“Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Trao đổi kiến thức về tứ trụ (tử bình, bát tự)
Nội qui chuyên mục
Đây là chuyên mục trao đổi kiến thức về tứ trụ (bát tự, tử bình) dành cho thành viên chính thức. Các bài viết trao đổi cần có nội dung kiến thức hoặc cung cấp thông tin nghiệm lý. Muốn nhờ xem, luận giải lá số vui lòng đăng tại mục Xem tứ trụ.
Các bài viết và thành viên vi phạm sẽ bị xử lý.
Chia sẻ
VULONG
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1104
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Gửi bài gửi bởi VULONG »

(Bổ xung)
Suy nghĩ lại tôi thấy với 4,76đh thì nó ở mức Phá Sản quá nặng trong khi ở đây tôi không biết thực tế nó nặng tới cỡ nào? Do vậy để khách quan cho phù hợp với thực tế, tôi nên đưa ra kết quả Phá Sản ở mức độ khá nặng thì hợp lý hơn.
Cho nên ta cần tăng thêm điểm giảm G khi lệnh tháng bị xung khắc từ 1/4 lên thành 1/3. Nếu áp dụng tỷ lệ này thì điểm giảm G sẽ từ 1G.1/4 = 0,25G thành 1G.1/3 = 0,33G (với xung khắc gần) và thêm 0,33.1/2G = 0,17G (với xung khắc cách 1 ngôi). Tổng cộng có (5,88 – 0,38 + 0,5)G = 6G.
Với số điểm giảm 6G này thì tổng điểm hạn còn lại là :
10,28.(12 – 6,5).1/12đh = 10,28.5,5/12đh = 4,71đh. Số điểm hạn này có lẽ hợp lý và dễ chấp nhận hơn chăng ?

VULONG
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1104
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Gửi bài gửi bởi VULONG »

Tôi xin luận và đăng lại toàn bộ ví dụ số 15 như sau :

Ví dụ số 15 :
Hình ảnh
Qua sơ đồ ta thấy Thân nhược mà Kiêu Ấn có 4 can chi và lớn hơn Thân trên 20đv nhưng không thể Tòng (Kiêu Ấn) vì Thân chỉ bằng 3,83/32 = 12% điểm vượng của Kiêu Ấn (tức nhỏ hơn 20%, sẽ nói sau). Do vậy Dụng thần phải là Tỷ Kiếp chính là Canh tàng trong Tị trụ tháng có 7đv, các hành còn lại đều là kỵ thần. Rõ ràng đây là một tứ trụ có Mệnh quá xấu.
Kiêu Ấn chưa lớn hơn Thân 30đv nên điểm hạn kỵ vượng không được tăng 1/3.
Kiêu Ấn có thêm 1đv vì có 4 can chi cùng hành (từ 4 can chi cùng hành trở lên mỗi can chi có 0,25đv, sẽ nói sau).
Ta xét hạn xẩy ra ở tiểu vận đầu là Kỷ Mùi vì nó thêm điểm hạn kỵ vượng ở cả can chi trong khi tiểu vận 2 là Mậu Ngọ chỉ có ở can.
1 - Dụng thần Canh vượng ở lưu niên Tị có -1đh nhưng nhập Mộ tại đại vận Sửu có 1đh.
2 - Nhật can Tân tử tuyệt tại lưu niên Tị có 1đh.
3 - Mùi tiểu vận có 1 hung thần có 0,13đh.
4 - Đại vận Ất Sửu có can Ất vượng ở lưu niên TKĐX với tiểu vận Kỷ Mùi có 0,13đh (vì TKĐX với tiểu vận bị giảm 75%đh) được thêm 0,05đh (vì chỉ có 2 trụ TKĐX với nhau).
5 - Ất đại vận khắc 5 can Kỷ nên mỗi lực khắc có 0đh (vì khắc từ 5 can trở lên không có điểm hạn) nhưng mỗi Kỷ bị khắc vẫn được xem là động nên mỗi Kỷ có 0,5đh kỵ vượng, riêng Kỷ tiểu vận bị giảm 50% còn 0,25đh kỵ vượng. Ất đại vận vượng ở lưu niên có 0,5đh can động.
Kỷ trong tứ trụ được lệnh và vượng ở lưu niên nên có 0đh can động, riêng Kỷ lưu niên vượng ở lưu niên có 0,5đh can động.
6 - Sửu đại vận xung Mùi tiểu vận có 0,15.1/2đh = 0,07đh (vì xung tiểu vận giảm 50%đh). Sửu xung Mùi gần (đều là kỵ vượng) nên Sửu đại vận có 0,5đh kỵ vượng nhưng Mùi tiểu vận có 0,25đh kỵ vượng và 0,13đh của Hung thần đều bị xung mất 5% còn 0,23đh0,12đh.
Hợi trụ ngày và trụ giờ trong tứ trụ khắc Tị lưu niên (Thái Tuế) mỗi lực có 1,3đh (1đh do khắc Thái Tuế còn 0,3đh do xung Thái Tuế). Hợi trụ ngày xung (ở đây xung hay khắc Lệnh tháng coi như bằng nhau) Tị có 0,3đh và được thêm 0,25đh (vì xung vào lệnh tháng), còn Hợi trụ giờ xung Tị trụ tháng có 0,15đh và được thêm 0,13đh do xung lệnh tháng (vì cách 1 ngôi).
7 - Sửu đại vận hình Mùi tiểu vận có 0,5đh (vì các lực tác động vào can chi tiểu vận bị giảm 50%).
8 - Sét trụ năm có Kỷ vượng ở lưu niên khắc Kim trang sức trụ ngày có 1đh.

