“Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Trao đổi kiến thức về tứ trụ (tử bình, bát tự)
Nội qui chuyên mục
Đây là chuyên mục trao đổi kiến thức về tứ trụ (bát tự, tử bình) dành cho thành viên chính thức. Các bài viết trao đổi cần có nội dung kiến thức hoặc cung cấp thông tin nghiệm lý. Muốn nhờ xem, luận giải lá số vui lòng đăng tại mục Xem tứ trụ.
Các bài viết và thành viên vi phạm sẽ bị xử lý.
Chia sẻ
VULONG
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1117
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Gửi bài gửi bởi VULONG »

(Tiếp theo)

Bài trên ta đã tìm ra “Thuyết trường thống nhất” mà hơn thế kỷ qua Albert Einstein cùng các nhà Vật Lý thế giới vẫn bó tay, nó chính là lực hấp dẫn. Dĩ nhiên “Thuyết trường thống nhất” không liên quan gì đến việc giải thích được sự tiến hóa của Vũ Trụ cũng như không giải thích được vận mệnh của con người, kể cả không giải thích được thời điểm tử vong của con người...

Trong khi “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa” không những giải thích được sự tiến hóa của Vũ Trụ mà còn giải thích được vận mệnh cũng như các tai họa hay cái chết của con người...

Vậy thìThuyết Vũ Trụ Cổ Xưacó đáng nhận được giải Nobel Vật Lý hay không ?
(Mọi người nên nhớ rằng lòng cốt hay cội nguồn của “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa” cách nay 7500 năm ở Ukraine châu Âu là do người ngoài hành tinh của chúng ta phát minh ra đấy.)

Theo suy nghĩ Thiển Cận của tôi thì không dễ dàng gì đâu, chắc phải đợi đến ít nhất 350 năm nữa giống như Thuyết Nhật Tâm của Galileo Galilei chăng ?

1 - Có cuốn Kinh Thánh nào viết “Trái Đất là trung tâm của Vũ Trụ” mà các Giáo Sĩ, đứng đầu là Giáo Hoàng của Tòa Thánh Vatican đã đưa Galileo Galilei lên giàn lửa thiêu khi qua kính thiên văn ông phát hiện ra Trái Đất không phải là trung tâm của vũ trụ mà quay xung quanh Mặt Trời. Rất may trước khi bị quẳng lên giàn lửa thiêu ông đã kịp nói “Trái Đất là trung tâm của Vũ Trụ”. Chắc lúc đó ông còn trẻ để nghiên cứu tiếp nên ông nghĩ không thể chết một cách Ngu Xuẩn như vậy bởi... Chính câu nói này đã cứu ông thoát khỏi lưỡi hái của Tử Thần từ Tòa Thánh Vatican. Khi về già biết không còn sống được lâu nữa ông đã công khai công bố công trình của mình về Thuyết Nhật Tâm. Dĩ nhiên ông đã bị các Hồng y, Giám mục... đứng đầu là Giáo Hoàng của Tòa Thánh Vatican đã kỷ niệm 60 gậy đầy tình yêu thương lên người ông. Nhà bác học đáng kính của chúng ta ra đi như vậy đấy. (Những thông tin này trước đây tôi đã đọc ở đâu đó nay quên mất rồi, nếu có sai sót gì mong mọi người lượng thứ bỏ qua cho tôi).

Tòa thánh Vatican chính thức thừa nhận sai lầm trong việc kết tội Galileo Galilei vào năm 1992. Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã chính thức khép lại vụ án kéo dài hơn 350 năm, thừa nhận những sai lầm của các nhà thần học thời đó khi kết án Galileo vì quan điểm Trái đất quay quanh Mặt trời. (Theo Wikipedia)

2 - Các nhà theo thuyết tiến hóa của Darwin (Charles Robert Darwin), chỉ vì mãi không tìm được hóa thạch để chứng minh sự tiến hóa từ Khỉ tới Người đã bắt một người đàn ông (đã có 1 vợ và 2 con) thuộc người lùn dân tộc Píc Mê ở châu Phi về Mỹ để đưa đi các nơi rao giảng cho thiên hạ rằng đó là một dạng người đang chuyển hóa từ khỉ mà ra, thế mới Kinh Khủng chứ ? Người đàn ông này sau đó không được đưa trở lại Châu Phi mà bị nhốt vào Sở Thú ở Mỹ, cuối cùng anh ta phải tự tử trong Sở Thú vì nhục nhã và vì nhớ vợ con, quê hương của mình. Thế mới biết có những người khoác trên mình cái áo mác Khoa Học (hay Tôn Giáo...) mà lại khốn nạn như vậy đấy.

