Khi kiểm tra lại bài viết :
“III - Các tổ hợp hóa hay không hóa cục bị phá
..............................................................................
2 - Thiên Khắc Địa Xung phá các tổ hợp
a - Một TKĐX với một bán hợp hay lục hợp có thể phá được cục còn hợp nếu nó hóa cục, phá được hợp nếu nó không hóa cục.
b - Hai TKĐX với một bán hợp hay lục hợp có thể phá được cả cục và hợp của nó.
c - Hai TKĐX với một tam hợp có thể phá được cục còn hợp, và phá được hợp nếu nó không hóa cục.
d - Ba TKĐX với một tam hợp có thể phá được cả hợp và cục của nó.
e - Hai TKĐX với một tam hội có chi không phải Thổ có thể phá được cục còn hợp, và phá được hợp nếu nó không hóa cục.
f - Ba TKĐX với một tam hội có thể phá được cả cục và hợp của nó.
......................................................”
Tôi phát hiện ra câu tôi tô đỏ trên là sai, xin mọi người xóa giúp tôi.
Thành thật xin lỗi mọi người.
“Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)
Nội qui chuyên mục
Đây là chuyên mục trao đổi kiến thức về tứ trụ (bát tự, tử bình) dành cho thành viên chính thức. Các bài viết trao đổi cần có nội dung kiến thức hoặc cung cấp thông tin nghiệm lý. Muốn nhờ xem, luận giải lá số vui lòng đăng tại mục Xem tứ trụ.
Các bài viết và thành viên vi phạm sẽ bị xử lý.
Đây là chuyên mục trao đổi kiến thức về tứ trụ (bát tự, tử bình) dành cho thành viên chính thức. Các bài viết trao đổi cần có nội dung kiến thức hoặc cung cấp thông tin nghiệm lý. Muốn nhờ xem, luận giải lá số vui lòng đăng tại mục Xem tứ trụ.
Các bài viết và thành viên vi phạm sẽ bị xử lý.
-
VULONG
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 1087
- Tham gia: 22:55, 23/12/09
-
VULONG
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 1087
- Tham gia: 22:55, 23/12/09
TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)
Bảng tra điểm hạn của các Nạp Âm khắc nhau (30/12/2025) :


Ghi chú :
1 - Các dấu hỏi trong bảng cho biết số điểm hạn đó cần có thêm các ví dụ trong thực tế để kiểm tra thêm.
2 - “1-Kim” có nghĩa là có 1đh khi không gặp Kim (?).
3 - Dấu * có nghĩa là Gỗ Lựu gặp Lửa mặt trời có thể tốt cũng có thể xấu, từ khoảng -0,25đh đến +0,25đh.
Tạm thời như vậy, vì các số điểm hạn này chưa chắc đã đủ và chính xác, cần được kiểm tra và tìm thêm.
Ở đây chưa động chạm tới điểm hạn tốt mang dấu Âm của các Nạp Âm gặp nhau.


Ghi chú :
1 - Các dấu hỏi trong bảng cho biết số điểm hạn đó cần có thêm các ví dụ trong thực tế để kiểm tra thêm.
2 - “1-Kim” có nghĩa là có 1đh khi không gặp Kim (?).
3 - Dấu * có nghĩa là Gỗ Lựu gặp Lửa mặt trời có thể tốt cũng có thể xấu, từ khoảng -0,25đh đến +0,25đh.
Tạm thời như vậy, vì các số điểm hạn này chưa chắc đã đủ và chính xác, cần được kiểm tra và tìm thêm.
Ở đây chưa động chạm tới điểm hạn tốt mang dấu Âm của các Nạp Âm gặp nhau.
-
VULONG
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 1087
- Tham gia: 22:55, 23/12/09
TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)
3 - Điểm hạn của Nạp Âm khắc nhau
Tổng điểm hạn của can và nạp âm cùng trụ khắc các can hay nạp âm khác có max 2,5đh (điểm hạn), trong đó điểm hạn của can khắc các can khác max 1,5đh, còn nạp âm khắc các nạp âm khác max 2đh, nhưng điểm hạn của nạp âm luôn luôn là hiệu số của tổng số điểm hạn trừ đi điểm hạn mà can cùng trụ đã sử dụng.
Tổng điểm hạn của can và nạp âm cùng trụ khắc các can và nạp âm khác hoàn toàn phụ thuộc vào độ vượng hay suy theo can cùng trụ với nạp âm như sau :
1 - Nếu can vượng ở lưu niên thì tổng số điểm hạn của can và nạp âm cùng trụ khắc các can và nạp âm khác có max 2,5đh.
2 - Nếu can ở tuế vận chỉ vượng ở đại vận thì tổng số điểm hạn của can và nạp âm cùng trụ khắc các can hay nạp âm khác có max 0,75đh (trong đó can có thể sử dụng max 0,5đh).
3 - Nếu can trong tứ trụ được lệnh hay thất lệnh chỉ vượng tại đại vận thì tổng số điểm hạn của can và nạp âm cùng trụ khắc các can hay nạp âm khác có max 1,75đh (trong đó can có thể sử dụng max 1,0đh ?).
4 - Nếu can trong tứ trụ được lệnh mà nhược ở tuế vận thì tổng số điểm hạn của can và nạp âm cùng trụ khắc các can hay nạp âm khác có max 1,00đh.
5 - Nếu can trong tứ trụ thất lệnh còn nhược ở tuế vận thì can và nạp âm cùng trụ không có khả năng khắc các can hay nạp âm khác.
6 - Nạp âm có thể không khắc được các nạp âm khác khi chi của nạp âm bị khắc bởi tứ hành xung (như Tý khắc Ngọ, Dậu khắc Mão, Hợi khắc Tị, Thân khắc Dần).
7 - Điểm hạn của nạp âm khắc với các nạp âm khác bị giảm khoảng 25% nếu can của nó là tranh hợp thật (?).
8 - Nếu can của nạp âm bị khắc bởi ít nhất 1 lực có 1đh thì nạp âm trở thành vô dụng, còn nếu chỉ bởi 1 lực có 0,7đh thì điểm hạn của nạp âm khắc các nạp âm khác có thể bị giảm 75% (?).
9 - Nạp âm là vô dụng khi can của nó bị khắc bởi 4 can, nếu mỗi lực khắc này có ít nhất 0,5đh.
10 - Nếu lửa đỉnh núi không khắc được nước khe núi thì nước khe núi mới khắc được lửa đỉnh núi, mỗi lực này có max 0,5đh (?).
11 - Nếu can và chi của nạp âm đều bị hợp nhưng chỉ có can hay chi của nạp âm hợp với tuế vận thì lực khắc của nạp âm này với các nạp âm khác thường bị giảm 25%đh.
12 - Nếu can và chi của nạp âm đều bị tuế vận hợp thì lực khắc của nạp âm này với các nạp âm khác thường bị giảm 50%đh.
13 - Hóa cục của các chi có thể sinh phù cho các nạp âm cùng trụ, vì vậy tổng lực khắc của nạp âm này với các nạp âm khác được thêm max 0,25đh, dĩ nhiên sau khi thêm số điểm hạn này không được vượt quá tổng điểm hạn của can và nạp âm cùng trụ.
14 - Tại năm sinh (hay chưa vào đại vận?), nạp âm của trụ năm và lưu niên khắc các nạp âm khác bị giảm 50%đh (?).
15 - Nạp âm đại vận hay lưu niên khắc nạp âm tiểu vận bị giảm 75%đh, còn nạp âm tiểu vận khắc nạp âm đại vận hay lưu niên không bị giảm hay bị giảm 50% (?).
16 - Đất trên thành, đất ven đường, đất mái nhà và đất trên tường khắc nước khe núi, mỗi lực có max 0,5đh, riêng đất dịch chuyển khắc nước khe núi có max 0,75đh.
