Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị.
Trích từ Ma-Ha Bát-Nhã Ba-La-Mật-Ða Tâm Kinh
"Wisdom alone is the science of other sciences."
― Plato
“Không là sắc, sắc là không, chổi buộc lông rùa quét sạch ba ngàn thế giới;
Phật tức tâm, tâm tức Phật, mõ khua sừng thỏ tỉnh hồn ức triệu sinh linh.”
― Hòa Thượng Thích Thiện Siêu
“As a man who has devoted his whole life to the most clearheaded science, to the study of matter, I can tell you as a result of my research about the atoms this much: There is no matter as such! All matter originates and exists only by virtue of a force which brings the particles of an atom to vibration and holds this most minute solar system of the atom together. . . . We must assume behind this force the existence of a conscious and intelligent Mind. This Mind is the matrix of all matter.”
― Max Planck, The New Science
“Sắc bất dị không, không bất dị sắc. Sắc tức thị không, không tức thị sắc. Vật chất tức là tinh thần, tinh thần tức là vật chất.”
― Hòa Thượng Thích Giác Khang, Pháp môn Tịnh Độ - Phần 15
"A man is but the product of his thoughts, what he thinks he becomes."
― Mahatma Gandhi
NAM QUỐC DÂN TU TRI
Sào Nam Tiên Sinh
CHƯƠNG THỨ II
N. 2. ― Hình người
Lò giời đúc nắn, ta được làm người. Đầu cao đội giời, chân dày đạp đất. Sáng đôi con mắt, tỏ đôi lỗ tai. Đôi vế đôi vai, chân tay cứng cỏi. Vảy ba tấc lưỡi, núi bể rung rinh. Vươn bẩy thước mình, dọc ngang giời đất. Xét suy sự vật, lại có óc khôn. Óc trử linh hồn, thiêng liêng rất mực. Đứng đầu muôn vật, ta chắc mình ta. Ơn ông ơn bà, ta không dám phụ. Đã sinh ta đó, phải tính thế nào. Trâu ngựa hay sao, uổng người ta lắm.
BA TẤC LƯỠI: tài nói năng bàn luận. BẨY THƯỚC MÌNH: mình người ta cao nhất đến bẩy thước, là thước đo người.
“We are reminded that, in the fleeting time we have on this Earth, what matters is not wealth, or status, or power, or fame, but rather how well we have loved and what small part we have played in making the lives of other people better.”
― Barack Obama
“GIÀ, BỊNH, CHẾT không chừa một ai. Dù vô thường sinh tử, thân này tuy không bền lâu, nhưng mình phải cố gắng nương theo thân người này để tu hành, vượt qua biển sinh tử lên đến bờ giải thoát.”
― Hòa Thượng Thích Trí Tịnh
“The things that matter the most in this world, they can never be held in our hand.”
― Gloria Gaither
Câu đối thiền môn của Hòa Thượng Thích Thiện Siêu
Quảng đại hạnh, phát thâm tâm, bát thát mê vân, bất quyện hối nhân bồi Phật chủng;
Cứu chơn không, nghiên diệu chỉ, xung khai tuệ nhật, phùng trường trác tích chấn tông phong.
廣 大 行 發 深 心 撥 拓 迷 雲 不 倦 誨 人 培 佛 種
究 真 空 研 妙 旨 沖 開 慧 日 逢 場 卓 錫 振 宗 風
Tạm dịch:
Quảng khai đại hạnh, phấn phát tâm sâu, vén bớt mây mê, mệt mỏi chẳng nề dạy người vun Phật chủng;
Thẩm cứu chân không, thâm nghiên ý diệu, mở ra vầng tuệ, ngay nơi duyên thuận, dựng gậy chấn Tông phong.
(Tặng tháp Hòa thượng Thích Trí Thủ chùa Báo Quốc - Huế)
“Khi biết các pháp Tánh Không duyên hợp hư giả, là thoát khỏi được các thứ chấp hai bên như chấp có, chấp không, gọi là biên kiến. Với con mắt Bát-nhã có là giả có, vì giả có nên không phải không, mà cũng không phải thật có. Không thật không, không thật có mà hiện tiền mắt thấy, tai nghe, đó là lý trung đạo.
