“Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Trao đổi kiến thức về tứ trụ (tử bình, bát tự)
Nội qui chuyên mục
Đây là chuyên mục trao đổi kiến thức về tứ trụ (bát tự, tử bình) dành cho thành viên chính thức. Các bài viết trao đổi cần có nội dung kiến thức hoặc cung cấp thông tin nghiệm lý. Muốn nhờ xem, luận giải lá số vui lòng đăng tại mục Xem tứ trụ.
Các bài viết và thành viên vi phạm sẽ bị xử lý.
Chia sẻ
VULONG
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1123
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Gửi bài gửi bởi VULONG »

Sau khi nghiên cứu một số ví dụ tương tự tôi thấy lực nạp âm khắc các nạp âm khác không phải giảm 50% mà phải giảm tới 75%đh của nó khi can của nó bị khắc bởi 1 lực có 0,7đh. Do vậy tôi xin luận và đăng lại Ví dụ số 22 này như sau :

Ví dụ số 22 : Nam bị mổ nặng may thoát chếtHình ảnh
Qua sơ đồ trên ta thấy Thân nhược mà Thực Thươngkỵ thần 1 (hay nhiều vì có 2 can chi được lệnh) nên dụng thần đầu tiên phải là Kiêu Ấn (Kim), can làm dụng thần chính là Tân tàng trong Tuất trụ năm, hỷ thần là Thủy còn kỵ thần là Mộc, Hỏa và Thổ.
Tai họa xẩy ra vào năm Canh Ngọ (1990), nó thuộc đại vận Giáp Ngọ, tiểu vận Mậu Tý và Kỷ Sửu. Ta thấy Ngọ đại vận và Ngọ lưu niên hợp với Dần trụ tháng và Tuất trụ năm và Tuất trụ giờ hóa Hỏa thành công (vì Bính trụ năm làm thần dẫn).

Vì có 2 Tuất trong tứ trụ hợp với tuế vận hóa Hỏa khác hành nên phải tính lại điểm vượng trong vùng tâm. Ta thấy Hỏa quá cường vượng nhưng không thể Tòng Hỏa vì có Nhâm trụ ngày là Quan Sát của Hỏa. Hỏa là hành kỵ vượng lại quá cường vượng nên tai họa dễ xẩy ra vào tháng Ngọ (của lưu niên 1990) thuộc tiểu vận Kỷ Sửu (vì đã qua ngày sinh nhật 17/2).
Giáp đại vận hợp Kỷ tiểu vận không thể hóa Thổ vì Kỷ tọa trên đất ướt là Sửu nên Giáp là Mộc sống (vì có Kỷ ướt nuôi nó hay Sửu tiểu vận không thể dẫn hóa cho can tiểu vận ?).
Điểm vượng của các can chi động trong tứ trụ chính là điểm vượng trung bình của chúng ở lưu niên. Do vậy Bính trụ năm động (vì khắc Canh lưu niên và Canh trụ tháng) nên điểm vượng trung bình của nó ở lưu niên Ngọ là: Có 2,7đv trong vùng tâm, 10đv tại Ngọ đại vận và 2 lần 10đv ở lưu niên Ngọ thành (2,7+10+2.10)/4đv = 8,18đv. Tính tương tự Canh trụ tháng có 5,72đv, Giáp trụ giờ có 4,5đv (động vì bị Canh lưu niên khắc), Tuất trụ năm có 7,93đv, Dần trụ tháng có 3,6đv và Tuất trụ ngày có 8,18đv (vì hợp với tuế vận). Điểm vượng của các hành trong vùng tâm sau khi tính lại được diễn tả trong sơ đồ trên.
Sau khi tính lại ta thấy Thân vẫn nhược nhưng Thực Thương (Mộc) không còn là kỵ thần 1 mà là Tài tinh (Hỏa). Do vậy dụng thần đầu tiên phải là Tỷ Kiếp (Thủy), nên can làm dụng thần chính là Quý tàng trong Thìn trụ năm, hỷ thần là Kim, các hành còn lại đều là kỵ thần. Hỏa thành hành kỵ vượng và quá vượng nên tai họa dễ xẩy ra vào các ngày đầu của tháng Ngọ (năm Canh Ngọ), nó thuộc tiểu vận Kỷ Sửu.