Chỉ cần 2 ví dụ trên là quá đủ cho chúng ta biết khi niềm tin mù quáng vào những điều sai lầm nào đó thì một số người có chức vụ, quyền thế cao trong xã hội hay tôn giáo kể cả khoa học đều tìm cách gắn những điều sai lầm này lên những thế lực siêu nhiên như lời của các vị Thánh,... rồi bắt mọi người phải phục tùng, tuân theo một cách tuyệt đối, chống lại sẽ bị tù tội hay tử hình,...

VULONG
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1117
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Gửi bài gửi bởi VULONG »

Tôi trình bầy tiếp tư liệu cuốn “Giải Mã Tứ Trụ” đã xuất bản năm 2010. Vì hồi đó tôi chưa biết cứ đăng lên mạng thì chính là đã đăng ký Bản Quyền. Cho nên bây giờ tôi phải mất khá nhiều thời gian để tổng kết, rút ngắn lại lý thuyết và tìm vài ví dụ mẫu để chứng minh (ít nhất từ 3 đến 5 ngày mới viết được 1 bài).
1 - Tôi dự kiến trình bầy tiếp lý thuyết dùng Toán Học để dự đoán (giải thích) các tai họa nặng hay nhẹ (qua số điểm hạn), trong đó dự kiến có khoảng 40 đến 50 ví dụ mẫu (mới có 20 còn khoảng 30 ví dụ nữa).
2 - Tiếp tới phần lý thuyết dùng Toán Học để dự đoán vợ chồng khắc nhau, trong đó dự kiến có khoảng 10 đến 15 ví dụ mẫu.
3 - Rồi tới phần lý thuyết dùng Toán Học để dự đoán bố mẹ khắc con cái và ngược lại, trong đó dự kiến có khoảng 10 đển 15 ví dụ mẫu.
4 - Còn 2 phần cuối tôi chưa nghiên cứu xong là phần lý thuyết dùng Toán Học để dự đoán khả năng phát Tàiphát Quan, trong đó có khoảng 10 đến 15 ví dụ mẫu.

VULONG
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1117
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Gửi bài gửi bởi VULONG »

Ví dụ số 20 :
Hình ảnh
Qua sơ đồ trên ta thấy Thân nhược mà Kim (Tài tinh)kỵ thần 1 (hay nhiều) nên dụng thần đầu tiên phải là Hỏa, dụng thần chính là Đinh ở trụ năm, hỷ thần là Mộc còn kỵ thần là Thổ, Kim và Thủy.
Ngày tử vong 8/2/2007 là năm Đinh Hợi thuộc đại vận Ất Mão và tiểu vận đầu là Tân Mùi. Ta thấy có tam hợp Hợi Mão Mùi trong tứ trụ không hóa hợp vói Mão đại vận hóa Mộc (có Ất đại vận là Thần dẫn), thêm tam hợp của Hợi lưu niên với Mão đại vận và Mùi tiểu vận cùng Mùi trụ năm cũng hóa Mộc. Do vậy ta có tam hợp Mộc có tới 6 can chi.
Vì có 2 chi là Hợi và Mùi trong tứ trụ hợp với tuế vận hóa cục khác hành nên phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm. Mộc có 1,8đv được thêm 1,89đv của Mùi trụ năm và 3,6đv của Hợi trụ tháng thành 7,29đv. Thổ có 1,89đv bị hóa Mộc còn 0đv, Thủy có 3,6đv hóa thành Mộc còn 0đv. Thân vẫn nhược và Kim vẫn là kỵ thần 1 nên dụng thần chính vẫn là Đinh trụ năm.
Vì chi của vận và lưu niên đều động (vì hợp với các chi trong tứ trụ hóa Mộc) nên không cần tới kỵ thần 1 là Kim động vẫn phải tính thêm điểm vượng của các can chi động ở tuế vận.
Mộc có 7,29đv được thêm 10đv của Hợi lưu niên, 5đv của Mão đại vận, 5,25đv của Mùi tiểu vận (vì hóa Mộc) và 5đv của Ất đại vận (động vì bị Tân tiểu vận khắc), còn thêm 7.0,25đv = 1,75đv (vì có 7 can chi cùng hành Mộc) thành 34,29đv. Kim có 11,5đv được thêm 5,54đv của Tân tiểu vận thành 17,04đv. Không thể Tòng Mộc vì có Kim (2 Tân) là Quan Sát khắc Mộc. Do vậy Thân vẫn là nhược nhưng Kiêu Ấn lớn hơn Thân 20đv nên thành kỵ thần. Dụng thần chính là Đinh vẫn không thay đổi, các hành khác đều là kỵ thần.
Kiêu Ấn (Mộc) lớn hơn kỵ thần 1 là Kim nên thành hành kỵ vượng. Tính sơ qua ta thấy Mộc không lớn hơn hỷ dụng 1 là Hỏa trên 30đv nên điểm hạn kỵ vượng và điểm hạn của Mộc cục không được tăng, ngược lại còn được giảm ít nhất 1,5đh (vì tam hợp trong tứ trụ hợp với tuế vận hóa Mộc có ít nhất 4 can chi mà có chi tháng, sẽ nói sau) thì tổng điểm hạn quá thấp không thể gây ra tử vong được.
Do vậy ta phải làm cách nào đó để Mộc lớn hơn Hỏa ít nhất 30đv để điểm hạn kỵ vượng được tăng gấp đôi.