Giải thích: Nước khe núi thực chất bởi 2 phần, phần ở phía trên vẫn còn là xương mù, còn phần ở dưới là phần xương mù đã ngưng tụ thành các hạt nước rơi xuống tạo thành các dòng nước nhỏ chẩy ở vách đá và dưới khe núi. Cho nên đất trên thành, đất trên tường, đất ven đường hay đất mái nhà chỉ khắc được phần nước chẩy ở vách núi và khe núi còn phần xương mù phía trên không khắc được, do vậy chỉ gây ra 0,5đh là hợp lý. Chỉ có đất dịch chuyển, có thể coi như là bụi và dung nham của núi lửa khắc nước khe có 0,75đh (vì là bụi và dung nham của núi lửa dịch chuyển, nên phần bụi khắc được một phần sương mù phía trên nên có thêm 0,25đh).
Còn Lửa đỉnh núi có thể khắc Nước khe núi có 0,5đh ?
17 - Nếu nạp âm của 1 trụ bị khắc nhưng không có điểm hạn thì trụ đó được xem như nó không bị khắc bởi lực khắc này.
18 - Nếu các nạp âm của nước sông và nước suối trong tứ trụ có các can của chúng được lệnh và vượng ở lưu niên hay chúng ở tuế vận mà vượng ở tuế vận thì lực khắc của chúng với các nạp âm khác không bị giảm mặc dù chúng bị khắc bởi các nạp âm khác (?).
19 - Các nạp âm là gỗ khắc kim giá đèn khi can của chúng ở các trạng thái Lộc hay Kình Dương tại lưu niên hoặc các nạp âm này ở trong tứ trụ ở trạng thái Lộc hay Kình Dương của lệnh tháng có max 0,5đh (?). Ngoài 2 trường hợp này chúng khắc kim giá đèn chỉ có max 0,25đh.
20 - …...................................................
Tổng điểm hạn của can và nạp âm cùng trụ khắc các can hay nạp âm khác có max 2,5đh (điểm hạn), trong đó điểm hạn của can khắc các can khác max 1,5đh, còn nạp âm khắc các nạp âm khác max 2đh, nhưng điểm hạn của nạp âm luôn luôn là hiệu số của tổng số điểm hạn trừ đi điểm hạn mà can cùng trụ đã sử dụng.
Tổng điểm hạn của can và nạp âm cùng trụ khắc các can và nạp âm khác hoàn toàn phụ thuộc vào độ vượng hay suy theo can cùng trụ với nạp âm như sau :
1 - Nếu can vượng ở lưu niên thì tổng số điểm hạn của can và nạp âm cùng trụ khắc các can và nạp âm khác có max 2,5đh.
2 - Nếu can ở tuế vận chỉ vượng ở đại vận thì tổng số điểm hạn của can và nạp âm cùng trụ khắc các can hay nạp âm khác có max 0,75đh (trong đó can có thể sử dụng max 0,5đh).
3 - Nếu can trong tứ trụ được lệnh hay thất lệnh chỉ vượng tại đại vận thì tổng số điểm hạn của can và nạp âm cùng trụ khắc các can hay nạp âm khác có max 1,75đh (trong đó can có thể sử dụng max 1,0đh ?).
4 - Nếu can trong tứ trụ được lệnh mà nhược ở tuế vận thì tổng số điểm hạn của can và nạp âm cùng trụ khắc các can hay nạp âm khác có max 1,00đh.
5 - Nếu can trong tứ trụ thất lệnh còn nhược ở tuế vận thì can và nạp âm cùng trụ không có khả năng khắc các can hay nạp âm khác.
6 - Nạp âm có thể không khắc được các nạp âm khác khi chi của nạp âm bị khắc bởi tứ hành xung (như Tý khắc Ngọ, Dậu khắc Mão, Hợi khắc Tị, Thân khắc Dần).
7 - Điểm hạn của nạp âm khắc với các nạp âm khác bị giảm khoảng 25% nếu can của nó là tranh hợp thật (?).
8 - Nếu can của nạp âm bị khắc bởi ít nhất 1 lực có 1đh thì nạp âm trở thành vô dụng, còn nếu chỉ bởi 1 lực có 0,7đh thì điểm hạn của nạp âm khắc các nạp âm khác có thể bị giảm 75% (?).
9 - Nạp âm là vô dụng khi can của nó bị khắc bởi 4 can, nếu mỗi lực khắc này có ít nhất 0,5đh.
10 - Nếu lửa đỉnh núi không khắc được nước khe núi thì nước khe núi mới khắc được lửa đỉnh núi, mỗi lực này có max 0,5đh (?).
11 - Nếu can và chi của nạp âm đều bị hợp nhưng chỉ có can hay chi của nạp âm hợp với tuế vận thì lực khắc của nạp âm này với các nạp âm khác thường bị giảm 25%đh.
12 - Nếu can và chi của nạp âm đều bị tuế vận hợp thì lực khắc của nạp âm này với các nạp âm khác thường bị giảm 50%đh.
13 - Hóa cục của các chi có thể sinh phù cho các nạp âm cùng trụ, vì vậy tổng lực khắc của nạp âm này với các nạp âm khác được thêm max 0,25đh, dĩ nhiên sau khi thêm số điểm hạn này không được vượt quá tổng điểm hạn của can và nạp âm cùng trụ.
14 - Tại năm sinh (hay chưa vào đại vận?), nạp âm của trụ năm và lưu niên khắc các nạp âm khác bị giảm 50%đh (?).
15 - Nạp âm đại vận hay lưu niên khắc nạp âm tiểu vận bị giảm 75%đh, còn nạp âm tiểu vận khắc nạp âm đại vận hay lưu niên không bị giảm hay bị giảm 50% (?).
16 - Đất trên thành, đất ven đường, đất mái nhà và đất trên tường khắc nước khe núi, mỗi lực có max 0,5đh, riêng đất dịch chuyển khắc nước khe núi có max 0,75đh.
Giải thích: Nước khe núi thực chất bởi 2 phần, phần ở phía trên vẫn còn là xương mù, còn phần ở dưới là phần xương mù đã ngưng tụ thành các hạt nước rơi xuống tạo thành các dòng nước nhỏ chẩy ở vách đá và dưới khe núi. Cho nên đất trên thành, đất trên tường, đất ven đường hay đất mái nhà chỉ khắc được phần nước chẩy ở vách núi và khe núi còn phần xương mù phía trên không khắc được, do vậy chỉ gây ra 0,5đh là hợp lý. Chỉ có đất dịch chuyển, có thể coi như là bụi và dung nham của núi lửa khắc nước khe có 0,75đh (vì là bụi và dung nham của núi lửa dịch chuyển, nên phần bụi khắc được một phần sương mù phía trên nên có thêm 0,25đh).
Còn Lửa đỉnh núi có thể khắc Nước khe núi có 0,5đh ?
17 - Nếu nạp âm của 1 trụ bị khắc nhưng không có điểm hạn thì trụ đó được xem như nó không bị khắc bởi lực khắc này.
18 - Nếu các nạp âm của nước sông và nước suối trong tứ trụ có các can của chúng được lệnh và vượng ở lưu niên hay chúng ở tuế vận mà vượng ở tuế vận thì lực khắc của chúng với các nạp âm khác không bị giảm mặc dù chúng bị khắc bởi các nạp âm khác (?).
19 - Các nạp âm là gỗ khắc kim giá đèn khi can của chúng ở các trạng thái Lộc hay Kình Dương tại lưu niên hoặc các nạp âm này ở trong tứ trụ ở trạng thái Lộc hay Kình Dương của lệnh tháng có max 0,5đh (?). Ngoài 2 trường hợp này chúng khắc kim giá đèn chỉ có max 0,25đh.
20 - …...................................................
-
VULONG
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 1087
- Tham gia: 22:55, 23/12/09
TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)
Tôi đang tìm một số vĩ dụ mẫu để đưa vào sách thì phát hiện ra bảng tra các Thần Sát đăng trên đã sai cách nay trên 15 năm rồi mới sợ chứ?