Tính thêm các can chi động ở tuế vận thì Giáp đại vận có 3đv, Kỷ tiểu vận có 7,5đv, Canh lưu niên có 7đv, Ngọ đại vận và Ngọ lưu niên mỗi chi có 10đv. Điểm vượng trong vùng tâm sau khi tính thêm ở tuế vận được diễn tả trong sơ đồ trên. Sau khi tính lại Hỏa được thêm 1đv (vì trong tứ trụ có 4 can chi Hỏa). Sau khi tính thêm ở tuế vận Hỏa được thêm 1,5đv (vì Hỏa có thêm 2 chi Hỏa ở tuế vận). Hỏakỵ vượng lớn hơn hỷ dụng 1 là Kim trên 30đv. Ta thấy nếu điểm kỵ vượng được tăng gấp 3 thì Tổng điểm hạn quá cao nên ta thử cho tăng gấp đôi xem sao ?
1 - Dụng thần Quý tử tuyệt tại lưu niên Ngọ có 1đh.
2 - Nhật can Nhâm hưu tù ở lưu niên có 0đh.
3 - Sửu tiểu vận có 1 hung thần có 0,13đh.
4 - Điểm hạn của tam hợp Hỏa có 5 chi được tăng gấp đôi có 2.5.0,25đh = 2,5đh. Điểm kỵ vượng của mỗi chi Ngọ hóa Hỏa được tăng gấp đôi có 2.0,5đh kỵ vượng.
5 - Bính trụ năm được lệnh và vượng ở lưu niên khắc Canh lưu niên và Canh trụ tháng mỗi lực có 0,7đh, có 0đh can động.
Canh lưu niên vượng ở lưu niên có -0,5đh can động bị giảm 70%đh (vì bị Bính khắc) còn -0,5.30%đh = -0,15đh. Canh khắc Giáp trụ giờ có 1đh nhưng bị giảm 70% (vì bị Bính khắc) còn 0,3đh.
Canh trụ tháng thất lệnh nhưng vượng ở lưu niên có -0,5đh can động nhưng bị giảm 70% còn -0,15đh. Canh khắc Giáp trụ giờ có 1.30%.50%đh = 0,15đh (bị giảm 70% do Bính khắc và giảm 50% vì cách 1 ngôi).
Giáp trụ giờ được lệnh nhưng nhược ở tuế vận có -0,5đh can động (điểm hạn này không bị giảm).
6 - Nạp âm Đất ven đường của lưu niên có Canh vượng ở lưu niên khắc Kim trong cát ở đại vận có 1đh nhưng bị giảm 75% vì bị Bính khắc 1 lực có 0,7đh còn 0,25đh. Chi của nạp âm là Ngọ đã hóa Hỏa có thể sinh cho nạp âm Đất ven đường của nó max 0,25đh, nhưng chỉ bị giảm 50%đh của nó chắc vì ở đây không phải chỉ có chi Ngọ mà là Hỏa cục (có từ 2 chi trở lên) còn 0,13đh. Nếu chi Ngọ không hóa cục thì chắc lực sinh bị giảm giống nạp âm là 75% còn 0,07đh.

Tổng số có 7,06đh, ta thấy tam hợp giữa tứ trụ với tuế vận hóa cục có 5 chi mà có 3 chi trong tứ trụ nên có -(1+2.0,25)đh = - 1,5đh còn 7,06đh - 1,5đh = 5,56đh. Tương tự theo ví dụ 21 trên ta thấy có 2 chi giống nhau trong tứ trụ hóa cục khác hành nên tổng điểm hạn được giảm 1/7 còn 5,56.6/7đh = 4,77đh. Số điểm này có thể chấp nhận được vì nó phù hợp với thực tế là mổ nặng tới mức may mắn thoát chết.