Tổng số có 10,28đh. Số điểm này quá cao nên ta dễ dàng nhìn thấy 2 Hợi trong tứ trụ khắc Thái tuế chắc chắn gây ra điểm giảm G. Ta đã biết mỗi lực chi xung chi chỉ gây ra 1G thì chi khắc chi phải gây ra 2G là có thể chấp nhận được. Nếu thừa nhận điều này thì mỗi Hợi trong tứ trụ khắc Tị lưu niên có 2G. Khi đó Hợi trụ ngày mới khắc gần được Tị lệnh tháng có 0,3đh tương ứng có 1G (vì khắc gần trong tứ trụ điểm giảm G bị giảm 50%) và được thêm 0,25đh (vì khắc vào lệnh tháng), tương ứng được thêm 1G.1/3 = 0,33G (hay 1/4 ?), còn Hợi trụ giờ khắc Tị lệnh tháng cách 1 ngôi nên lực khắc bị giảm 50% còn 0,15đh, tương ứng có 0,5G và thêm 0,13đh, tương ứng có thêm 0,17G. Tổng cộng có 6G.
Hình ảnh
Qua bảng trên ta thấy với 6G thì tổng điểm hạn được giảm chính xác ở mức 6,5/12. Do vậy tổng điểm hạn còn lại là 10,28.5,5/12 = 4,71đh. Số điểm này có thể chấp nhận được vì nó hoàn toàn ứng hợp với thực tế là phá sản khá nặng.

Vì tai họa xẩy ra ở tiểu vận đầu là Kỷ Mùi nên nó phải xẩy ra trước ngày sinh nhật 21/5. Ta thấy tháng Bính Dần có ngày 4/2 là Ất Mùi; tháng Đinh Mão có ngày 24/3 là Quý Mùi; tháng Mậu Thìn có ngày 5/4 là Ất Mùi. Do vậy tiểu vận Kỷ Mùi chỉ có 3 ngày 4/2, 24/3 và 5/4 là TKĐX xung với trụ năm Kỷ Sửu. Đến giờ tôi vẫn chưa xác dịnh được ngày nào trong chúng là Cửa Ải chính gây ra tai họa này ?

Ta thấy ví dụ số 14 và 15 này đều có điểm hạn kỵ vượng tham gia chính gây ra tai họa về Tài, trong đó ví dụ số 14 tới 44%đh trong tổng số là 4,57đh, còn ví dụ số 15 này cũng chiếm tới 26%đh trong tổng số 10,28đh. Chả nhẽ điểm kỵ vượng lại có thể quyết định tai họa về Tài là phá tài hay phá sản hay sao ?

VULONG
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1104
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Gửi bài gửi bởi VULONG »

VULONG đã viết: 17:54, 19/02/26 Tôi xin luận và đăng lại toàn bộ ví dụ số 15 như sau :

Ví dụ số 15 :
Hình ảnh

Bảng trên tôi đã sai nên thay bằng bảng sau :
Hình ảnh
Thành thật xin lỗi mọi người.