Vì vậy tôi xin đăng lại bảng tra các Thần Sát này như sau :
Bảng tra Thần Sát có -0,25đh (4/1/2026)
Bảng tra Thần Sát có +0,25đh (4/1/2026)

Thành thật xin lỗi mọi người.
Vì vậy tôi xin đăng lại bảng tra các Thần Sát này như sau :
Bảng tra Thần Sát có -0,25đh (4/1/2026)
Bảng tra Thần Sát có +0,25đh (4/1/2026)

Thành thật xin lỗi mọi người.
-
VULONG
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 1087
- Tham gia: 22:55, 23/12/09
TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)
V - Điểm hạn của Thiên Can
A - Điểm hạn của Thiên Can khắc nhau
1 - Các can khắc được các can khác khi hành của chúng khắc được nhau.
2 - Can trong tứ trụ không khắc được can ở tiểu vận và ngược lại.
3 - Can trong hợp không khắc được các can ngoài hợp và ngược lại.
4 - Một can trong tứ trụ hay ở tuế vận vượng ở lưu niên (lấy chi lưu niên làm lệnh của lưu niên) hay can tiểu vận vượng ở tiểu vận (lấy chi của tiểu vận làm lệnh của tiểu vận), nếu nó chỉ khắc một can có cùng dấu hay khác dấu (tức là cùng dấu âm hay cùng dấu dương với nó) thì nó chỉ được sử dụng max là 1đk (điểm khắc), còn nếu nó khắc từ 2 can trở lên cùng dấu, khác dấu thì nó chỉ được sử dụng max là 1,5đk, nhưng nó chỉ có thể gây ra các điểm hạn như sau :
Nếu nó khắc 1 can cùng dấu hay khác dấu thì gây ra max là 1đh (điểm hạn).
Nếu.............2 can, cùng dấu và khác dấu..........................1,4đh.
Nếu.............3................................................................1,3đh.
Nếu.............4 ...............................................................1,2đh.
Nếu.............5 ...............................................................1,1đh.
Nếu.............6 ...............................................................1,0đh.
Nếu nó khắc các can khác dấu thì điểm hạn cho mỗi can khác dấu bị giảm 50%.
5 - Một can ở tuế vận chỉ vượng ở đại vận (lấy chi của đại vận làm lệnh đại vận) thì nó chỉ có max 0,5đk để khắc 1 can và nó chỉ có thể gây ra max 0,5đh, cũng như nó chỉ có max 0,75đk để khắc từ 2 can trở lên và nó chỉ có thể gây ra max 0,75đh.
6 - Các can ở tuế vận mà nhược ở tuế vận (tức nhược cả ở đại vận và lưu niên) thì chúng không có khả năng khắc các can khác.
7 - Các can ở trong tứ trụ được lệnh nhưng nhược ở tuế vận thì chúng chỉ có max 0,25đk để khắc 1 hay nhiều can khác và chúng chỉ gây ra được max 0,25đh, còn nếu chúng thất lệnh và nhược ở tuế vận thì chúng không khắc được các can khác.
8 - Điểm hạn của can đại vận hay lưu niên khắc can tiểu vận bị giảm 50% .
9 - Can tiểu vận thì lấy chính chi tiểu vận làm lệnh tiểu vận để xác định trạng thái vượng hay suy của nó và điểm hạn mà nó khắc can đại vận và can lưu niên được tính như bình thường.
10 - Điểm hạn của can bị khắc với các can khác giảm tỷ lệ thuận theo lực khắc nó.
Ví dụ 1: Bính trong tứ trụ mà vượng ở lưu niên, nếu nó khắc được 1 Canh ở tuế vận thì khi đó Bính mới khắc được các Canh trong tứ trụ, vì vậy các lực khắc này gây ra các điểm hạn như sau :
a - Nếu nó khắc 2 Canh (một Canh ở tuế vận và một Canh ở trong tứ trụ) thì mỗi lực khắc gây ra 1,4.1/2.đh = 0,7đh với các Canh ở gần ; 0,7.1/2đh = 0,35đh với Canh cách 1 ngôi và 0,7.1/4đh = 0,18đh với Canh cách 2 ngôi.
b - Nếu Bính bị Nhâm hay Quý khắc có tổng cộng 0,5đh thì mỗi lực của Bính khắc Canh sẽ bị giảm 50%đh.
c - Nếu Bính bị một hay nhiều Nhâm và Quý khắc tổng cộng có từ 1đh trở lên thì Bính không còn khả năng khắc các can khác.
Ví dụ 2: Nhâm trong tứ trụmà vượng ở lưu niên hợp với Đinh ở gần trong tứ trụ và hợp với Đinh ở tuế hay vận thì tổng lực khắc của Nhâm với 2 Đinh max là 1,5đk nhưng điểm hạn mà Nhâm gây ra cho mỗi Đinh là 1,4.1/2.1/2đh = 0,35đh (giảm ½ do khắc 2 Đinh và giảm thêm ½ do khắc trái dấu).
B - Tính chất và khả năng khắc của thiên can
Các hóa cục chỉ có các chi trong tứ trụ không được tính trong các trường hợp dưới đây (bởi vì chúng không có khả năng tác động lên trên và các can cũng không có khả năng khắc được chúng) và ta quy ước các can chủ khắc nói dưới đây là vượng ở lưu niên (khi không nói tới nó là nhược hay vượng).
1 - Thiên can có khả năng làm Thần dẫn cho các tổ hợp của các địa chi giữa tứ trụ với tuế vận hóa cục, trừ can tiểu vận chỉ làm Thần dẫn cho tổ hợp của chi tiểu vận (kể cả hành sau khi các can này hóa cục khác hành đều là Thần dẫn).
2 - Các can trong tứ trụ thất lệnh và nhược ở tuế vận không có khả năng khắc các hóa cục.
3 - Các can trong tứ trụ được lệnh nhưng nhược ở tuế vận thì chúng có thể khắc mất 25% điểm hạn của hóa cục.
4 - Các can trong tứ trụ chỉ vượng ở đại vận thì chúng có thể khắc mất 50% điểm vượng của các hóa cục và nếu các can này vượng ở lưu niên thì chúng có thể khắc hết điểm hạn của hóa cục.
5 - Các can ở tuế vận và tiểu vận có thể khắc được các hóa cục của các can ở tuế vận và tiểu vận cũng như có thể khắc được các hóa cục cùng hành giữa tứ trụ với tuế vận bởi vì các hóa cục này có khả năng liên kết với nhau và khi đó chúng được xem như một hóa cục, nhưng không khắc được các hóa cục cùng hành chỉ có các can chi trong tứ trụ.
6 - Các can trong tứ trụ không có khả năng khắc được các hóa cục của các can ở tuế vận và tiểu vận với nhau (vì các hóa cục này ở quá cao) nhưng chúng có thể khắc được các hóa cục này nếu có thêm hóa cục cùng hành giữa tứ trụ với tuế vận bởi vì các hóa cục này có khả năng liên kết với nhau và khi đó chúng được xem như một hóa cục.
7 - Các can trong tứ trụ không thể khắc được hóa cục của các chi trong tứ trụ, nhưng nếu can chi cùng trụ trong tứ trụ đồng thời hóa cục cùng hành thì vẫn có thể xem hai hóa cục này liên kết được với nhau mặc dù chỉ có can hợp với tuế vận (?).
8 - Các can trong tứ trụ có thể khắc hết điểm hạn của một hóa cục có 2 hay 3 can chi và khi đó chúng còn có thể khắc được các can có cùng hành với hóa cục này với tổng cộng max 4 can chi (kể cả can chi trong hóa cục).
9 - Các can không khắc được các hóa cục cùng hành có tổng số ít nhất 5 can chi.
10 - Các can trong tứ trụ không khắc được 2 hóa cục cùng hành có ít nhất 4 can chi và các can cùng hành với 2 hóa cục này nếu hành của 2 hóa cục này là kỵ vượng.