Vì theo định nghĩa của tôi thì hạn nặng từ 4,75đh đến 4,89đh có thể coi là may mắn thoát chết, từ 4,9đh đến dưới 5,00đh có thể bị chết lâm sàng, còn từ 5,00đh trở đi có thể bị chết thật nếu không có cách nào giải cứu kịp thời.

Nếu điểm kỵ vượng ở đây được tăng gấp 3 thì tổng điểm hạn quá cao là không thể chấp nhận được. Ta thấy các ví dụ có tai họa nặng tới mức thoát chết thì xác định điểm hạn của các quy tắc là dễ dàng và chính xác nhất.
Tổng điểm hạn ở tiểu vận Mậu Tý có (7,06- 0,13- 1,5).6/7đh = 4,65đh (vì không có 0,13đh của hung thần). Số điểm hạn này là thấp không thể gọi là may mắn thoát chết.

Năm Canh Ngọ có Hỏa là hành kỵ vượng lại quá cường vượng do có tới 5 chi hóa Hỏa và các điểm kỵ vượng đều được tăng gấp đôi nên tai họa dễ xẩy ra vào các ngày đầu của mùa hè là tháng Nhâm Ngọ (của năm Canh Ngọ). Trong mấy ngày đầu tháng Nhâm Ngọ (từ ngày 6/6) ta thấy có ngày Bính Ngọ (10/6) là ngày đáng ngại nhất ?

Từ ví dụ này ta đưa ra các quy tắc :
1 - Lực nạp âm khắc nạp âm khác bị giảm 75%đh của nó khi can của nó bị khắc bởi 1 lực0,7đh (vds 22), thành vô dụng khi can của nó bị khắc bởi 1 lực 1đh.
2 - Chi của nạp âm hóa cục có khả năng sinh cho nạp âm của nó max 0,25đh, số điểm hạn này chỉ bị giảm 50% khi can của nạp âm bị khắc bởi 1 lực có 0,7đh (vds 22), còn nếu chi của nạp âm không hóa cục thì bị giảm 75% (?).
3 - Một hành từ khi sinh không lớn hơn hỷ dụng 1 thì khi tính lại và tính thêm ở tuế vận nếu là kỵ vượng thì điểm hạn kỵ vượng chỉ có thể tăng gấp đôi khi nó lớn hơn hỷ dụng 1 từ 30đv trở lên (vds 22).
4 - Tam hợp ngoài tứ trụ có ít nhất 4 chi hóa cục, trong đó có ít nhất 3 chi trong tứ trụ thì 3 chi đầu tiên có -1đh còn từ chi thứ 4 trở đi mỗi chi có -0,25đh (giống tam hội ngoài tú trụ, chỉ khác tam hợp phải có ít nhất 4 chi), nếu có 2 chi trong tứ trụ giống nhau hóa cục khác hành thì Tổng điểm hạn được giảm 1/7 (vds 21;22), còn hóa cục cùng hành thì...

VULONG
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1123
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Gửi bài gửi bởi VULONG »