Từ Ví dụ số 18 đưa ra quy tắc :
1 - Khi điểm vượng của hành kỵ vượng lớn hơn hỷ dụng 1 gần 30đv thì sai số cho phép thêm +1đv, còn gần 20đv thì sai số cho phép có thể thêm +0,5đv (?).
2 - Khi điểm hạn kỵ vượng được tăng gấp ba thì điểm hạn hóa cục của hành kỵ vượng chỉ được tăng gấp đôi.

Phải sửa lại thành :
1 - Khi điểm vượng của hành kỵ vượng lớn hơn hỷ dụng 1 gần 30đv thì sai số cho phép thêm +1,5đv, còn gần 20đv thì sai số cho phép thêm +0,75đv (?).
2 - Khi điểm hạn kỵ vượng được tăng gấp ba thì điểm hạn hóa cục của hành kỵ vượng chỉ được tăng gấp đôi chỉ đúng khi hóa cục này có 2 hay 3 can chi.
3 - Nếu điểm hạn kỵ vượng được tăng gấp đôi thì điểm hạn hóa cục của hành kỵ vượng cũng được tăng gấp đôi chỉ khi hóa cục này có từ 4 can chi trở lên.

Từ Ví dụ số 18 đưa ra quy tắc :
1 - Mỗi can hay chi trong tứ trụ hợp với tuế vận không hóa thì điểm vượng trong vùng tâm của chúng bị giảm 1/10.

Phải sửa lại thành :
1 - Mỗi can trong tứ trụ hợp với tuế vận không hóa hay hóa cục (?) thì điểm vượng trong vùng tâm của chúng bị giảm 1/10 còn chi không bị giảm.
Nếu sử dụng các quy tắc mới này (vì bây giờ mới đưa ra nên không thể viết “Sẽ nói sau” được) thì Mộc được thêm 1,5đv thành 35,79đv đã lớn hơn Hỏa có 5,67đv trên 30đv nên điểm hạn kỵ vượnghóa cục kỵ vượng đều được tăng gấp đôi.

1 - Dụng thần Đinh hưu tù ở lưu niên Hợi có 0đh.
2 - Nhật can Bính tử tuyệt tại lưu niên Hợi có 1đh.
3 - Điểm hạn của tam hợp Mộc cục có 6 can chi và được tăng gấp đôi có 2.1,5đh. Mỗi điểm kỵ vượng của Mão đại vận và Hợi lưu niên (vì đều hóa Mộc) có 0,5đh được tăng gấp đôi thành 2.0,5đh. Mùi tiểu vận có 2.0,25đh kỵ vượng (vì là chi tiểu vận hóa Mộc).
4 - Ất đại vận có 2 cát thần có -2.0,25đh, Đinh lưu niên có 1 cát thần có -0,25đh.
5 - Tân tiểu vận nhược ở tiểu vận Mùi khắc Ất đại vận có 0đh. Ất đại vận có 0,25đh can động (vì chỉ vượng ở đại vận).
6 - Lửa dưới núi trụ ngày có Bính chỉ vượng ở đại vận nên khắc Kim trang sức trụ tháng có 1đh và khắc Đất mái nhà lưu niên có 0,5đh.

Tổng số có 7,5đh. Vì có tam hợp trong tứ trụ hợp với tuế vận hóa cục có 6 can chi nên mỗi chi có -0,25, riêng chi tiểu vận có -0,13đh và tam hợp cục này có chi tháng nên có thêm -0,5đv (sẽ nói sau). Tổng điểm hạn còn lại (7,5 - 5.0,25 - 0,13 - 0,5)đh = 5,62đh. Số điểm này chấp nhận được vì nó thừa sức gây ra tử vong.
Chắc người này không giầu có hay hạn quá lớn mà của cải hay sự giầu có không đủ sức để đi thay nên người này phải đi chăng ?