11 - Can X là Dụng thần tàng chi có thể bị can Y đại vận khắc cùng dấu khi có thêm can Y trong tứ trụ và có thể cả can Y của lưu niên đều không bị hợp cùng khắc (điểm hạn như bình thường).
12 - ….............................................
C - Can động và điểm hạn của can động
Can động là can chủ khắc hay can bị khắc hoặc bị hợp với tuế vận
1 - Điểm hạn của can động
a - Với các can ở trong tứ trụ thất lệnh :
Nếu các can này đều vượng ở lưu niên thì chúng có điểm hạn đúng bằng điểm hạn hành của chúng.
Nếu chúng chỉ vượng ở đại vận thì chúng có điểm hạn chỉ bằng 50% điểm hạn hành của chúng.
Nếu chúng không vượng ở cả đại vận và lưu niên thì chúng có 0đh.
Các điểm hạn này giảm tỉ lệ thuận theo lực khắc tới các can của chúng.
b - Với các can ở trong tứ trụ được lệnh :
Nếu chúng vượng ở lưu niên thì chúng không có điểm hạn.
Nếu chúng chỉ vượng ở đại vận thì chúng có điểm hạn chỉ bằng 50%đh hành của chúng nhưng phải đổi dấu.
Nếu chúng nhược ở cả tuế và vận thì chúng có điểm hạn đúng bằng điểm hạn hành của chúng nhưng phải đổi dấu.
Các điểm hạn này không bị giảm khi các can của chúng bị khắc.
c - Với các can ở tuế và vận :
Nếu chúng vượng ở lưu niên thì chúng có điểm hạn đúng bằng điểm hạn hành của chúng.
Nếu chúng chỉ vượng ở đại vận thì chúng có điểm hạn chỉ bằng 50%đh hành của chúng.
Nếu chúng nhược cả tuế và vận thì chúng có 0đh.
Các điểm hạn này giảm tỉ lệ thuận theo lực khắc tới các can của chúng.
Chú ý : Can tiểu vận không có điểm hạn này.
D - Điểm hạn của Nhật can và Dụng thần
Quy ước : Can hay chi mang hành dụng thần thì chữ dụng viết bình thường riêng dụng thần chính thì chữ dụng phải viết hoa (Dụng thần).
a - Nhật can và Dụng thần luôn luôn có -1đh tại chi của lưu niên khi chúng vượng ở lưu niên.
b - Nhật can và Dụng thần luôn luôn có +1đh tại chi của lưu niên khi chúng tử, mộ hay tuyệt ở lưu niên.
c - Nhật can và Dụng thần luôn luôn có 0đh tại chi của lưu niên khi chúng suy, bệnh, thai hay dưỡng (thường gọi là hưu tù hay nhược) ở lưu niên.
d - Thân nhược Nhật can có +1đh tại chi đại vận khi nó (nhập) mộ tại chi đại vận (vì khi Thân vượng thì nhập mộ tại đại vận là điều tốt - Thân sẽ bớt vượng).
e - Dụng thần (chính) có +1đh tại chi đại vận khi nó (nhập) mộ tại chi đại vận.
f - Dụng thần (chính) trong tứ trụ ở trạng thái mộ, tử hay tuyệt tại lệnh tháng luôn luôn có 0,5đh.
g - Dụng thần (chính - kể cả là can lộ hay tàng) có +1đh khi nó tàng chi hay không tàng chi mà can hay chi này hợp với tuế vận không hóa hay hóa cục khác hành, có 0đh khi hóa cục này cùng hành với nó.
A - Điểm hạn của Thiên Can khắc nhau
1 - Các can khắc được các can khác khi hành của chúng khắc được nhau.
2 - Can trong tứ trụ không khắc được can ở tiểu vận và ngược lại.
3 - Can trong hợp không khắc được các can ngoài hợp và ngược lại.
4 - Một can trong tứ trụ hay ở tuế vận vượng ở lưu niên (lấy chi lưu niên làm lệnh của lưu niên) hay can tiểu vận vượng ở tiểu vận (lấy chi của tiểu vận làm lệnh của tiểu vận), nếu nó chỉ khắc một can có cùng dấu hay khác dấu (tức là cùng dấu âm hay cùng dấu dương với nó) thì nó chỉ được sử dụng max là 1đk (điểm khắc), còn nếu nó khắc từ 2 can trở lên cùng dấu, khác dấu thì nó chỉ được sử dụng max là 1,5đk, nhưng nó chỉ có thể gây ra các điểm hạn như sau :
Nếu nó khắc 1 can cùng dấu hay khác dấu thì gây ra max là 1đh (điểm hạn).
Nếu.............2 can, cùng dấu và khác dấu..........................1,4đh.
Nếu.............3................................................................1,3đh.
Nếu.............4 ...............................................................1,2đh.
Nếu.............5 ...............................................................1,1đh.
Nếu.............6 ...............................................................1,0đh.
Nếu nó khắc các can khác dấu thì điểm hạn cho mỗi can khác dấu bị giảm 50%.
5 - Một can ở tuế vận chỉ vượng ở đại vận (lấy chi của đại vận làm lệnh đại vận) thì nó chỉ có max 0,5đk để khắc 1 can và nó chỉ có thể gây ra max 0,5đh, cũng như nó chỉ có max 0,75đk để khắc từ 2 can trở lên và nó chỉ có thể gây ra max 0,75đh.
6 - Các can ở tuế vận mà nhược ở tuế vận (tức nhược cả ở đại vận và lưu niên) thì chúng không có khả năng khắc các can khác.
7 - Các can ở trong tứ trụ được lệnh nhưng nhược ở tuế vận thì chúng chỉ có max 0,25đk để khắc 1 hay nhiều can khác và chúng chỉ gây ra được max 0,25đh, còn nếu chúng thất lệnh và nhược ở tuế vận thì chúng không khắc được các can khác.
8 - Điểm hạn của can đại vận hay lưu niên khắc can tiểu vận bị giảm 50% .
9 - Can tiểu vận thì lấy chính chi tiểu vận làm lệnh tiểu vận để xác định trạng thái vượng hay suy của nó và điểm hạn mà nó khắc can đại vận và can lưu niên được tính như bình thường.
10 - Điểm hạn của can bị khắc với các can khác giảm tỷ lệ thuận theo lực khắc nó.
Ví dụ 1: Bính trong tứ trụ mà vượng ở lưu niên, nếu nó khắc được 1 Canh ở tuế vận thì khi đó Bính mới khắc được các Canh trong tứ trụ, vì vậy các lực khắc này gây ra các điểm hạn như sau :
a - Nếu nó khắc 2 Canh (một Canh ở tuế vận và một Canh ở trong tứ trụ) thì mỗi lực khắc gây ra 1,4.1/2.đh = 0,7đh với các Canh ở gần ; 0,7.1/2đh = 0,35đh với Canh cách 1 ngôi và 0,7.1/4đh = 0,18đh với Canh cách 2 ngôi.
b - Nếu Bính bị Nhâm hay Quý khắc có tổng cộng 0,5đh thì mỗi lực của Bính khắc Canh sẽ bị giảm 50%đh.
c - Nếu Bính bị một hay nhiều Nhâm và Quý khắc tổng cộng có từ 1đh trở lên thì Bính không còn khả năng khắc các can khác.
Ví dụ 2: Nhâm trong tứ trụmà vượng ở lưu niên hợp với Đinh ở gần trong tứ trụ và hợp với Đinh ở tuế hay vận thì tổng lực khắc của Nhâm với 2 Đinh max là 1,5đk nhưng điểm hạn mà Nhâm gây ra cho mỗi Đinh là 1,4.1/2.1/2đh = 0,35đh (giảm ½ do khắc 2 Đinh và giảm thêm ½ do khắc trái dấu).
B - Tính chất và khả năng khắc của thiên can
Các hóa cục chỉ có các chi trong tứ trụ không được tính trong các trường hợp dưới đây (bởi vì chúng không có khả năng tác động lên trên và các can cũng không có khả năng khắc được chúng) và ta quy ước các can chủ khắc nói dưới đây là vượng ở lưu niên (khi không nói tới nó là nhược hay vượng).