Ví dụ số 23 : Nam bị tai nạn nặng
Hình ảnh
Qua sơ đồ trên ta thấy Thân vượng mà Kiêu Ấn nhiều (vì có 2 can chi đều được lệnh) nên dụng thần đầu tiên phải là Tài tinh (Thủy), nên dụng thần chính là Quý tàng trong Tý trụ năm có 4,3đv, hỷ thần là Thực Thương (Kim) còn kỵ thần là Quan Sát (Mộc), Kiêu Ấn (Hỏa) và Tỷ Kiếp (Thổ). Thân có 16,45đv lớn hơn hỷ dụng 1 là Thủy có 0,45đv trên 10đv nên Thổ là kỵ vượng.
Năm 1989 gặp tai họa nặng là năm Kỷ Tị thuộc đại vận Canh Thân, có 2 tiểu vận Đinh Dậu và Mậu Tuất.
Ta thấy có tam hợp của Thân đại vận hợp với Tý trụ năm, Thìn trụ tháng và Thìn trụ giờ không hóa (vì không có thần dẫn).
1 - Dụng thần Quý tàng trong Tý trụ năm hợp với tuế vận nên có 1đh, dụng thần Quý hưu tù ở lưu niên Tị có 0đh.
2 - Nhật can Mậu vượng ở lưu niên Tị có -1đh.
3 - Bính trụ tháng và trụ giờ được lệnh và vượng ở lưu niên Tị khắc Canh đại vận mỗi lực có 1đh. Canh đại vận vượng ở lưu niên có -0,5đh can động nhưng bị Bính khắc mất hết. 2 Bính có 0đh can động.
Đinh tiểu vận vượng ở Dậu tiểu vận khắc Canh đại vận có 0,5đh (vì khắc trái dấu).
4 - Kỷ lưu niên có 2 cát thần có -2.0,25đh, Tị lưu niên có 2 hung thần có 2.0,25đh, Dậu tiểu vận có 1 hung thần có 0,13đh.
5 - Dần trụ ngày hình và hại Tị lưu niên mỗi lực có 1đh.
6 - Lửa sấm sét trụ năm có Mậu vượng ở lưu niên khắc Đất trên thành trụ giờ và gỗ Lựu đại vận mỗi lực có 1đh.

Tổng số có 6,63đh. Ta thấy có tam hợp ngoài tứ trụ không hóa này giống với ví dụ số 21 và 22 là đều có từ 4 chi, trong đó có 3 chi trong tứ trụ nên 3 chi đầu có -1đh (giống với Tam hội, chỉ khác là Tam hợp phải có ít nhất 4 chi), còn từ chi thứ 4 trở đi mỗi chi có -0,25đh, vì vậy có -1,25đh. Ở đây chỉ có khác là tam hợp này không hóa nhưng cũng có 2 chi trong tứ trụ giống nhau nên chắc chắn tổng điểm hạn không thể được giảm 1/7 mà chỉ có thể giảm 1/8. Nếu đúng như vậy thì Tổng điểm hạn còn (6,63 -1,25).7/8đh = 4,71đh. Số điểm này chấp nhận được vì nó phù hợp với thực tế là tai họa rất nặng.


Theo định nghĩa của tôi thì tổng điểm hạn từ 4,6đh đến dưới 4,7đh được gọi là nặng tới mức phải cấp cứu còn từ 4,7đh đến dưới 4,75đh mới được coi là rất nặng.

Nếu Tổng điểm hạn được giảm 1/7 thì còn (6,63 -1,25).6/7đh = 4,61đh mặc dù ở mức cấp cứu nhưng so với định nghĩa trên chỉ được coi là nặng.

Vì tam hợp không hóa cục nên yếu tố tam hợp gây ra tai họa là quá thấp trong khi Dần trụ ngày hình và hại thái tuế Tị mới là yếu tố quan trọng tác động mạnh cho tai họa xẩy ra. Do vậy tháng Dần (của lưu niên) là tháng đáng ngại nhất (vì nó ám hình, hại thái tuế Tị). Trong tháng Dần (từ ngày 4/2) thì ngày 15/2Bính Ngọ nó là ngày Thổ là hành kỵ vượng cực vượng thêm Hỏa vượng sinh cho nên Thổ đã quá vượng càng thêm cường vượng đã tác động làm cho tai họa xẩy ra vào ngày này chăng ?
Giả sử điều dự đoán này là đúng thì có cách giải cứu nào giúp người này thoát được tai họa không ?