VULONG
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1104
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Gửi bài gửi bởi VULONG »

Ví dụ số 17 :
Hình ảnh
Qua sơ đồ ta thấy trong tứ trụ có bán hợp của Hợi trụ ngày với Mão trụ tháng hóa Mộc (vì có Ất trụ năm làm thần dẫn) và có Thân nhược mà Thực Thương (Mộc) là kỵ vượng (vì lớn hơn hỷ dụng 1 là Thủy trên 10đv). Vì Mộc (Thực Thương) chỉ có 3 can chi nên không thể tòng Mộc được. Do vậy dụng thần đầu tiên phải là Kiêu Ấn, Dụng thần chính là Canh tàng trong Tị trụ năm có 4,2đv, hỷ thần là Tỷ Kiếp (Thủy) còn kỵ thần là Thực Thương (Mộc), Tài tinh (Hỏa) và Quan Sát (Thổ).
Năm Tân Tị (2001) thuộc đại vận Ất Hợi có 2 tiểu vận là Kỷ Mão và Mậu Dần nhưng ngày 4/12 xẩy ra tai họa nó thuộc tiểu vận thứ 2 là Mậu Dần.
Ta thấy có ngũ hợp của Bính trụ giờ với Tân lưu niên không hóa (vì không có thần dẫn).
Lục hợp của Hợi đại vận với Dần tiểu vận hóa Mộc (vì có Ất trụ tháng làm thần dẫn) cùng bán hợp Mộc trong tứ trụ đều bị phá tan cả cục và hợp bởi lực xung của Tị lưu niên (có 8,07đv) với 2 Hợi lớn hơn lực hợp của Mão trụ tháng với Hợi trụ ngày (chỉ có 6,5đv) cũng như lớn hơn lực hợp của Dần tiểu vận với Hợi đại vận (chỉ có 6,17đv). Mộc cục trong tứ trụ chỉ có 2 chi bị phá nhưng không phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm (vì không có 2 chi bị phá khác hành).

1 - Dụng thần Canh vượng ở lưu niên Tị có -1đh.
2 - Nhật can Quý nhược ở lưu niên Tị có 0đh.
3 - Ất đại vận có 1 cát thần có -0,25đh và Dần tiểu vận có 3 hung thần có 3.0,13đh.
4 - Lưu niên Tân Tị TKĐX với đại vận Ất Hợi có 0,38đh (vì Tân chỉ vượng ở đại vận) và thêm 0,05đh (vì chỉ có 2 trụ TKĐX với nhau).
5 - Mộc cục trong tứ trụ chỉ có 2 chi bị phá có -0,5đh (đúng bằng điểm hạn của hành đó nhưng đổi dấu), chi Hợi tự do có -0,25đh còn chi Mão có 0,25đh (bằng 50%đh hạn của hành đó). Mộc cục ở tuế vận bị phá không có các điểm hạn này (vì nó xuất hiện sau khi sinh).
6 - Hợi trụ ngày là Kình dương (vì Nhật can ở trạng thái Đế vượng tại Hợi) nên khi Kình dương (Hợi) xuất hiện trên tuế vận thì mỗi Kình dương có 1đh (riêng ở tiểu vận có 0,5đh). Do vậy Hợi đại vận là Kình dương có 1đh.
7 - Bính trụ giờ được lệnh và vượng ở lưu niên hợp và khắc Tân lưu niên có 0,5đh và có 0đh can động. Tân lưu niên chỉ vượng ở đại vận có -0,5đh can động nhưng bị khắc mất 50% bởi Bính còn -0,25đh.
Ất đại vận vượng ở lưu niên lại là kỵ vượng khắc Kỷ trụ tháng và Mậu tiểu vận nên mỗi lực có 0,7đh, riêng lực khắc với Mậu tiểu vận chỉ có 0,18đh (vì khắc trái dấu giảm 50% và khắc vào tiểu vận giảm thêm 50%). Ất đại vận có 0,5đh can động và 0,5đh kỵ vượng.
Khi đó Ất trụ năm cũng là kỵ vượng được lệnh và vượng ở lưu niên mới khắc được Kỷ trụ tháng có 1đh (vì khắc gần), có 0,5đh kỵ vượng và 0đh can động. Kỷ trụ tháng thất lệnh nhưng vượng ở lưu niên Tị có 0,5đh can động nhưng bị 2 Ất khắc mất hết.
Hợi trụ ngày và Hợi đại vận khắc thái tuế Tị mỗi lực có 1,3đh. Khi đó Hợi trụ ngày mới xung khắc được Tị trụ năm có 0,3.50%đh = 0,15đh (vì cách 1 ngôi), còn Hợi đại vận xung khắc Tị trụ năm có 0,3đh (vì xung khắc gần).
8 - Hợi đại vận tự hình Hợi trụ ngày có 1đh. Dần tiểu vận hình và hại Tị lưu niên mỗi lực có 1đh.
9 - Nước biển trụ ngày có Quý được lệnh nhưng chỉ vượng ở đại vận khắc Đất trên thành của trụ tháng có 1đh nhưng khắc Lửa đỉnh núi đại vận chỉ có 0,5đh (vì Quý chỉ vượng ở đại vận).
Tổng cộng có 11,25đh. Vì chỉ bị tai nạn nặng nhưng không đe dọa tới tính mạng nên rõ ràng ở đây phải có nhiều điểm giảm G là cái chắc.