Ngày tử vong là 8/2/2007, nó là ngày Quý Dậu thuộc tháng Nhâm Dần (theo can năm Đinh). Ta dễ dàng thấy năm Đinh Hợi có Mộc là hành kỵ vượng lại quá cường vượng thì dĩ nhiên tai họa sẽ rơi vào đầu tháng Dần hay Mão vì lúc đó Mộc cường vượng nhất (Lâm quan hay Đế vượng). Nhưng ở đây tử vong tại sao lại rơi vào 8/2 là ngày Quý Dậu mà không rơi vào ngày đầu tiên 4/2 là Kỷ Tị hay ngày thứ hai 5/2 là Canh Ngọ, ngày thư ba 6/2 là Tân Mùi, ngày thứ tư 7/2 là Nhâm Thân ?
Chắc là vì Nhật can
Bính vượng ở ngày Tị và Ngọ còn hưu tù ở ngày Mùi và Thân nhưng Tử ở ngày Dậu nên đã chết vào ngày Dậu chăng ?


Thật thấy quá lạ vì vào năm Đinh Hợi (2007) mới có tam hợp Mộc cục có 6 chi nên Mộc trong tứ trụ mới cường vượng như vậy mà chỉ tới ngày thứ 5 của năm Đinh Hợi đã gây ra tử vong, thật kinh khủng ?

Chỉ có 5 ngày có đủ thời gian để gây ra phá sản hay chết do bệnh ung thư gan hay mật được không ? (Thực tế lúc đó tôi sơ ý không hỏi người này chết do nguyên nhân gì?)

Vì năm Đinh Hợi Mộc quá cường vượng mà Mộc ngoài đại diện cho GanMật ra còn đại diện cho hệ Thần kinh trung ương của não bộ nên có thể cái chết này do đột quỵ tại thần kinh của não bộ (vì bị tắc nên não bộ không có đủ máu để nuôi sống nó) chăng ?

Theo tôi ngày mất là ngày để cúng, viếng thăm người mất nên không chỉ riêng ở VN mà cả châu Á và thế giới đều rất coi trọng ngày này, vì vậy không thể sai được, nhất là vào thời đại văn minh ngày nay (trừ các trường hợp đặc biệt).

VULONG
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1117
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Gửi bài gửi bởi VULONG »

Thông tin tổng quan do AI tạo

"Hệ thống thần kinh trong Đông y liên quan mật thiết tới Âm Mộc (Can/Gan), đặc biệt là chức năng can tàng hồn, điều hòa khí huyết và cảm xúc (tâm thần). Gan thuộc mộc, là cơ quan tạng (âm) chủ về sự thông suốt, nuôi dưỡng thần kinh, nếu âm mộc hư yếu dễ dẫn đến mất ngủ, căng thẳng hoặc các chứng bệnh liên quan đến hệ thần kinh."

Điều này chứng tỏ tôi đã luận đúng là bị đột quỵ thần kinh của não bộ gây ra tử vong khi không được cấp cứu kịp thời.

VULONG
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1117
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Gửi bài gửi bởi VULONG »

Hình ảnhpvcpvcp, on 27/03/2026 - 03:01, said:
Theo tôi người này bị bệnh gan với các lý do :
- Mộc quá cường vượng
-Ất; Mão là âm mộc chủ về gan; dương mộc mới chủ hệ thần kinh trung ương


ĐS mất vào ngày Quý dậu hợp logic là vì :
Ngày Dậu (của lưu niên), trong nguyên cục có Thân (chắc ý nói tới 2 Tân chứ không phải chi Thân trụ ngày ?) là 2 căn mạnh của kim. Dậu xung Mão; hai cường địch giao chiến, tổn thương tơi tả; Bính nhật can không được mộc (đang bận giao chiến) giúp lại bị Quý thuỷ (can ngày của lưu niên) khắc chế mạnh, khả năng tuyệt diệt lớn hơn hẳn các ngày khác.

.........................................................................................................................................................................

Pvcpvcp đã sai lầm trầm trọng khi luận không biết đến câu phú cực quan trọng của Tử Bình là "Tham hp quên xung. Điều này có nghĩa là can chi trong hợp tham hợp nên quên xung với các can chi bên ngoài còn can chi bên ngoài không có hợp để tham nên vẫn xung được can chi trong hợp nhưng phải phá được hợp đó thì mới tính tới lực xung đó có giá trị.
Bng chng qua câu :
1 - "Dậu xung Mão; hai cường địch giao chiến, tổn thương tơi tả".
2 - "Bính nht can không được mộc (đang bận giao chiến) giúp lại bị Quý thu(can ngày - ca lưu niên) khắc chế mạnh,khả năng tuyệt diệt lớn hơn hẵn các ngày khác".