Nhà thiền thường dùng hình ảnh mặt trăng ở dưới hồ. Mặt trăng dưới hồ có hay không? Xác định là không cũng không được, xác định là có thật cũng không được. Nó chỉ là bóng, là huyễn hóa. Nói mặt trăng có thật dưới hồ là ngu xuẩn. Nói mặt trăng không ngơ, tại sao mắt mình thấy? Chẳng qua đó là tướng duyên hợp hư giả, là bóng không phải thật. Không thật mà chấp thật là ngu mê. Thân này, sự vật chung quanh này cũng vậy.”
― Hòa Thượng Thích Thanh Từ, Tánh Không và Chân Không
Có hai nhà sư đang trên đường đi khất thực. Đến một dòng suối nước chảy rất xiết hai nhà sư nhìn thấy một cô gái đang định lội qua suối nhưng không dám vì sợ bị nước cuốn đi.
Nhà sư thứ nhất không quan tâm đến lời yêu cầu giúp đỡ của cô gái và tự mình lội qua suối. Nhà sự thứ hai tiến tới ôm cô gái vào lòng và lội qua suối. Cô gái vô cùng cám ơn nhà sư đã giúp mình và hai nhà sư lại tiếp tục trên con đường của mình.
Đi được một đoạn đường như không chịu nổi, nhà sư thứ nhất quay lại trách nhà sư thứ hai:
- Anh đã tu hành mà vẫn còn tà tâm, vẫn còn ham sắc dục. Sao lại ôm ấp đàn bà con gái như thế?
Nhà sư thứ hai điềm đạm trả lời:
- Ơ hay, tôi đã bỏ cô ta lại bên bờ suối rồi, còn anh vẫn mang cô ta theo cho đến tận bây giờ sao?
Cô lái đò đưa khách qua sông. Đò cập bến cô lái thu tiền từng người. Sau hết đến nhà sư. Cô lái đò đòi tiền gấp đôi.
Nhà sư ngạc nhiên hỏi vì sao?
Cô lái mỉm cười:
– Vì thầy nhìn em…
Nhà sư nín lặng trả tiền và bước lên bờ.
Một hôm nhà sư lại qua sông. Lần nầy cô lái đòi tiền gấp ba. Nhà sư hỏi vì sao?
Cô lái cười bảo:
– Lần này thầy nhìn em dưới nước.
Nhà sư nín lặng trả tiền và bước lên bờ.
Lần khác nhà sư lại qua sông. Vừa bước lên đò nhà sư nhắm nghiền mắt lại đi vào thiền định.
Đò cập bến cô lái đò thu tiền gấp năm lần. Nhà sư hỏi vì sao?
Cô lái đáp:
– Thầy không nhìn nhưng còn nghĩ đến em.
Nhà sư trả tiền và lên bờ.
Một hôm nhà sư lại qua sông. Lần nầy nhà sư nhìn thẳng vào cô lái đò.
Đò cập bến, nhà sư cười hỏi lần này phải trả bao nhiêu?
Cô lái đáp:
– Em xin đưa thầy qua sông, không thu tiền.
Nhà sư hỏi:
– Vì sao vậy?
Cô lái cười đáp:
– Thầy nhìn mà không còn nghĩ tới em nữa. Do vậy em xin đưa thầy qua sông mà thôi.
Quả thật cái tâm luyến ái bên trong của con người mới là vấn đề cần phải giải quyết chứ không phải là dáng vẻ bên ngoài. Phần lớn chúng ta chỉ chú ý dáng vẻ bên ngoài nhưng ít ai chú ý đến cái tâm sâu thẳm bên trong. Dù thân xa lánh thế tục nhưng tâm còn nhớ nghĩ thì cũng chưa phải là giải thoát. Mắt tuy nhắm nhưng tâm còn nghĩ về, thì sóng ngầm cuộn xoáy tâm can còn dữ dội hơn.