1 - Thiên can có khả năng làm Thần dẫn cho các tổ hợp của các địa chi giữa tứ trụ với tuế vận hóa cục, trừ can tiểu vận chỉ làm Thần dẫn cho tổ hợp của chi tiểu vận (kể cả hành sau khi các can này hóa cục khác hành đều là Thần dẫn).
2 - Các can trong tứ trụ thất lệnh và nhược ở tuế vận không có khả năng khắc các hóa cục.
3 - Các can trong tứ trụ được lệnh nhưng nhược ở tuế vận thì chúng có thể khắc mất 25% điểm hạn của hóa cục.
4 - Các can trong tứ trụ chỉ vượng ở đại vận thì chúng có thể khắc mất 50% điểm vượng của các hóa cục và nếu các can này vượng ở lưu niên thì chúng có thể khắc hết điểm hạn của hóa cục.
5 - Các can ở tuế vận và tiểu vận có thể khắc được các hóa cục của các can ở tuế vận và tiểu vận cũng như có thể khắc được các hóa cục cùng hành giữa tứ trụ với tuế vận bởi vì các hóa cục này có khả năng liên kết với nhau và khi đó chúng được xem như một hóa cục, nhưng không khắc được các hóa cục cùng hành chỉ có các can chi trong tứ trụ.
6 - Các can trong tứ trụ không có khả năng khắc được các hóa cục của các can ở tuế vận và tiểu vận với nhau (vì các hóa cục này ở quá cao) nhưng chúng có thể khắc được các hóa cục này nếu có thêm hóa cục cùng hành giữa tứ trụ với tuế vận bởi vì các hóa cục này có khả năng liên kết với nhau và khi đó chúng được xem như một hóa cục.
7 - Các can trong tứ trụ không thể khắc được hóa cục của các chi trong tứ trụ, nhưng nếu can chi cùng trụ trong tứ trụ đồng thời hóa cục cùng hành thì vẫn có thể xem hai hóa cục này liên kết được với nhau mặc dù chỉ có can hợp với tuế vận (?).
8 - Các can trong tứ trụ có thể khắc hết điểm hạn của một hóa cục có 2 hay 3 can chi và khi đó chúng còn có thể khắc được các can có cùng hành với hóa cục này với tổng cộng max 4 can chi (kể cả can chi trong hóa cục).
9 - Các can không khắc được các hóa cục cùng hành có tổng số ít nhất 5 can chi.
10 - Các can trong tứ trụ không khắc được 2 hóa cục cùng hành có ít nhất 4 can chi và các can cùng hành với 2 hóa cục này nếu hành của 2 hóa cục này là kỵ vượng.
11 - Can X là Dụng thần tàng chi có thể bị can Y đại vận khắc cùng dấu khi có thêm can Y trong tứ trụ và có thể cả can Y của lưu niên đều không bị hợp cùng khắc (điểm hạn như bình thường).
12 - ….............................................
C - Can động và điểm hạn của can động
Can động là can chủ khắc hay can bị khắc hoặc bị hợp với tuế vận
1 - Điểm hạn của can động
a - Với các can ở trong tứ trụ thất lệnh :
Nếu các can này đều vượng ở lưu niên thì chúng có điểm hạn đúng bằng điểm hạn hành của chúng.
Nếu chúng chỉ vượng ở đại vận thì chúng có điểm hạn chỉ bằng 50% điểm hạn hành của chúng.
Nếu chúng không vượng ở cả đại vận và lưu niên thì chúng có 0đh.
Các điểm hạn này giảm tỉ lệ thuận theo lực khắc tới các can của chúng.
b - Với các can ở trong tứ trụ được lệnh :
Nếu chúng vượng ở lưu niên thì chúng không có điểm hạn.
Nếu chúng chỉ vượng ở đại vận thì chúng có điểm hạn chỉ bằng 50%đh hành của chúng nhưng phải đổi dấu.
Nếu chúng nhược ở cả tuế và vận thì chúng có điểm hạn đúng bằng điểm hạn hành của chúng nhưng phải đổi dấu.
Các điểm hạn này không bị giảm khi các can của chúng bị khắc.
c - Với các can ở tuế và vận :
Nếu chúng vượng ở lưu niên thì chúng có điểm hạn đúng bằng điểm hạn hành của chúng.
Nếu chúng chỉ vượng ở đại vận thì chúng có điểm hạn chỉ bằng 50%đh hành của chúng.
Nếu chúng nhược cả tuế và vận thì chúng có 0đh.
Các điểm hạn này giảm tỉ lệ thuận theo lực khắc tới các can của chúng.
Chú ý : Can tiểu vận không có điểm hạn này.
D - Điểm hạn của Nhật can và Dụng thần
Quy ước : Can hay chi mang hành dụng thần thì chữ dụng viết bình thường riêng dụng thần chính thì chữ dụng phải viết hoa (Dụng thần).
a - Nhật can và Dụng thần luôn luôn có -1đh tại chi của lưu niên khi chúng vượng ở lưu niên.
b - Nhật can và Dụng thần luôn luôn có +1đh tại chi của lưu niên khi chúng tử, mộ hay tuyệt ở lưu niên.
c - Nhật can và Dụng thần luôn luôn có 0đh tại chi của lưu niên khi chúng suy, bệnh, thai hay dưỡng (thường gọi là hưu tù hay nhược) ở lưu niên.
d - Thân nhược Nhật can có +1đh tại chi đại vận khi nó (nhập) mộ tại chi đại vận (vì khi Thân vượng thì nhập mộ tại đại vận là điều tốt - Thân sẽ bớt vượng).
e - Dụng thần (chính) có +1đh tại chi đại vận khi nó (nhập) mộ tại chi đại vận.
f - Dụng thần (chính) trong tứ trụ ở trạng thái mộ, tử hay tuyệt tại lệnh tháng luôn luôn có 0,5đh.
g - Dụng thần (chính - kể cả là can lộ hay tàng) có +1đh khi nó tàng chi hay không tàng chi mà can hay chi này hợp với tuế vận không hóa hay hóa cục khác hành, có 0đh khi hóa cục này cùng hành với nó.
-
VULONG
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 1087
- Tham gia: 22:55, 23/12/09
TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)
Bài viết có chủ đề : “ 3 - Điểm hạn của Nạp Âm khắc nhau”
Có câu 2, 3, 4, 13 và 15 viết sai là:
2 - Nếu can ở tuế vận chỉ vượng ở đại vận thì tổng số điểm hạn của can và nạp âm cùng trụ khắc các can hay nạp âm khác có max 0,75đh (trong đó can có thể sử dụng max 0,5đh).
3 - Nếu can trong tứ trụ được lệnh hay thất lệnh chỉ vượng tại đại vận thì tổng số điểm hạn của can và nạp âm cùng trụ khắc các can hay nạp âm khác có max 1,75đh (trong đó can có thể sử dụng max 1,0đh ?).
4 - Nếu can trong tứ trụ được lệnh mà nhược ở tuế vận thì tổng số điểm hạn của can và nạp âm cùng trụ khắc các can hay nạp âm khác có max 1,00đh.
“13 - Hóa cục của các chi có thể sinh phù cho các nạp âm cùng trụ, vì vậy tổng lực khắc của nạp âm này với các nạp âm khác được thêm max 0,25đh, dĩ nhiên sau khi thêm số điểm hạn này không được vượt quá tổng điểm hạn của can và nạp âm cùng trụ.
15 - Nạp âm đại vận hay lưu niên khắc nạp âm tiểu vận bị giảm 75%đh, còn nạp âm tiểu vận khắc nạp âm đại vận hay lưu niên không bị giảm hay bị giảm 50% (?)”.
Xin mọi người sửa giúp lại là :
2 - Nếu can ở tuế vận chỉ vượng ở đại vận thì tổng số điểm hạn của can và nạp âm cùng trụ khắc các can hay nạp âm khác có max 1,5đh (trong đó can có thể sử dụng max 1đh ?).