Rõ ràng câu 1 có Mão tr gi(trong t tr) và Mão đại vận đã hóa Mc nên cho dù Du can ngày (ca lưu niên) có xung vi 2 Mão nhưng không th phá đưc Mc cc thì làm sao có chuyn xung khc đưc với 2 Mão ?
Nếu c cho Du can ngày (ca lưu niên) xung 2 Mão phá đưc Mc cc đi thì khi đó Mc trong vùng tâm vn ch1,8đv làm sao gây ra đưc tai ha v Gan mà nó đi din ?
Cho nên câu lun "Dậu xung Mão; hai cường địch giao chiến, tổn thương tơi tả" là sai hoàn toàn.

Còn câu 2 ta thy rõ ràng Bính (Nht can) đã hp vi 2 Tân thì có cái gì đây có th phá tan t hp này đ Quý tr ngày (ca lưu niên) khc đưc Bính (Nhật can), li càng vô lý khi cho Mc đây có th sinh đưc cho Bính ? Ch có mt vị trí duy nhất ở đây là chi tr ngày ca Bính là Mc mi có th sinh đưc cho Bính nhưng đáng tiếc chi Thân đã chiếm gi mt ri nên Mc hết cửa đ có th sinh cho Bính.
Cho nên câu 2 lun : "Bính nht can không được mộc (đang bận giao chiến) giúp lại bị Quý thu (can ngày - ca lưu niên) khắc chế mạnh, khả năng tuyệt diệt lớn hơn hẵn các ngày khác" cũng là sai hoàn toàn.

VULONG
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1117
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Gửi bài gửi bởi VULONG »

Những quy tắc quan trọng thường sử dụng cần chú ý :
1 - Điểm vượng trung bình của can chi lưu niên vẫn tính như cũ.
Vì khi suy nghĩ lại tôi thấy can lưu niên nếu nhược ở lưu niên nhưng vượng ở đại vận hay nhược ở đại vận rõ ràng lực khắc của nó tới các can khác là khác nhau. Cho nên điểm vượng trung bình của can chi lưu niên vẫn phải lấy trung bình như cũ (1 lần điểm vượng ở chi đại vận và 2 lần điểm vượng ở chi lưu niên).
2 - Khi tính lại điểm vượng của ngũ hành trong vùng tâm, các can ở tuế vận hợp với các can trong tứ trụ hóa cục đều được tính như ở trong tứ trụ nhưng các chi ở tuế vận hợp với các chi trong tứ trụ hóa cục không được tính như ở trong tứ trụ. Câu này rất quan trọng vì một hành muốn Tòng thì trong tứ trụ phải có ít nhất 4 can chi cùng hành.
3 - Điểm vượng của các can chi tĩnh trong tứ trụ chính là điểm vượng của chúng ở trong vùng tâm còn của các can chi động trong tứ trụ chính là điểm vượng trung bình của chúng ở lưu niên.
4 - Khi tính thêm điểm vượng của các can chi động ở tuế vận và tiểu vận thì chính là điểm vượng trung bình của chúng ở lưu niên (các can chi tĩnh ở tuế vận và tiểu vận không được tính ở đây).
5 - Để xác định điểm vượng thêm cho mỗi can chi cùng hành ở trong tứ trụ và tuế vận thì từ 4 can chi cùng hành trở lên mỗi can chi có 0,25đv, riêng can chi tiểu vận chỉ có 0,13đv (các can chỉ động ở tuế vận và tiểu vận mới có điểm vượng thêm này, còn trong tứ trụ không cần)
6 - Các can trong tứ trụ hợp với tuế vận hóa hay không hóa cục thì điểm vượng trong vùng tâm của chúng bị giảm 1/10 nhưng các chi trong tứ trụ hợp với tuế vận hóa hay không hóa cục thì điểm vượng trong vùng tâm của chúng không bị giảm.
7 -................ còn tiếp ???

VULONG
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1117
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Gửi bài gửi bởi VULONG »

Bài luận Ví dụ số 19 - Giáo chủ Ali Kharmenei ít nhất sai 3 quy tắc (2 quy tắc sai nằm ở câu 2 và câu 3 trên, còn quy tắc thứ 3 sai là khi tính lại điểm vượng trong vùng tâm Thân vẫn vượng không nhược vì Kiêu Ấn sinh được 50%đv của nó cho Thân), còn một vài cái sai nữa nên tôi xin đăng lại toàn bộ ví dụ này.

Ví dụ số 19 : Giáo chủ Ali Kharmenei sinh ngày 19/4/1939 lúc 12.00' (?). Ngày 28/2/2026 khoảng 9.40' sáng, ông ta tử vong bởi máy bay của Israel đã dùng tên lửa tối tân Blue Sparrow tấn công vào hầm ngầm (Boongke) nơi ông ta cùng bộ sậu đang họp.