Câu chuyện giữa nhà sư và cô lái đò đối đáp mỗi lần qua sông thể hiện cho một quá trình tu tập và chuyển hóa tư tưởng. Diễn biến đó cũng là quá trình tâm lý chuyển hóa thành tâm linh. Sau cùng là sự đạt đạo cao nhất của nhà sư: nhìn thẳng vào thực tại mà không hề có tư tưởng dính mắc, suy nghĩ, luyến ái. Còn các lần trước hết dính mắc bằng mắt thì đến dính mắc bằng tâm. Ở đời hễ còn dính mắc thì còn phải khổ lụy.
Nhà sư trả tiền cho cô lái đò cũng cho thấy rằng hễ tâm ta còn tạo nghiệp dính mắc thì sẽ có cái giá phải trả cho chính nó. Đó là triết lý sống dành cho tất cả chúng ta.
“Before you heal the body you must first heal the mind.”
– Aristotle
偶作(堂中端座寂無言)
堂中端座寂無言,
閑看崑崙一縷煙。
自是倦時心自息,
不關攝念不關禪。
Ngẫu tác (Đường trung đoan tọa tịch vô nghiên)
Tuệ Trung Thượng Sĩ
Đường trung đoan tọa tịch vô nghiên (ngôn),
Nhàn khán Côn Luân nhất lũ yên.
Tự thị quyện thời tâm tự tức,
Bất quan nhiếp niệm bất quan thiền.
Hòa Thượng Thích Thanh Từ dịch:
CHỢT HỨNG
Trong nhà ngồi thẳng lặng không lời
Nhàn ngắm Côn Luân mảnh khói trôi.
Đến khi nghe nhọc tâm liền bặt
Chẳng cần nhiếp niệm chẳng cần thiền.
Chân Không
Hòa Thượng Thích Thanh Từ
Chân không thể bất biến,
Huyễn hữu thường đổi thay.
Khói mây bọt bóng nước,
Tan hợp cuộc vần xoay.
Linh lung trăng rọi biển,
Xanh biếc núi im lìm.
Ngút ngàn mặt bể cả,
Thăm thẳm bầu trời xanh.
Đường phố xe qua lại,
Sông biển tàu tới lui.
Dòng đời duyên biến đổi,
Bệ đá đạo nhân ngồi.
(Thiền viện Chân Không, tháng 7. 1985)
“Once your mind becomes absolutely still, your intelligence transcends human limitations.”
– Sadhguru
“You can chain me, you can torture me, you can even destroy this body, but you will never imprison
my mind.”
― Mahatma Gandhi
Ảo hóa
Thiền Sư Thích Nhất Hạnh
mí mắt chân trời mỏi
đầu núi nghiêng nghiêng tìm gối tựa
đêm về thơm giấc cỏ hoa
ảo hóa
bàn tay gió dậy
ngân hà nến ngọc lung linh
khung cửa lưng đồi bỏ ngỏ
sao băng vụt cháy lời kinh
vạn kiếp xoay quanh vòng mộng mị
đêm nay chợt thấy chân hình.
“Sự vật không có hình tướng rõ rệt, chỉ là một sự ảo hóa mà thôi.”
― Hòa Thượng Thích Giác Khang, Pháp môn Tịnh Độ - Phần 11
“When you don’t have anything, then you have everything.”
― Mother Teresa
Câu đối thiền môn của Hòa Thượng Thích Thiện Siêu
Bội giác hiệp trần, mộng lý na tri thân thị huyễn;
Quy nguyên đắc chỉ, định trung thường chiếu Phật do tâm.
背 覺 合 塵 夢 裡 那 知 身 是 幻
歸 源 得 旨 定 中 常 照 佛 猶 心
Tạm dịch:
Trái giác hiệp trần, trong mộng đâu hay thân là huyễn;
Về nguồn đặng gốc, lúc định thường thấy Phật tại tâm.
