(Bổ xung)
Suy nghĩ lại tôi thấy với 4,76đh thì nó ở mức Phá Sản quá nặng trong khi ở đây tôi không biết thực tế nó nặng tới cỡ nào? Do vậy để khách quan cho phù hợp với thực tế, tôi nên đưa ra kết quả Phá Sản ở mức độ khá nặng thì hợp lý hơn.
Cho nên ta cần tăng thêm điểm giảm G khi lệnh tháng bị xung khắc từ 1/4 lên thành 1/3. Nếu áp dụng tỷ lệ này thì điểm giảm G sẽ từ 1G.1/4 = 0,25G thành 1G.1/3 = 0,33G (với xung khắc gần) và thêm 0,33.1/2G = 0,17G (với xung khắc cách 1 ngôi). Tổng cộng có (5,88 – 0,38 + 0,5)G = 6G.
Với số điểm giảm 6G này thì tổng điểm hạn còn lại là :
10,28.(12 – 6,5).1/12đh = 10,28.5,5/12đh = 4,71đh. Số điểm hạn này có lẽ hợp lý và dễ chấp nhận hơn chăng ?
“Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)
Nội qui chuyên mục
Đây là chuyên mục trao đổi kiến thức về tứ trụ (bát tự, tử bình) dành cho thành viên chính thức. Các bài viết trao đổi cần có nội dung kiến thức hoặc cung cấp thông tin nghiệm lý. Muốn nhờ xem, luận giải lá số vui lòng đăng tại mục Xem tứ trụ.
Các bài viết và thành viên vi phạm sẽ bị xử lý.
Đây là chuyên mục trao đổi kiến thức về tứ trụ (bát tự, tử bình) dành cho thành viên chính thức. Các bài viết trao đổi cần có nội dung kiến thức hoặc cung cấp thông tin nghiệm lý. Muốn nhờ xem, luận giải lá số vui lòng đăng tại mục Xem tứ trụ.
Các bài viết và thành viên vi phạm sẽ bị xử lý.
-
VULONG
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 1103
- Tham gia: 22:55, 23/12/09
-
VULONG
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 1103
- Tham gia: 22:55, 23/12/09
TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)
Tôi xin luận và đăng lại toàn bộ ví dụ số 15 như sau :
Ví dụ số 15 :

Qua sơ đồ ta thấy Thân nhược mà Kiêu Ấn có 4 can chi và lớn hơn Thân trên 20đv nhưng không thể Tòng (Kiêu Ấn) vì Thân chỉ bằng 3,83/32 = 12% điểm vượng của Kiêu Ấn (tức nhỏ hơn 20%, sẽ nói sau). Do vậy Dụng thần phải là Tỷ Kiếp chính là Canh tàng trong Tị trụ tháng có 7đv, các hành còn lại đều là kỵ thần. Rõ ràng đây là một tứ trụ có Mệnh quá xấu.
Kiêu Ấn chưa lớn hơn Thân 30đv nên điểm hạn kỵ vượng không được tăng 1/3.
Kiêu Ấn có thêm 1đv vì có 4 can chi cùng hành (từ 4 can chi cùng hành trở lên mỗi can chi có 0,25đv, sẽ nói sau).
Ta xét hạn xẩy ra ở tiểu vận đầu là Kỷ Mùi vì nó thêm điểm hạn kỵ vượng ở cả can chi trong khi tiểu vận 2 là Mậu Ngọ chỉ có ở can.
1 - Dụng thần Canh vượng ở lưu niên Tị có -1đh nhưng nhập Mộ tại đại vận Sửu có 1đh.
2 - Nhật can Tân tử tuyệt tại lưu niên Tị có 1đh.
3 - Mùi tiểu vận có 1 hung thần có 0,13đh.
4 - Đại vận Ất Sửu có can Ất vượng ở lưu niên TKĐX với tiểu vận Kỷ Mùi có 0,13đh (vì TKĐX với tiểu vận bị giảm 75%đh) được thêm 0,05đh (vì chỉ có 2 trụ TKĐX với nhau).
5 - Ất đại vận khắc 5 can Kỷ nên mỗi lực khắc có 0đh (vì khắc từ 5 can trở lên không có điểm hạn) nhưng mỗi Kỷ bị khắc vẫn được xem là động nên mỗi Kỷ có 0,5đh kỵ vượng, riêng Kỷ tiểu vận bị giảm 50% còn 0,25đh kỵ vượng. Ất đại vận vượng ở lưu niên có 0,5đh can động.
Kỷ trong tứ trụ được lệnh và vượng ở lưu niên nên có 0đh can động, riêng Kỷ lưu niên vượng ở lưu niên có 0,5đh can động.
6 - Sửu đại vận xung Mùi tiểu vận có 0,15.1/2đh = 0,07đh (vì xung tiểu vận giảm 50%đh). Sửu xung Mùi gần (đều là kỵ vượng) nên Sửu đại vận có 0,5đh kỵ vượng nhưng Mùi tiểu vận có 0,25đh kỵ vượng và 0,13đh của Hung thần đều bị xung mất 5% còn 0,23đhvà 0,12đh.
Hợi trụ ngày và trụ giờ trong tứ trụ khắc Tị lưu niên (Thái Tuế) mỗi lực có 1,3đh (1đh do khắc Thái Tuế còn 0,3đh do xung Thái Tuế). Hợi trụ ngày xung (ở đây xung hay khắc Lệnh tháng coi như bằng nhau) Tị có 0,3đh và được thêm 0,25đh (vì xung vào lệnh tháng), còn Hợi trụ giờ xung Tị trụ tháng có 0,15đh và được thêm 0,13đh do xung lệnh tháng (vì cách 1 ngôi).
7 - Sửu đại vận hình Mùi tiểu vận có 0,5đh (vì các lực tác động vào can chi tiểu vận bị giảm 50%).
8 - Sét trụ năm có Kỷ vượng ở lưu niên khắc Kim trang sức trụ ngày có 1đh.
Tổng số có 10,28đh. Số điểm này quá cao nên ta dễ dàng nhìn thấy 2 Hợi trong tứ trụ khắc Thái tuế chắc chắn gây ra điểm giảm G. Ta đã biết mỗi lực chi xung chi chỉ gây ra 1G thì chi khắc chi phải gây ra 2G là có thể chấp nhận được. Nếu thừa nhận điều này thì mỗi Hợi trong tứ trụ khắc Tị lưu niên có 2G. Khi đó Hợi trụ ngày mới khắc gần được Tị lệnh tháng có 0,3đh tương ứng có 1G (vì khắc gần trong tứ trụ điểm giảm G bị giảm 50%) và được thêm 0,25đh (vì khắc vào lệnh tháng), tương ứng được thêm 1G.1/3 = 0,33G (hay 1/4 ?), còn Hợi trụ giờ khắc Tị lệnh tháng cách 1 ngôi nên lực khắc bị giảm 50% còn 0,15đh, tương ứng có 0,5G và thêm 0,13đh, tương ứng có thêm 0,17G. Tổng cộng có 6G.