Sơ đồ diễn tả các điểm hạn gây ra tử vong cho Giáo chủ Ali Khamenei (28/2/2026) :
Hình ảnh
Tai họa xẩy ra vào ngày 28/2/2026 là năm Bính Ngọ thuộc đại vận Kỷ Mùi và tiểu vận Đinh Mão (vì chưa qua ngày sinh nhật).
Ta thấy trong tứ trụ có bán hợp của Ngọ trụ tháng với Tuất trụ ngày hóa Hỏa (vì có Bính là thần dẫn). Mặc dù có Thìn trụ tháng xung Tuất nhưng không phá được bán hợp của Ngọ với Tuất. Vì lực xung có chi là thổ thì phải lớn hơn lực hợp mới có thể phá được. Bởi vì nếu phá được bán hợp thì Thân (Hỏa) sẽ nhược (vì Thân chỉ có 2 can chi trong khi Thổ có tới 4 can chi – mà các can chi hầu như có điểm vượng bằng nhau). Khi đó 5 vận sau đều là kỵ thần thì không ứng hợp với thực tế vô cùng huy hoàng của ông ta (được làm Giáo chủ như vua chúa ngày xưa trên cả chức Tổng thống của Iran).
Qua sơ đồ trên ta thấy Thân vượng mà Thực Thương (Thổ) là nhiều (có tới 3 can chi hay là kỵ thần 1) nên dụng thần đầu tiên phải là Tài tinh (Kim). Do vậy Dụng thần chính là Tân tàng trong Tuất trụ ngày có 3đv, hỷ thần là Thực Thương và Quan Sát còn kỵ thần là Kiêu Ấn và Tỷ Kiếp.

Giáo chủ Ali Kharmenei thọ tới 87 tuổi là vì Thân khá vượng nhưng có Thực Thương (Thổ) nhiều đủ sức xì hơi Thân nên trong môn Tử Bình đã gọi Thực Thương là Thọ tinh. Dĩ nhiên khi Thân nhược mà Thực Thương nhiều hay khá vượng thì Thực Thương không được gọi là Thọ tinh nữa mà phải gọi là Yểu tinh (dễ chết trẻ).

Trong tứ trụ Nhật can là Bính gặp Kình dương Ngọ thường là Quý mệnh (mệnh phú quý), nắm quyền cao, chức trọng. Thực tế 5 vận cuối, từ vận Quý Hợi (9/81) đến hết vận Kỷ Mùi (9/31) đều là các vận hỷ dụng thần nên đều là các vận đẹp huy hoàng nhất cuộc đời của ông ta. Trong đó vận Quý Hợi không phải là vận dụng thần mà là vận hỷ thần Chính quan nhưng lại là vận đẹp nhẩt. Bởi vì QuýChính quan đế vượng tại vận Hợi tức Quan đã đạt tới cực đỉnh nên ông ta được phong làm Giáo chủ ngày 4/6/1989.
Có một khác biệt là nếu trong tứ trụ chỉ có BínhNgọ đơn độc thì mặc dù chức trọng quyền cao, tài năng thông tuệ nhưng thường đại diện cho những kẻ tiểu nhân, ngụy quân tử có sở trường chuyên dùng các mưu hèn, kế bẩn để sát hại hay trà đạp nên đầu người khác để giành lấy quyền hay chức cũng như để giữ bằng được quyền hay chức đã có của mình. Nhất lại là một trùm Mật Vụ thì càng đáng sợ hơn, vì nó có thể trở thành một tên Bạo Chúa khát máu thực sự, công khai thủ tiêu, sát hại bất kỳ ai dám chống lại hay không làm theo ý muốn của nó (như Ví dụ số 12). Còn nếu trong tứ trụ Bính Ngọ không đơn độc mà có thêm can chi Hỏa (như Ví dụ số 8 của Albert Einstein có thêm Đinh trụ tháng), nhất là có Hỏa cục như tứ trụ của vị Giáo chủ này thì lại hoàn toàn khác. Mặc dù vẫn là Bạo Chúa (như Vua Chúa ngày xưa) nhưng lại thường đại diện cho những người chính nhân, quân tử luôn làm những điều nghĩa hiệp theo Đạo mà họ tôn thờ.

Có Mão trụ năm và Mão tiểu vận hợp với Mùi đại vận hóa Mộc (vì có Giáp trụ giờ làm thần dẫn) cùng lúc có Giáp trụ giờ hợp với Kỷ đại vận hóa Thổ nên Mộc cục và Thổ cục khắc nhau tạo thành Đại Chiến. Nhưng may mắn vào năm Bính Ngọ có Tuất của bán hợp Hỏa cục trong tứ trụ hợp thêm với Ngọ lưu niên hóa Hỏa thành hành thông quan đã hóa giải được Mộc cục và Thổ cục khắc nhau nên không còn Đại Chiến (sẽ nói sau).