(Tặng chùa Hương Sơn – Huế)
MỘNG
Hòa Thượng Thích Thanh Từ
Gá thân mộng,
Dạo cảnh mộng.
Mộng tan rồi,
Cười vỡ mộng.
Ghi lời mộng,
Nhắn khách mộng.
Biết được mộng,
Tỉnh cơn mộng.
(Thiền viện Chân Không, tháng 7. 1980)
62 được trích từ V. PHẨM NGU (BALAVAGGA) trong Kinh Pháp Cú – Dhammapada, Hòa Thượng Thích Thiện Siêu dịch.
62. “Đây là con ta, đây là tài sản của ta”, kẻ phàm phu thường lo nghĩ như thế, nhưng chẳng biết chính “ta” còn không có, huống là con ta hay là tài sản ta.
TỈNH MỘNG
https://www.youtube.com/watch?v=NyNBd972wEA
Vi diệu
Nội qui chuyên mục
Không tranh luận về chính trị và tôn giáo
Không tranh luận về chính trị và tôn giáo
-
KMD
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 2391
- Tham gia: 11:03, 25/04/14
Vi diệu
Mình là cái gì? - Hòa Thượng Thích Thanh Từ thuyết giảng
https://www.youtube.com/watch?v=eOHFNvE-Mq0
https://www.youtube.com/watch?v=eOHFNvE-Mq0
-
KMD
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 2391
- Tham gia: 11:03, 25/04/14
Vi diệu
人之初,性本善。
Nhân chi sơ, tính bổn thiện.
Trích từ Tam Tự Kinh
何期自性本自清淨
Hà kỳ tự tánh bổn tự thanh tịnh.
Trích từ Pháp Bảo Đàn Kinh
心王
心王無相亦無形,
眼似驪珠也不明。
欲識這般真面目,
呵呵日午打三更。
Tâm vương
Tuệ Trung Thượng Sĩ
Tâm vương vô tướng diệc vô hình,
Nhãn tự ly châu dã bất minh.
Dục thức giá ban chân diện mục,
Ha ha nhật ngọ đả tam canh.
Hòa Thượng Thích Thanh Từ dịch:
Tâm vương không tướng cũng không hình
Mắt tợ ly châu vẫn chẳng minh.
Muốn biết loại này chân diện mục
Ha! ha! giữa ngọ là canh ba.
"The moment you transcend the limitations of your logical mind, there is no such thing as time and space."
― Sadhguru
"Trong nhà Phật thường nói Chân tâm là cái thường biết rõ ràng, tỉnh táo sáng suốt chớ không mờ mờ. Như vậy khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần mình biết rõ ràng, làm sao dừng ở chặng đầu, đó là điều quan trọng. Ngồi gẫm thật kỹ, tôi thấy bây giờ mình nên đặt thành phương tiện. Vừa nhìn chưa cần thấy cái gì, tự nhủ mắt biết thấy là Chân tâm. Biết là tâm. Thấy được cảnh, ngay niệm đầu đừng có niệm thứ hai thứ ba. Thấy biết là Chân tâm, còn thêm cái gì nữa thì quá Chân tâm rồi.
Ngay nơi sáu căn, mắt thấy - biết - dừng. Tai nghe - biết - dừng. Thân xúc chạm - biết - dừng, không cho đi qua niệm thứ hai thứ ba. Tôi sử dụng như thế thấy có hiệu nghiệm. Khi thấy nói Chân tâm, nó dừng lại. Khi nghe nói Chân tâm, nó dừng lại. Vừa khởi phân biệt nói Chân tâm, nó dừng lại. Nếu để nó đi thì nó đi luôn một mạch, chớ không dừng. Muốn nó dừng phải chận lại, bằng cách đem Ông chủ ra chận. Vừa thấy là Chân tâm, vừa nghe là Chân tâm, sáu căn vừa tiếp xúc với sáu trần, vừa ở niệm đầu là Chân tâm. Mới thấy Chân tâm ở sẵn nơi mình, tại vì chúng ta cứ cho qua hoài nên không thấy. Bây giờ ngay nơi niệm đầu nhận là Chân tâm thì các niệm khác không xen vào. Tôi ứng dụng tu phương pháp này thấy có hiệu nghiệm."