3 - Nếu can trong tứ trụ được lệnh hay thất lệnh chỉ vượng tại đại vận thì tổng số điểm hạn của can và nạp âm cùng trụ khắc các can hay nạp âm khác có max 1,75đh (trong đó can có thể sử dụng max 0,5đh ?).
4 - Nếu can trong tứ trụ được lệnh mà nhược ở tuế vận thì tổng số điểm hạn của can và nạp âm cùng trụ khắc các can hay nạp âm khác có max 1,00đh (trong đó can có thể sử dụng max 0,25đh ?).
13 - Chi hay hóa cục của chi này có thể sinh cho hành của Nạp âm cùng trụ max 0,25đh để bù vào số điểm hạn của Nạp âm này bị khắc mất khi khắc các Nạp âm khác, dĩ nhiên điểm hạn sau khi thêm không cao hơn điểm hạn mà Nạp âm này được sử dụng.
15 - Nạp âm đại vận hay lưu niên khắc nạp âm tiểu vận bị giảm 75%đh, còn nạp âm tiểu vận khắc nạp âm đại vận hay lưu niên không bị giảm”.
Thành thật xin lỗi mọi người.
Có câu 2, 3, 4, 13 và 15 viết sai là:
2 - Nếu can ở tuế vận chỉ vượng ở đại vận thì tổng số điểm hạn của can và nạp âm cùng trụ khắc các can hay nạp âm khác có max 0,75đh (trong đó can có thể sử dụng max 0,5đh).
3 - Nếu can trong tứ trụ được lệnh hay thất lệnh chỉ vượng tại đại vận thì tổng số điểm hạn của can và nạp âm cùng trụ khắc các can hay nạp âm khác có max 1,75đh (trong đó can có thể sử dụng max 1,0đh ?).
4 - Nếu can trong tứ trụ được lệnh mà nhược ở tuế vận thì tổng số điểm hạn của can và nạp âm cùng trụ khắc các can hay nạp âm khác có max 1,00đh.
“13 - Hóa cục của các chi có thể sinh phù cho các nạp âm cùng trụ, vì vậy tổng lực khắc của nạp âm này với các nạp âm khác được thêm max 0,25đh, dĩ nhiên sau khi thêm số điểm hạn này không được vượt quá tổng điểm hạn của can và nạp âm cùng trụ.
15 - Nạp âm đại vận hay lưu niên khắc nạp âm tiểu vận bị giảm 75%đh, còn nạp âm tiểu vận khắc nạp âm đại vận hay lưu niên không bị giảm hay bị giảm 50% (?)”.
Xin mọi người sửa giúp lại là :
2 - Nếu can ở tuế vận chỉ vượng ở đại vận thì tổng số điểm hạn của can và nạp âm cùng trụ khắc các can hay nạp âm khác có max 1,5đh (trong đó can có thể sử dụng max 1đh ?).
3 - Nếu can trong tứ trụ được lệnh hay thất lệnh chỉ vượng tại đại vận thì tổng số điểm hạn của can và nạp âm cùng trụ khắc các can hay nạp âm khác có max 1,75đh (trong đó can có thể sử dụng max 0,5đh ?).
4 - Nếu can trong tứ trụ được lệnh mà nhược ở tuế vận thì tổng số điểm hạn của can và nạp âm cùng trụ khắc các can hay nạp âm khác có max 1,00đh (trong đó can có thể sử dụng max 0,25đh ?).
13 - Chi hay hóa cục của chi này có thể sinh cho hành của Nạp âm cùng trụ max 0,25đh để bù vào số điểm hạn của Nạp âm này bị khắc mất khi khắc các Nạp âm khác, dĩ nhiên điểm hạn sau khi thêm không cao hơn điểm hạn mà Nạp âm này được sử dụng.
15 - Nạp âm đại vận hay lưu niên khắc nạp âm tiểu vận bị giảm 75%đh, còn nạp âm tiểu vận khắc nạp âm đại vận hay lưu niên không bị giảm”.
Thành thật xin lỗi mọi người.
Sửa lần cuối bởi VULONG vào lúc 14:58, 09/01/26 với 7 lần sửa.
-
VULONG
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 1087
- Tham gia: 22:55, 23/12/09
TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)
VI - Điểm hạn của địa chi
Theo “Phương Pháp Tính Điểm Hạn” này thì chi đại vận ở trạng thái động đầu tiên, vì vậy nó có thể tác động (như xung, khắc, hình, hại, hợp) với các chi khác đầu tiên (như tác động tới chi trong tứ trụ, thái tuế và tiểu vận) nhưng không có chiều ngược lại, sau đó mới đến các chi trong tứ trụ và chi tiểu vận tác động tới chi lưu niên, cuối cùng mới là Thái tuế (chi của lưu niên) tác động tới tiểu vận và các chi trong tứ trụ.
Khi chi đại vận xung hay khắc tới các chi trong tứ trụ thì khi đó các chi trong tứ trụ giống chi đại vận mới có thể xung hay khắc với các chi này.
Ví dụ : Chi đại vận là Dậu khắc chi Mão trong tứ trụ thì khi đó chi Dậu trong tứ trụ (nếu có) mới khắc được chi Mão này.
Chi đại vận là Dần (hay Tuất) xung Thân (hay Thìn) trong tứ trụ thì khi đó Dần (hay Tuất) trong tứ trụ mới xung được Thân (hay Thìn) này.
Khi chi đại vận hợp hóa hay không hóa cục thì các chi khác vẫn có khả năng xung hay khắc nó (thuộc tứ hành xung) nhưng không gây ra điểm hạn nếu phá được tổ hợp này.
Quy ước từ : Xung phá ở đây chính là Tứ hành xung.
1 - Điểm hạn của địa chi
1a - Các chi động trong tứ trụ hay giữa tứ trụ với tuế vận xung phánhau gần cũng như chi của đại vận xung phá với chi của lưu niên (thái tuế) mỗi lực có 0,3đh nếu chúng không là Thổ, và 0,15đh nếu chúng là thổ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi).
2a - Chi đại vận xung phá với chi tiểu vận chỉ có 0,15đv nếu chúng không là Thổ và là 0,07đh nếu chúng là Thổ (tức bị giảm 50%đh)
3a - Các chi trong tứ trụ xung phá nhau điểm hạn bị giảm 50% nếu chúng cách nhau 1 ngôi và giảm 75% nếu chúng cách nhau 2 ngôi.
4a - Riêng Thái tuế (chi của lưu niên) bị các chi khác (kể cả chi tiểu vận) khắc, mỗi lực có thêm 1đh, còn Thái tuế bị xung (kể cả các chi là Thổ), mỗi lực có thêm 0,5đh.
5a - Riêng lệnh tháng (chi của trụ tháng) bị các chi khác xung phá gần có thêm 0,25đ nhưng chỉ làm cho chi tháng hình, hại các chi khác mỗi lực giảm 0,13đh.
Chú ý : Các lực xung phá gây ra các điểm hạn này không liên quan đến điểm vượng của chúng.
6a - Lực khắc ngũ hành (ngoài lực xung phá) của chi đại vận với các chi trong Tứ Trụ không gây ra điểm hạn nhưng có tác dụng ở một mức độ nào đó tốt hay xấu cho mệnh cục.
2 - Các lực xung phá hay hợp của các địa chi
Ở đây các chi không cần phải động và các lực này chỉ để xét khả năng tranh hay phá hợp của các địa chi. Các lực này hoàn toàn phụ thuộc vào độ vượng của chúng ở lưu niên (năm cần dự đoán). Riêng lực xung phá ở đây (tính theo điểm vượng trung bình của các chi đó) chỉ xét xung phá với Lục hợp và Bán hợp, không xét đến xung phá với tam hợp hay tam hội.
Các chi trong tứ trụ hay chi tiểu vận với chi ở lưu niên và chi đại vận, cũng như chi đại vận với chi lưu niên, chúng đều được xem là gần nhau.