Để dễ hiểu ta đưa ra quy tắc :
1 - Nếu mỗi lực khắc của chi trong tứ trụ hay chi đại vận với thái tuế có 2G thì khi đó mỗi lực khắc của nó với chi trong tứ trụ mới có 1G (khi khắc gần), còn mỗi lực hình hay hại hoặc tự hình của nó với các chi trong tứ trụ mới có 0,5G, chi tiểu vận cũng tương tự khi đó khắc thái tuế có 2G, xung thái tuế có 1G còn hình, hại thái tuế có 0,5G.
2 - Nếu mỗi lực xung của chi trong tứ trụ hay chi đại vận với thái tuế có 1G thì khi đó mỗi lực xung của nó với các chi trong tứ trụ mới có 0,5G (khi xung gần), còn mỗi lực hình hay hại của nó với các chi trong tứ trụ mới có 0,25G.
3 - Nếu chi đại vận xung các chi trong tứ trụ có 1G thì khi đó mỗi lực hình hay hại của nó với các chi trong tứ trụ mới có 0,5G, còn các chi trong tứ trụ giống chi đại vận xung hay hình, hại các chi trong tứ trụ điểm G tương ứng sẽ giảm đi 50%.
(Lý thuyết cơ bản về điểm G sẽ nói sau.)

Nếu chỉ có chi Hợi trụ ngày trong tứ trụ khắc thái tuế Tị thì không thể gây ra được điểm G nhưng may mắn ta thấy có thêm Hợi đại vận cũng khắc thái tuế Tị. Do vậy ta coi 2 Hợi này giống như cùng ở trong tứ trụ khắc thái tuế Tị nên mỗi lực khắc có 2G là hợp lý. Khi đó Hợi trụ ngày mới khắc được Tị trụ năm có 1G.50% = 0,5G (vì cách 1 ngôi). Tương tự ta có Hợi đại vận khắc Tị trụ tháng có 1G (vì khắc gần). Hợi đại vận tự hình Hợi trụ ngày có 0,5G còn Dần tiểu vận hình và hại thái tuế Tị mỗi lực có 0,5G.

Tổng cộng có 7G, với số điểm G này thì tổng điểm hạn được giảm 7/12 còn lại 11,25.5/12đh = 4,69đh. Với số điểm này có thể chấp nhận được vì nó tương ứng với thực tế tai họa giao thông khá nặng.

Ở ví dụ này ta thấy điểm kỵ vượng chỉ chiếm 1/11,25 = 9%, điểm hình, hại và tự hình chiếm 3/11,25 = 26,67%, còn điểm xung khắc bởi tứ hành xung của Hợi với Tị chiếm 3,05/11,25 = 27,11% . Tai họa này gây ra bởi lực về hình, hại và xung khắc nên không thể về phá tài hay phá sản được mà về giao thông do đi lại bất cẩn bởi chính mình tự hại mình và người ngoài gây ra (vì có các đh về tự hình và hình, hại) dẫn đến va chạm bởi xe cộ với nhau (có 2 Hợi xung khắc Tị) là hoàn toàn hợp lý.

Nhưng tiểu vận Mậu Dần từ 10/3 đến ngày 4/12 là ngày xẩy ra tai họa có nhiều ngày TKĐX với trụ năn Ất Tị mà lại xẩy ra vào tháng Kỷ Hợi của năm Tân Tị là Sao ?
Phải chăng vì có Hợi trụ ngày và Hợi đại vận xung khắc với thái tuế Tị ?

Mà tháng Hợi (của lưu niên) lại là tháng Kỷ Hợi TKĐX với trụ năm Ất Tị, đây có phải là yếu tố then chốt để tác động gây ra tai họa hay không ? Nhưng tháng Hợi có ngày Kỷ Hợi (2/12) TKĐX với năm Ất Tị nhưng tai họa lại không xẩy ra mà lại xẩy ra sau 2 ngày là ngày Tân Sửu (4/12), vậy thì tại sao ?
Hy vọng mọi người trả lời giúp tôi những câu hỏi này.

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Claude [Bot], ThienDia123, VULONG5 khách.