Qua bảng trên ta thấy với 6G thì tổng điểm hạn được giảm chính xác ở mức 6,5/12. Do vậy tổng điểm hạn còn lại là 10,28.5,5/12 = 4,71đh. Số điểm này có thể chấp nhận được vì nó hoàn toàn ứng hợp với thực tế là phá sản khá nặng.
Vì tai họa xẩy ra ở tiểu vận đầu là Kỷ Mùi nên nó phải xẩy ra trước ngày sinh nhật 21/5. Ta thấy tháng Bính Dần có ngày 4/2 là Ất Mùi; tháng Đinh Mão có ngày 24/3 là Quý Mùi; tháng Mậu Thìn có ngày 5/4 là Ất Mùi. Do vậy tiểu vận Kỷ Mùi chỉ có 3 ngày 4/2, 24/3 và 5/4 là TKĐX xung với trụ năm Kỷ Sửu. Đến giờ tôi vẫn chưa xác dịnh được ngày nào trong chúng là Cửa Ải chính gây ra tai họa này ?
Ta thấy ví dụ số 14 và 15 này đều có điểm hạn kỵ vượng tham gia chính gây ra tai họa về Tài, trong đó ví dụ số 14 tới 44%đh trong tổng số là 4,57đh, còn ví dụ số 15 này cũng chiếm tới 26%đh trong tổng số 10,28đh. Chả nhẽ điểm kỵ vượng lại có thể quyết định tai họa về Tài là phá tài hay phá sản hay sao ?
Ví dụ số 15 :