1a - Lực xung phá hay hợp của các địa chi trong tứ trụ từ khi mới sinh (khi tuế vận được xem như chưa xuất hiện) được xác định bởi chính điểm vượng của chúng tại lệnh tháng (chi của trụ tháng).
2a - Lực xung phá hay hợp của các địa chi tại một năm (lưu niên) bất kỳ được xác định bởi điểm vượng trung bình của chúng ở lưu niên đó như sau :
Với các chi trong tứ trụ chính là điểm vượng trung bình của chúng tại chi tháng (lệnh tháng), chi đại vận và 2 lần tại chi của lưu niên.
Với chi tiểu vận chính là điểm vượng trung bình của chúng tại chi tiểu vận, chi đại vận và 2 lần tại chi của lưu niên.
Với chi đại vận chính là điểm vượng trung bình của chúng tại chi đại vận và 2 lần tại chi của lưu niên.
Với chi lưu niên chính là điểm vượng trung bình của chúng tại chi đại vận và 2 lần tại chi của lưu niên.
a - Lực hợp của 1 chi với y chi bị giảm :
a1 - (y - 1)/y.đv nếu nó hợp với mỗi chi gần.
a2 - 1/3.(y - 1)/y.đv nếu nó hợp với chi cách 1 ngôi.
a3 - 1/2.(y - 1)/y.đv ..................................2 ngôi.
b - Lực xung phá :
Lực của 1 chi xung phá với một chi hay y chi bị hợp thì lực xung phá (điểm vượng) này không bị giảm, nó chỉ bị giảm 1/3đv của nó nếu nó xung phá với chi cách 1 ngôi, bị giảm 1/2đv của nó nếu nó xung phá với chi cách 2 ngôi, ngoài ra lực này còn bị giảm thêm 2/3đv của nó nếu nó xung phá với chi cách 1 hay 2 ngôi (như Hợi ở trụ giờ hợp với tuế vận, lúc đó phải tính lực hợp của Dần hay Mão ở tuế vận với Hợi) mà nó phải sinh, khắc (hay bị khắc) với chi ở giữa nó với chi bị xung phá (chỉ xét về ngũ hành) trong tứ trụ giữa chúng (kể cả chi này bị hợp nhưng không hóa cục).
Ví dụ : Chi Hợi tại trụ ngày hợp với chi Dần hay Mão ở trụ giờ hóa hay không hóa cục. Mà có chi Tị tại trụ năm (không bị hợp với tuế vận...) thì dĩ nhiên muốn phá được tổ hợp này thì lực xung phá của Tị với Hợi (ở đây chỉ cách 1 ngôi) ít nhất phải bằng lực hợp của Dần hay Mão với Hợi. Lực xung của Tị với Hợi chính là điểm vượng của Tị tại lệnh tháng, còn lực hợp của Dần hay Mão với Hợi chính là điểm vượng của nó cũng tại lệnh tháng. Còn nếu giữa Tị với Hợi có chi trụ tháng là Thìn hay Tuất thì lực xung phá của Tị với tợi đầu tiên giảm 1/3đv của nó vì cách 1 ngôi, còn bị giảm thêm 2/3đv của nó vì Tị (Hỏa) mang hành sinh cho Thìn hay Tuất (Thổ). Nếu chi tháng mang hành Kim chẳng hạn thì Tị phải khắc Kim nên lực xung phá của Tị với Hợi cũng bị giảm thêm 2/3đv của nó...
Nói chung giữa 2 chi xung phá với nhau cách 1 hay 2 ngôi mà xuất hiện chi mang hành như trên (kể cả trong hợp - với tuế vận...) thì lực xung phá đều bị giảm thêm 2/3đv của nó.
b1 - Nếu các chi xung phá được hóa cục thì cũng phá được tổ hợp của nó (còn các TKĐX có thể phá được cả cục và hợp hoặc vẫn còn hợp).
b2 - Bán hợp hay lục hợp trong tứ trụ không thể hợp được với nhau khi 2 chi của nó đều bị chi bên cạnh trong tứ Trụ xung phá.
b3 - Tý, Ngọ, Mão và Dậu xung phá gần với nhau luôn luôn phá được bán hợp hay lục hợp hoặc tam hợp.
b4 - Tý, Ngọ, Mão và Dậu giữa tiểu vận và tuế vận xung phá với nhau chỉ phá được bán hợp, lục hợp hay tam hợp có 3 chi, trừ khi chi tiểu vận tử, mộ hay tuyệt ở tuế vận (?).
b5 - Nếu Mão hay Dậu ở tiểu vận mà tử, mộ hay tuyệt ở tuế vận thì nó xung phá tuế vận phá được các bán hợp hay lục hợp chỉ khi có thêm TKĐX với trụ có chi đó (?).
b6 - Tý, Ngọ, Mão và Dậu xung phá nhau gần trong tứ trụ chỉ phá được tam hội ngoài tứ trụ có 3 chi (bởi vì lực hợp của nó chỉ tương đương với lực hợp của tam hợp trong tứ trụ có 3 chi) chỉ khi chi trong tam hội là chi bị khắc.
b7 - Tý, Ngọ, Mão và Dậu xung phá gần nhau trong tứ trụ phá được tam hợp trong hay ngoài tứ trụ có 3 hay 4 chi, còn nếu chúng xung phá gần nhau giữa tứ trụ với tuế vận hay giữa lưu niên với đại vận thì chúng chỉ phá được tam hợp ngoài Tứ Trụ có 3 chi nếu chi trong tam hợp là chi bị khắc.
b8 - Tý, Ngọ, Mão và Dậu xung phá nhau cách 1 hay 2 ngôi trong tứ trụ không phá được tam hợp hay tam hội nhưng phá được bán hợp hay lục hợp khi lực xung phá của nó không nhỏ hơn lực hợp.
b9 - Tam hội hay tam hợp ngoài Tứ Trụ có 3 chi không hóa có thể bị phá khi có ít nhất một trụ của nó bị TKĐX và có thêm ít nhất 2 chi của nó bị xung phá gần (?).
b10 - .................................................... ?
Theo “Phương Pháp Tính Điểm Hạn” này thì chi đại vận ở trạng thái động đầu tiên, vì vậy nó có thể tác động (như xung, khắc, hình, hại, hợp) với các chi khác đầu tiên (như tác động tới chi trong tứ trụ, thái tuế và tiểu vận) nhưng không có chiều ngược lại, sau đó mới đến các chi trong tứ trụ và chi tiểu vận tác động tới chi lưu niên, cuối cùng mới là Thái tuế (chi của lưu niên) tác động tới tiểu vận và các chi trong tứ trụ.
Khi chi đại vận xung hay khắc tới các chi trong tứ trụ thì khi đó các chi trong tứ trụ giống chi đại vận mới có thể xung hay khắc với các chi này.
Ví dụ : Chi đại vận là Dậu khắc chi Mão trong tứ trụ thì khi đó chi Dậu trong tứ trụ (nếu có) mới khắc được chi Mão này.
Chi đại vận là Dần (hay Tuất) xung Thân (hay Thìn) trong tứ trụ thì khi đó Dần (hay Tuất) trong tứ trụ mới xung được Thân (hay Thìn) này.
Khi chi đại vận hợp hóa hay không hóa cục thì các chi khác vẫn có khả năng xung hay khắc nó (thuộc tứ hành xung) nhưng không gây ra điểm hạn nếu phá được tổ hợp này.
Quy ước từ : Xung phá ở đây chính là Tứ hành xung.
1 - Điểm hạn của địa chi
1a - Các chi động trong tứ trụ hay giữa tứ trụ với tuế vận xung phánhau gần cũng như chi của đại vận xung phá với chi của lưu niên (thái tuế) mỗi lực có 0,3đh nếu chúng không là Thổ, và 0,15đh nếu chúng là thổ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi).