Từ ví dụ này ta đưa ra quy tắc .
Tam hợp ngoài tứ trụ không hóa cục có từ 4 chi trở lên mà trong tứ trụ có ít nhất 3 chi thì 3 chi đầu tiên có -1đh còn từ chi thứ 4 trở đi mỗi chi có -0,25đh. Nếu tam hợp không hóa này có 2 chi giống nhau trong tứ trụ thì Tổng điểm hạn được giảm 1/8.

VULONG
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1123
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: “Thuyết Vũ Trụ Cổ Xưa" (bản hoàn chỉnh)

Gửi bài gửi bởi VULONG »

Ví dụ số 24 : Nam mất ngày 2/9/1969
Hình ảnh
Qua sơ đồ trên ta thấy Thân vượng mà Thực Thương nhiều (vì Thực Thương có 2 chi trong đó chi trong vùng tâm được lệnh) nên dụng thần đầu tiên phải là Tài tinh (Thổ), can làm dụng thần chính là Kỷ tàng trong Mùi trụ tháng, hỷ thần là Kim và Hỏa còn kỵ thần là Thủy và Mộc.
Có bán hợp của Mão trụ năm với Mùi trụ tháng hóa Mộc thành công (vì có Ất trụ tháng làm thần dẫn).
Tứ trụ này có Thương quanĐinh trụ giờ cường vượng (được lệnh) gặp Quan tinhTân ở trụ năm yếu (hưu tù). Đây chính là Cách Thương quan thương (tức diệt) tận (tức phải giết chết) Quan tinh qua câu Phú :
Khi Thương quan thương tận Quan tinh thì thành đại quí mệnh (khi Quan tinh nhược hay bị hợp, vì khi đó Quan tinh yếu hèn, bất tài còn tham nhũng... thì Hùng khí của Thương quan nổi lên lãnh đạo dân lật đổ chính quyền Quan lại hay Triều đình thối nát).
Thực tế cho biết người này đã trở thành lãnh tụ (như Vua hay Tổng thống) của một nước Cộng Sản. Sáu vận sau từ Tân Mão tới Đinh Hợi đều là các vận hỷ dụng thần nên rẩt đẹp ứng hợp với thực tế huy hoàng của vị lãnh tụ này.

Tai họa xẩy ra vào ngày 2/9/1969, nó là năm Kỷ Dậu (1969) thuộc đại vận Đinh Hợi và tiểu vận Mậu Thân (vì đã qua ngày sinh nhật 11/7).
Ta thấy Nhật can Giáp hợp với Kỷ lưu niên không hóa vì có Ất trụ tháng là Tỷ Kiếp (vì ngũ hợp của Nhật can rất khó hóa cục).
Hợi đại vận hợp với Mộc cục trong tứ trụ và Mão trụ giờ thành tam hợp cục có 4 chi hóa Mộc (vì cùng hành) nhưng bị Dậu thái tuế xung gần Mão phá tan cả cục và hợp. Nếu Mộc cục trong tứ trụ bị phá mà phải tính lại và tính thêm điểm vượng ở tuế vận thì qua sơ đồ diễn tả trên ta thấy dụng thần vẫn không thay đổi nên ta yên tâm không phải lo ngại gì cả.