Qua sơ đồ ta thấy Thân nhược mà Kiêu Ấn có 4 can chi và lớn hơn Thân trên 20đv nhưng không thể Tòng (Kiêu Ấn) vì Thân chỉ bằng 3,83/32 = 12% điểm vượng của Kiêu Ấn (tức nhỏ hơn 20%, sẽ nói sau). Do vậy Dụng thần phải là Tỷ Kiếp chính là Canh tàng trong Tị trụ tháng có 7đv, các hành còn lại đều là kỵ thần. Rõ ràng đây là một tứ trụ có Mệnh quá xấu.
Kiêu Ấn chưa lớn hơn Thân 30đv nên điểm hạn kỵ vượng không được tăng 1/3.
Kiêu Ấn có thêm 1đv vì có 4 can chi cùng hành (từ 4 can chi cùng hành trở lên mỗi can chi có 0,25đv, sẽ nói sau).
Ta xét hạn xẩy ra ở tiểu vận đầu là Kỷ Mùi vì nó thêm điểm hạn kỵ vượng ở cả can chi trong khi tiểu vận 2 là Mậu Ngọ chỉ có ở can.
1 - Dụng thần Canh vượng ở lưu niên Tị có -1đh nhưng nhập Mộ tại đại vận Sửu có 1đh.
2 - Nhật can Tân tử tuyệt tại lưu niên Tị có 1đh.
3 - Mùi tiểu vận có 1 hung thần có 0,13đh.
4 - Đại vận Ất Sửu có can Ất vượng ở lưu niên TKĐX với tiểu vận Kỷ Mùi có 0,13đh (vì TKĐX với tiểu vận bị giảm 75%đh) được thêm 0,05đh (vì chỉ có 2 trụ TKĐX với nhau).
5 - Ất đại vận khắc 5 can Kỷ nên mỗi lực khắc có 0đh (vì khắc từ 5 can trở lên không có điểm hạn) nhưng mỗi Kỷ bị khắc vẫn được xem là động nên mỗi Kỷ có 0,5đh kỵ vượng, riêng Kỷ tiểu vận bị giảm 50% còn 0,25đh kỵ vượng. Ất đại vận vượng ở lưu niên có 0,5đh can động.
Kỷ trong tứ trụ được lệnh và vượng ở lưu niên nên có 0đh can động, riêng Kỷ lưu niên vượng ở lưu niên có 0,5đh can động.
6 - Sửu đại vận xung Mùi tiểu vận có 0,15.1/2đh = 0,07đh (vì xung tiểu vận giảm 50%đh). Sửu xung Mùi gần (đều là kỵ vượng) nên Sửu đại vận có 0,5đh kỵ vượng nhưng Mùi tiểu vận có 0,25đh kỵ vượng và 0,13đh của Hung thần đều bị xung mất 5% còn 0,23đhvà 0,12đh.
Hợi trụ ngày và trụ giờ trong tứ trụ khắc Tị lưu niên (Thái Tuế) mỗi lực có 1,3đh (1đh do khắc Thái Tuế còn 0,3đh do xung Thái Tuế). Hợi trụ ngày xung (ở đây xung hay khắc Lệnh tháng coi như bằng nhau) Tị có 0,3đh và được thêm 0,25đh (vì xung vào lệnh tháng), còn Hợi trụ giờ xung Tị trụ tháng có 0,15đh và được thêm 0,13đh do xung lệnh tháng (vì cách 1 ngôi).
7 - Sửu đại vận hình Mùi tiểu vận có 0,5đh (vì các lực tác động vào can chi tiểu vận bị giảm 50%).
8 - Sét trụ năm có Kỷ vượng ở lưu niên khắc Kim trang sức trụ ngày có 1đh.
Tổng số có 10,28đh. Số điểm này quá cao nên ta dễ dàng nhìn thấy 2 Hợi trong tứ trụ khắc Thái tuế chắc chắn gây ra điểm giảm G. Ta đã biết mỗi lực chi xung chi chỉ gây ra 1G thì chi khắc chi phải gây ra 2G là có thể chấp nhận được. Nếu thừa nhận điều này thì mỗi Hợi trong tứ trụ khắc Tị lưu niên có 2G. Khi đó Hợi trụ ngày mới khắc gần được Tị lệnh tháng có 0,3đh tương ứng có 1G (vì khắc gần trong tứ trụ điểm giảm G bị giảm 50%) và được thêm 0,25đh (vì khắc vào lệnh tháng), tương ứng được thêm 1G.1/3 = 0,33G (hay 1/4 ?), còn Hợi trụ giờ khắc Tị lệnh tháng cách 1 ngôi nên lực khắc bị giảm 50% còn 0,15đh, tương ứng có 0,5G và thêm 0,13đh, tương ứng có thêm 0,17G. Tổng cộng có 6G.

Qua bảng trên ta thấy với 6G thì tổng điểm hạn được giảm chính xác ở mức 6,5/12. Do vậy tổng điểm hạn còn lại là 10,28.5,5/12 = 4,71đh. Số điểm này có thể chấp nhận được vì nó hoàn toàn ứng hợp với thực tế là phá sản khá nặng.
Vì tai họa xẩy ra ở tiểu vận đầu là Kỷ Mùi nên nó phải xẩy ra trước ngày sinh nhật 21/5. Ta thấy tháng Bính Dần có ngày 4/2 là Ất Mùi; tháng Đinh Mão có ngày 24/3 là Quý Mùi; tháng Mậu Thìn có ngày 5/4 là Ất Mùi. Do vậy tiểu vận Kỷ Mùi chỉ có 3 ngày 4/2, 24/3 và 5/4 là TKĐX xung với trụ năm Kỷ Sửu. Đến giờ tôi vẫn chưa xác dịnh được ngày nào trong chúng là Cửa Ải chính gây ra tai họa này ?
Ta thấy ví dụ số 14 và 15 này đều có điểm hạn kỵ vượng tham gia chính gây ra tai họa về Tài, trong đó ví dụ số 14 tới 44%đh trong tổng số là 4,57đh, còn ví dụ số 15 này cũng chiếm tới 26%đh trong tổng số 10,28đh. Chả nhẽ điểm kỵ vượng lại có thể quyết định tai họa về Tài là phá tài hay phá sản hay sao ?
-
VULONG
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 1103
- Tham gia: 22:55, 23/12/09
TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)
Bảng trên tôi đã sai nên thay bằng bảng sau :VULONG đã viết: 17:54, 19/02/26 Tôi xin luận và đăng lại toàn bộ ví dụ số 15 như sau :
Ví dụ số 15 :

Thành thật xin lỗi mọi người.
Đang trực tuyến
Đang xem chuyên mục này: Claude [Bot] và 1 khách.