Vì có Giáp trụ giờ hợp với tuế vận hóa cục nên phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm.
Thổ có 9,48đv được thêm 4đv của Giáp (vì Giáp có 5đv nhưng hợp với tuế vận bị giảm 1/5 còn 4đv) và 8,58đv của Kỷ đại vận, còn được thêm 1,25đv (vì Thổ có 5 can chi có thêm 5.0,25đv =1,25đv)) thành 23,31đv.
Mộc có 8,88đv bị mất 5đv của Giáp còn 3,88đv. Thân (Hỏa) chỉ có 22,73đv là nhỏ hơn Thực Thương (Thổ)23,31đv nên Thân thành nhược. Nhưng ta thấy Thân nhược nhưng Nhật can Bính được lệnh và Thân lớn hơn Thực Thương, Tài tinh và Quan Sát nên Kiêu Ấn sinh được 50%đv của nó cho Thân là 3,88.1/2đv = 1,94đv. Do vậy Thân có 22,73đv được thêm 1,94đv thành 24,67đv nên Thân lớn hơn Thực Thương (có 23,31đv) 1đv thành vượng.
Thân vượng mà Thực Thương nhiều nên Dụng thần vẫn là Tài tinh (Kim), chínhTân tàng trong Tuất trụ ngày, điểm hạn của các hành khác cũng không thay đổi.

Hỏa là kỵ 1 động nên ta phải tính thêm điểm vượng của các can chi động ở tuế vận. Ta tính điểm vượng trung bình của các can chi động như sau :
- Mão trụ năm có 3,88đv tại trụ năm (là điểm vượng trong vùng tâm), có thêm 4,3đv tại đại vận Mùi và 2 lần 6đv tại Ngọ lưu niên thành (3,88+4,3+2.6).1/4đv = 5,05đv.
- Mùi đại vận có 7,75đv tại chi Mùi, có 2.9đv tại Ngọ lưu niên thành (7,75+2.9).1/3đv = 8,58đv.
- Mão tiểu vận có 9đv tại Mão tiểu vận, có 4,3đv tại Mùi đại vận và có 2 lần 6đv tại Ngọ lưu niên thành (7,75+4,3+2.6).1/4đv = 6,33đv.
- Ngọ lưu niên có 2.10đv tại lưu niên và 5đv tại Mùi đại vận thành (2.10+5).1/3đv = 8,33đv.
Do vậy Mộc có (5,05+8,58+6,33)đv = 19,96đv.

Hoàn toàn tương tự ta tính được Hỏa có 7,75đv của Nhật can Bính (vì tĩnh), 8,06đv của Ngọ trụ giờ, 8,19đv của Tuất trụ ngày, 8,33đv của Ngọ lưu niên và thêm 4.0,25đv = 1đv (vì có 4 can chi Hỏa - Ngọ trụ giờ, Bính và Tuất trụ ngày và Ngọ lưu niên, còn Bính lưu niên và Đinh tiểu vận tĩnh không được tính ở đây).
Do vậy Hỏa có (7,75+8,06+8,19+8,33+1)đv = 33,33đv
Không thể Tòng Hỏa vì trong tứ trụ chỉ có 3 can chi Hỏa (Bính và Tuất trụ ngày, Ngọ trụ giờ, còn Ngọ và Bính lưu niên không được tính).

Ta thấy Thân (Hỏa)33,33đv lớn hơn Thực Thương (Thổ)hỷ dụng 123,31đv trên 10đv nên Hỏa trở thành hành kỵ vượng. Thân vượng mà Thực Thương nhiều nên dụng thần không thay đổi vẫn là Tân tàng trong Tuất trụ ngày (nếu nó có thể được thay đổi theo Quy tắc 1-0-2).

