụ năm trong tứ trụ.

Ta thử tìm xem ở đây tại sao tháng Hợi lại đáng sợ đến như vậy ?

Qua sơ đồ trên ta thấy Thủy trong tứ trụ quá vượng là hành kỵ vượng có tới 5 can chi và lớn hơn hỷ dụng 1 trên 30đv nhưng không thể Tòng (Thủy). Bởi vì có Sửu là Quan Sát của hành Thủy, mặc dù không khắc được bán cục Thủy trong tứ trụ nhưng vẫn khắc được 3 Nhâm.
Vì Kiêu Ấn ít (chỉ có 1 can chi là Tân) mà Thân (Thủy) có tới 35,48đv lớn hơn Quan Sát trên 30đv nên Quan Sát coi như quá yếu (mặc dù nó vẫn cản được cách Tòng -Thủy), do vậy dụng thần đầu tiên phải là Thực Thương (Mộc), nó chính là Giáp tàng trong Dần trụ năm, hỷ thần là Tài tinh và Quan Sát còn kỵ thần là Kiêu Ấn và Tỷ Kiếp.

Vào ngày 8/8 năm Kỷ Mão (1939) thuộc đại vận Bính Thìn và tiểu vận Mậu Dần (vì chưa qua ngày sinh nhật).
Trong tứ trụ có bán hợp của Tý trụ tháng với Thìn trụ giờ hóa Thủy (vì có Nhâm là thần dẫn) thêm ngũ hợp của Bính đại vận với Tân trụ giờ hóa Thủy (vì có Tý lệnh tháng làm thần dẫn) nên 2 hóa cục này đều là dương Thủy cục, lại còn thêm 3 Nhâm trong tứ trụ cũng là dương Thủy. Do vậy trong tứ trụ toàn là dương Thủy nên vừa vào tháng Hợi của năm Kỷ Mão (1939) thì dương Thủy trong tứ trụ ở trạng thái Lâm quan chưa phải Đế vượng (là mạnh nhất) nhưng nó quá đủ để tác động gây ra tai họa này (không cần đợi tới tháng Tý). Tháng Hợi nó đáng sợ như vậy đấy.
Có tam hội của Dần trụ năm và Dần tiểu vận hợp với Thìn đại vận và Mão lưu niên không hóa (vì không có thần dẫn).

Vì có Tân trong tứ trụ hợp với tuế vận hóa cục nên ta phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm. Thủy có 35,48đv được thêm 7,05đv của Tân trụ tháng và 7,33đv của Bính đại vận thành 49,86đv, Kim có 7,05đv bị hóa thành Thủy nên còn 0đv, các hành khác không thay đồi. Vì khi vào tuế vận thì Sửu trụ giờ không còn khắc được 3 Nhâm nhưng vẫn khắc được Thủy cục tại Tân cùng trụ với nó nên vẫn không thể Tòng (Thủy) được (Chú ý : nếu chưa vào tuế vận thì Sửu khắc được 3 Nhâm nhưng không khắc được Thủy cục trong tứ trụ). Do vậy Dụng thần chính vẫn là Giáp tàng trong Dần trụ năm, các hỷ, kỵ thần khác không thay đổi. Thân (Thủy) lớn hơn hỷ dụng 1 là Mộc trên 40đv.
Vì Thủy là kỵ thần 1 động nên ta phải tính thêm điểm vượng ở tuế vận. Mộc có 3,33đv được thêm 8,67đv của Mão lưu nên và 8,5đv của Dần tiểu vận thành 20,5đv, Thổ có 1,89đv được thêm 7,33đv của Thìn đại vận thành 9,22đv. Lúc này Thân (Thủy) chỉ lớn hơn Mộc 20đ (gần 30đv) nên điểm hạn kỵ vượng chỉ được tăng gấp đôi.