1 - Dụng thần Kỷ vượng ở lưu niên Dậu có -1đh.
2 - Nhật can Giáp hưu tù ở lưu niên Dậu có 0đh.
3 - Dậu lưu niên có 1 hung thần có 0,25đh, Thân tiểu vận có 2 hung thần có 2.0,13đh nhưng bị giảm 2.80% còn 2.0,13.20%.20%đh = 0,01đh (vì bị 2 Mão xung).
4 - Mộc cục trong tứ trụ bị phá có -1đh (có 2 chi nên bằng điểm hạn của hành đó), Mão trụ năm có 0,5đh và Mùi trụ tháng có -0,5đh (bằng 50%đh của hành đó).
5 - Nhật can Giáp thất lệnh chỉ vượng ở đại vận hợp khắc Kỷ lưu niên có 0,25đh (vì khắc trái dấu), Giáp động có 0,5đh can động. Kỷ lưu niên vượng ở lưu niên có -1đh nhưng bị giảm 25% (vì bị Giáp khắc) còn -0,75đh.
Đinh đại vận vượng ở lưu niên khắc Tân trụ năm có 1đh và có -0,5đh can động. Tân trụ năm thất lệnh nhưng vượng ở lưu niên Dậu có -0,5đh can động nhưng bị Đinh khắc mất hết. Khi đó Đinh trụ năm được lệnh và vượng ở lưu niên mới khắc được Tân trụ năm có 0,25đh (vì cách 2 ngôi), có 0đh can động.
Mão trụ năm và Mão trụ giờ xung Dậu thái tuế mỗi lực có (0,5+0,3)đh = 0,8đh và mỗi lực gây ra điểm giảm là 1G (sẽ nói sau).
6 - Hợi đại vận hại Thân tiểu vận có 0,5đh.
7 - Lửa trong lò trụ giờ có Đinh vượng ở lưu niên khắc gỗ Tùng trụ năm có 1đh (nạp âm khắc nhau xa hay gần là như nhau).
Đất dịch chuyển lưu niên có Kỷ vượng ở lưu niên khắc Kim trong cát trụ tháng và trụ ngày mỗi lực có 1đh.
8 - Đinh trụ giờ và Đinh đại vận là Thương quan gặp Quan là Tân trụ năm, mỗi Thương quan có 1đh.

Tổng số có 6,12đh, ta thấy Tổng điểm giảm được giảm 2G tương đương với điểm giảm trung bình giữa 2 mức 1/6 và 1/5 còn lại 6,12.(5/6+4/5).1/2đh = 5,00đh. Số điểm này chấp nhận được vì nó vừa đủ để gây ra tử vong.

Nhưng nếu xét tiểu vận trước là Kỷ Hợi thì ta thấy có Dậu tiểu vận tự hình Dậu thái tuế có 1đh và Dậu có 1 hung thần có 0,13đh nên tiểu vận này hơn tiểu vận Mậu Thân (1 - 0,5 - 0,13)đh = 0,37đh. Tổng điểm hạn của vận Kỷ dậu còn lại là (6,12+0,37).(5/6+4/5),1/2đh = 5,3đh. Số điểm hạn này thừa sức gây ra tử vong nhưng tai họa không xẩy ra mà lại xẩy ra vào ngày 2/9 thuộc tiểu vận sau là Mậu Thân.

Vậy thì tại sao tai họa lại xẩy ra vào ngày 2/9 ?

Vì đây chính là ngày quốc khánh mang dấu mốc lịch sử của nước Cộng Sản này mà chính vị lãnh tụ này đã tạo ra. Điều này giống như bé trai Elgin Alexander (ở ví dụ số 13) đã khát vọng sống để xem xong trận đấu quyết định của đội khúc côn cầu Ottawa Senators mà cậu hằng yêu thích để vào vòng trung kết giải...

Tai họa này chủ yếu gây ra do 2đh của Thương quan gặp Quan vì Thương quan thương tận Quan tinh có thể đưa người này lên làm Vua được thì khi Thương quan hội tụ khắc chết Quan tinh cũng có thể hạ bệ Vua xuống được. Còn 3đh của nạp âm khắc nhau nói lên phần bên trong con người (như lục phủ ngũ tạng) bị thương tổn nặng từ những nguyên nhân nào đó gây ra, chắc chỉ có các bác sĩ chuyên theo dõi sức khỏe vị lãnh tụ này mới có thể biết được.

Từ ví dụ này ta đưa ra quy tắc .
1 - Trong tứ trụ có 2 chi xung thái tuế thì mỗi lực gây ra 1G, khi đó mỗi lực hình hại của tứ trụ với thái tuế có 0,5G.

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Claude [Bot], PhamBaDuong20255 khách.