1 - Dụng thần Tân tàng trong Tuất có 3đv nên có 0,5đh, nhưng Tuất hợp với tuế vận thì không còn là 0,5đh mà là 1đh. Tân nhược ở lưu niên Ngọ có 0đh.
2 - Nhật can Bính vượng ở lưu niên Ngọ có -1đh.
3 - Bính lưu niên có 1 cát thần có -0,25đh. Ngọ là Kình dương ở lưu niên có 0đh - vì có Ngọ trụ giờ là Kình dương (vì chúng đã hóa Hỏa cục - đã chứng minh).
4 - Bán hợp Mộc có 3 chi nên có 0,75đh. Bán hợp Hỏa có 0,5đh (vì chỉ có chi lưu niên có điểm hạn, còn 2 chi trong tứ trụ đã hóa Hỏa từ khi sinh rồi). Mộc cục có 3 chi sinh được cho Hỏa cục là 3.0,6đh = 1,8đh (vì hành Hỏa có 1đh nên mỗi chi Mộc sinh cho nó có 0,6đh, còn nếu hành Hỏa có 0,5đh thì mỗi chi Mộc sinh cho nó chỉ có 0,3đh - đã chứng minh). Ngọ lưu niên hóa Hỏa nên có 1đh kỵ vượng.
Ngũ hợp Thổ cục có -0,5đh. Ở đây Hỏa cục không sinh được cho Thổ cục (vì điểm hạn của 2 hành này không cùng dấu - đã chứng minh).
5 - Đất trên thành trụ năm và trụ tháng cùng Đất mái nhà trụ giờ đều có can của chúng vượng ở lưu niên nên khắc nước Mưa lưu niên mỗi lực có 1đh.
Tổng số có 6,3đh. Với số điểm hạn này là khá cao nên ta cần tìm xem có cách nào giảm nó xuống, một trong các cách thông dụng nhất là tìm xem có lực nào có thể gây ra điểm giảm G hay không ?

Ta thấy trên sơ đồ có 3 lực của nạp âm trong tứ trụ khắc nạp âm ở tuế vận nên ta thử cho mỗi lực khắc này có 0,75G xem sao ? Nếu vậy ta có 3.0,75G = 2,25G nó tương đương với mức giảm 1/5 nên tổng điểm hạn còn 6,3.4/5đh = 5,04đh. Số điểm hạn này là chấp nhận được (vì nó vừa đủ sức gây ra tử vong).

Vậy số điểm chính thức gây ra tai họa này là 5,04đh và mỗi lực khắc của nạp âm ở đây có 0,75G.

Ta thấy giáo chủ Ali Khamenei tử vong bởi sức ép của tên lửa tối tân Blue Sparrow của không quân Israen nên =18pxông ta chết do nội tạng bị tổn thương nặng. Thuốc nổ (Hỏa) ở đây đại diện cho sức ép còn nội tạng đại diện bởi lực khắc của 3 nạp âm. Giờ Đinh Tị (lúc 9,40' ?) là lúc Hỏa Lâm quan hay Đế vượng đã tác động gây ra tai họa chăng ?

Lại một lần nữa ta thấy Giáo chủ Ali Kharmerei tử vong ngày 28/2 (lúc 9.40' sáng) chính là ngày Quý Dậu (giờ Đinh Tị ?) TKĐX với trụ năm Kỷ Mão. Vậy thì đây không thể coi là trường hợp Ngẫu Nhiên (vô tình trùng lặp) nữa mà chắc chắn nó phải là trường hợp Tất Nhiên (có thể xác định được từ trước).

Ta thấy “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa” không những giải thích được sự tiến hóa của Vũ Trụ mà còn giải thích được vận mệnh của con người (và các vật khác nếu biết tứ trụ của chúng) xấu hay tốt, hơn nữa qua ví dụ này nó còn giải thích được thời điểm tử vong chính xác tới ngày của một năm nào đó (có thể chính xác tới tận giờ ?).

Vậy thì “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa” có phải là “Thuyết Vũ Trụ Thống Nhất” hay Thuyết trường thống nhấtAlbert Einstein và các nhà Vật Lý đang tìm kiếm hơn một thế kỷ qua hay không?

Qua 19 ví dụ trên ta rút ra các quy tắc dự đoán thời gian gây ra tử vong cho đương số :
1 - Nếu một hành trong tứ trụ quá vượng nhưng không thể Tòng thì thường tử vong vào các ngày đầu tiên của tháng mang hành này (với Thổ thì vào các tháng là Tị hay Ngọ ?).
2 - Thường tử vong vào các ngày (của lưu niên) TKĐX với năm sinh của đương số, nhất là vào các tháng (của lưu niên)kỵ thần vượng tướng còn hỷ dụng thần hưu tù, tử tuyệt.

(Ở ví dụ này ta thấy điểm vượng trong vùng tâm của các can trong tứ trụ hợp với tuế vận phải bị giảm đi 1/5 thì mới đúng ? Còn nếu chỉ bị giảm 1/10 thì Giáp hóa Thổ có 4,5đv chứ không phải 4đv nên Thổ có tới 23,81đv. Khi đó muốn Thân vượng phải tính thêm Bính và Đinh là tĩnh ở lưu niên và tiểu vận nên Hỏa có tới 6 can chi có thêm 6.0,25đv = 1,5đv không phải chỉ có thêm 1đv. Như vậy Hỏa có 33,83đv mới lớn hơn Thổ 1đv )

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Claude [Bot]10 khách.