1 - Dụng thần Giáp vượng ở lưu niên Mão có -1đh.
2 - Nhật can Nhâm tử tuyệt tại lưu niên Mão có 1đh (Thân vượng nên Nhật can Nhâm nhập mộ ở Thìn đại vận là tốt, vì làm Thân bớt vượng nên không có 1đh).
3 - Ngũ hợp của Bính với Tân hóa Thủy có 0,5đh. Mỗi can có 2.0,5đh kỵ vượng.
4 - Mậu tiểu vận có 1 cát thần có -0,13đh.
5 - Kỷ lưu niên nhược ở tuế và vận khắc 3 Nhâm trong tứ trụ mỗi lực có 0đh. Mỗi Nhâm được lệnh nhưng nhược ở tuế vận có -0,5đh can động.
6 - Thìn đại vận hại Mão lưu niên có 1đh (vì cùng ở trong tam hội không hóa).
7 - Nạp âm Đất trên tường trụ giờ có Tân được lệnh khắc nước Sông trụ ngày có 1đh.
Nạp âm Đất trên Thành lưu niên có Kỷ nhược ở tuế và vận khắc nước Sông trụ ngày có 0đh.

Tổng số có 3,37đh. Số điểm hạn này quá thấp nên không thể chấp nhận được (vì nó không thể gây ra bất kỳ một tai họa nào cả). Do vậy ở đây ta phải tìm thêm một số điểm hạn nữa. Ta thấy thấy điểm vượng của hành kỵ vượng sau khi tính lại và tính thêm ở tuế vận có 49,86đv trừ đi hỷ dụng 1 là Mộc có 20,5đv còn 29,36đv, chỉ còn thiếu 0,64đv nữa thì Thủy sẽ lớn hơn Mộc gấp 3 lần. Nếu được thêm số điểm vượng này thì điểm hạn kỵ vượng sẽ được tăng 3 lần (tức được thêm 1đh), khi đó tổng số sẽ là 4,37đh. Số điểm này vẫn còn quá thấp không thể chấp nhận được. Như vậy ta chỉ có thể tăng điểm hạn của Thủy cục gấp 3 lần là có vẻ hợp lý nhất, khi đó ta có thêm 1đh thì tổng số có tới 5,37đh lại càng không thể chấp nhận được (vì nó thừa sức gây ra tử vong). Do vậy ta đành chỉ có thể tăng gấp 2 lần thì được thêm 0,5đh thành 4,87đh. Số điểm hạn này quá chuẩn vì nó nặng tới mức thừa sống thiếu chết ứng hợp với tai họa của Georg Alzer lúc đó. Bởi vì bọn Gestapo (mật vụ Đức) lúc đó tra tấn anh ta tàn khốc hết mức nhưng không để chết hòng bắt anh ta phải khai ra chỉ huy cùng đồng đội tham gia (thực tế anh ta chỉ hành động một mình).

Từ ví dụ này ta đưa ra 2 quy tắc mới :
1 - Khi điểm vượng của hành kỵ vượng lớn hơn hỷ dụng 1 gần 30đv thì sai số cho phép thêm +1đv, còn gần 20đv thì sai số cho phép có thể thêm +0,5đv (?).
2 - Khi điểm hạn kỵ vượng được tăng gấp ba thì điểm hạn hóa cục của hành kỵ vượng chỉ được tăng gấp đôi.

Ta thấy tứ trụ này Thân quá vượng nhưng không thể Tòng nên đây là mệnh quá xấu, đừng hy vọng giầu sang nên chuyện phá tài hay phá sản là chuyện xa vời, chỉ có tể xẩy ra trong mơ mà thôi. Ở đây nên hiểu một người phải giầu có về tài sản và tiền của thì mới có chuyện phá tài là mất ít, còn phá sản là mất hết còn nợ, chứ không thể là người làm ăn chỉ đủ sống qua ngày không có tiền hay của cải tích trữ.

Vậy không có phá tài hay phá sản mà tai họa ập đến thì tổng điểm hạn sẽ đổ đi đâu đây ?

Trong dân gian có câu “Của đi thay Người” vậy thì khi không có Của đi thay thì Người dĩ nhiên phải đi mà thôi. Điều này đúng hoàn toàn với Georg Alzer, không những anh ta phải vào tù mà hàng ngày còn bị những cuộc tra tấn, hành hạ tàn khốc cả về thể xác lẫn tinh thần, tương ứng tới mức 4,87đh (thoát chết là may).

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Claude [Bot]3 khách.