2a - Chi đại vận xung phá với chi tiểu vận chỉ có 0,15đv nếu chúng không là Thổ và là 0,07đh nếu chúng là Thổ (tức bị giảm 50%đh)
3a - Các chi trong tứ trụ xung phá nhau điểm hạn bị giảm 50% nếu chúng cách nhau 1 ngôi và giảm 75% nếu chúng cách nhau 2 ngôi.
4a - Riêng Thái tuế (chi của lưu niên) bị các chi khác (kể cả chi tiểu vận) khắc, mỗi lực có thêm 1đh, còn Thái tuế bị xung (kể cả các chi là Thổ), mỗi lực có thêm 0,5đh.
5a - Riêng lệnh tháng (chi của trụ tháng) bị các chi khác xung phá gần có thêm 0,25đ nhưng chỉ làm cho chi tháng hình, hại các chi khác mỗi lực giảm 0,13đh.
Chú ý : Các lực xung phá gây ra các điểm hạn này không liên quan đến điểm vượng của chúng.
6a - Lực khắc ngũ hành (ngoài lực xung phá) của chi đại vận với các chi trong Tứ Trụ không gây ra điểm hạn nhưng có tác dụng ở một mức độ nào đó tốt hay xấu cho mệnh cục.
2 - Các lực xung phá hay hợp của các địa chi
Ở đây các chi không cần phải động và các lực này chỉ để xét khả năng tranh hay phá hợp của các địa chi. Các lực này hoàn toàn phụ thuộc vào độ vượng của chúng ở lưu niên (năm cần dự đoán). Riêng lực xung phá ở đây (tính theo điểm vượng trung bình của các chi đó) chỉ xét xung phá với Lục hợp và Bán hợp, không xét đến xung phá với tam hợp hay tam hội.
Các chi trong tứ trụ hay chi tiểu vận với chi ở lưu niên và chi đại vận, cũng như chi đại vận với chi lưu niên, chúng đều được xem là gần nhau.
1a - Lực xung phá hay hợp của các địa chi trong tứ trụ từ khi mới sinh (khi tuế vận được xem như chưa xuất hiện) được xác định bởi chính điểm vượng của chúng tại lệnh tháng (chi của trụ tháng).
2a - Lực xung phá hay hợp của các địa chi tại một năm (lưu niên) bất kỳ được xác định bởi điểm vượng trung bình của chúng ở lưu niên đó như sau :
Với các chi trong tứ trụ chính là điểm vượng trung bình của chúng tại chi tháng (lệnh tháng), chi đại vận và 2 lần tại chi của lưu niên.
Với chi tiểu vận chính là điểm vượng trung bình của chúng tại chi tiểu vận, chi đại vận và 2 lần tại chi của lưu niên.
Với chi đại vận chính là điểm vượng trung bình của chúng tại chi đại vận và 2 lần tại chi của lưu niên.
Với chi lưu niên chính là điểm vượng trung bình của chúng tại chi đại vận và 2 lần tại chi của lưu niên.
a - Lực hợp của 1 chi với y chi bị giảm :
a1 - (y - 1)/y.đv nếu nó hợp với mỗi chi gần.
a2 - 1/3.(y - 1)/y.đv nếu nó hợp với chi cách 1 ngôi.
a3 - 1/2.(y - 1)/y.đv ..................................2 ngôi.
b - Lực xung phá :
Lực của 1 chi xung phá với một chi hay y chi bị hợp thì lực xung phá (điểm vượng) này không bị giảm, nó chỉ bị giảm 1/3đv của nó nếu nó xung phá với chi cách 1 ngôi, bị giảm 1/2đv của nó nếu nó xung phá với chi cách 2 ngôi, ngoài ra lực này còn bị giảm thêm 2/3đv của nó nếu nó xung phá với chi cách 1 hay 2 ngôi (như Hợi ở trụ giờ hợp với tuế vận, lúc đó phải tính lực hợp của Dần hay Mão ở tuế vận với Hợi) mà nó phải sinh, khắc (hay bị khắc) với chi ở giữa nó với chi bị xung phá (chỉ xét về ngũ hành) trong tứ trụ giữa chúng (kể cả chi này bị hợp nhưng không hóa cục).
Ví dụ : Chi Hợi tại trụ ngày hợp với chi Dần hay Mão ở trụ giờ hóa hay không hóa cục. Mà có chi Tị tại trụ năm (không bị hợp với tuế vận...) thì dĩ nhiên muốn phá được tổ hợp này thì lực xung phá của Tị với Hợi (ở đây chỉ cách 1 ngôi) ít nhất phải bằng lực hợp của Dần hay Mão với Hợi. Lực xung của Tị với Hợi chính là điểm vượng của Tị tại lệnh tháng, còn lực hợp của Dần hay Mão với Hợi chính là điểm vượng của nó cũng tại lệnh tháng. Còn nếu giữa Tị với Hợi có chi trụ tháng là Thìn hay Tuất thì lực xung phá của Tị với tợi đầu tiên giảm 1/3đv của nó vì cách 1 ngôi, còn bị giảm thêm 2/3đv của nó vì Tị (Hỏa) mang hành sinh cho Thìn hay Tuất (Thổ). Nếu chi tháng mang hành Kim chẳng hạn thì Tị phải khắc Kim nên lực xung phá của Tị với Hợi cũng bị giảm thêm 2/3đv của nó...
Nói chung giữa 2 chi xung phá với nhau cách 1 hay 2 ngôi mà xuất hiện chi mang hành như trên (kể cả trong hợp - với tuế vận...) thì lực xung phá đều bị giảm thêm 2/3đv của nó.
b1 - Nếu các chi xung phá được hóa cục thì cũng phá được tổ hợp của nó (còn các TKĐX có thể phá được cả cục và hợp hoặc vẫn còn hợp).
b2 - Bán hợp hay lục hợp trong tứ trụ không thể hợp được với nhau khi 2 chi của nó đều bị chi bên cạnh trong tứ Trụ xung phá.
b3 - Tý, Ngọ, Mão và Dậu xung phá gần với nhau luôn luôn phá được bán hợp hay lục hợp hoặc tam hợp.
b4 - Tý, Ngọ, Mão và Dậu giữa tiểu vận và tuế vận xung phá với nhau chỉ phá được bán hợp, lục hợp hay tam hợp có 3 chi, trừ khi chi tiểu vận tử, mộ hay tuyệt ở tuế vận (?).
b5 - Nếu Mão hay Dậu ở tiểu vận mà tử, mộ hay tuyệt ở tuế vận thì nó xung phá tuế vận phá được các bán hợp hay lục hợp chỉ khi có thêm TKĐX với trụ có chi đó (?).
b6 - Tý, Ngọ, Mão và Dậu xung phá nhau gần trong tứ trụ chỉ phá được tam hội ngoài tứ trụ có 3 chi (bởi vì lực hợp của nó chỉ tương đương với lực hợp của tam hợp trong tứ trụ có 3 chi) chỉ khi chi trong tam hội là chi bị khắc.
b7 - Tý, Ngọ, Mão và Dậu xung phá gần nhau trong tứ trụ phá được tam hợp trong hay ngoài tứ trụ có 3 hay 4 chi, còn nếu chúng xung phá gần nhau giữa tứ trụ với tuế vận hay giữa lưu niên với đại vận thì chúng chỉ phá được tam hợp ngoài Tứ Trụ có 3 chi nếu chi trong tam hợp là chi bị khắc.
b8 - Tý, Ngọ, Mão và Dậu xung phá nhau cách 1 hay 2 ngôi trong tứ trụ không phá được tam hợp hay tam hội nhưng phá được bán hợp hay lục hợp khi lực xung phá của nó không nhỏ hơn lực hợp.
b9 - Tam hội hay tam hợp ngoài Tứ Trụ có 3 chi không hóa có thể bị phá khi có ít nhất một trụ của nó bị TKĐX và có thêm ít nhất 2 chi của nó bị xung phá gần (?).
b10 - .................................................... ?
Đang trực tuyến
Đang xem chuyên mục này: Claude [Bot], trandangphuc và 0 khách.