― Hòa Thượng Thích Thanh Từ, TIẾN THẲNG VÀO THIỀN TÔNG - KHÁM PHÁ ÔNG CHỦ
“….Khi ta nói dài ngắn tự nhiên ta thấy nó có tướng dài ngắn thay đổi theo nhận thức của ta, nhưng cái tướng vô tướng của chính nó thì không thay đổi, ở đâu cũng vậy, thời gian không gian nào cũng vậy, nhất như bình đẳng. Sở dĩ chúng ta thấy nó có tướng là do biến kế phân biệt, biến kế sở chấp của chúng ta mà nó hình thành ra tướng nọ tướng kia, nên trong kinh nói:
"Nhất nhơn phát chơn quy nguyên,
Thập phương thế giới tận thành tiêu vẫn".
Một người phát tâm trở về bản tánh chơn thật thì cảnh giới của họ, cảnh giới do biến kế sở chấp phân biệt vọng tưởng hiện ra đó, tiêu mất không còn tồn tại. Giống như khi ta nằm mộng thấy vạn cảnh (thập phương thế giới) nhưng khi ta tỉnh thức thì thập phương thế giới rơi rụng hết (tận thành tiêu vẫn). Thành thử cảnh giới đó, thật tướng đó bình đẳng, nó không tùy thuộc ai hết, không tùy thuộc không gian, thời gian, vô thỉ vô chung, vô biến vô trung….”
― Hoà Thượng Thích Thiện Siêu, LƯỢC GIẢNG KINH PHÁP HOA - ĐẠI THỪA DIỆU PHÁP LIÊN HOA KINH
“I see somebody dying, I pick him up. I find somebody hungry, I give him food. He can love and be loved. I don’t look at his color, I don’t look at his religion. I don’t look at anything. Every person whether he is Hindu, Muslim or Buddhist, he is my brother, my sister.”
― Mother Teresa
“There can be no greater gift than that of giving one’s time and energy to help others without expecting anything in return.”
― Nelson Mandela
道意
明月照古井,
井水無波濤。
不被人牽扯,
此心終不搖。
縱被人牽扯,
一搖還復止。
湛湛一片心,
明月古井水。
Đạo ý
Tố Như tiên sinh
Minh nguyệt chiếu cổ tỉnh,
Tỉnh thuỷ vô ba đào.
Bất bị nhân khiên xả,
Thử tâm chung bất dao.
Túng bị nhân khiên xã,
Nhất dao hoàn phục chỉ.
Trạm trạm nhất phiến tâm,
Minh nguyệt cổ tỉnh thuỷ.
Dịch nghĩa
Trăng sáng chiếu giếng xưa,
Nước giếng không nổi sóng.
Không bị người khuấy lên,
Lòng này không xao động.
Dù bị khuấy lên,
Dao động một lúc lại lặng ngay.
Tấm lòng trong vằng vặc,
Như ánh trăng sáng chiếu giếng nước năm xưa.
Tâm nguyệt
Thiền Sư Thích Nhất Hạnh
xôn xao, trời dậy hoàng hôn mới
mắt biếc, chim chuyền lá thủy tinh
thức giấc lãng quên
hồn rựng sáng
hồ Tâm lặng chiếu Nguyệt thanh bình
"Thường người ta cứ lầm, mình là con người này, thân này thể xác này là mình. Nhưng khi tôi đặt câu hỏi "Mình là cái gì?" thì tôi thấy không phải vậy.
Tôi thấy rõ mình là cái thường biết rõ ràng, thanh tịnh, sáng suốt, không có tướng mạo, không có hình dung. Cái đó mới là cái mình."
― Hòa Thượng Thích Thanh Từ, Mình là cái gì?
NAM QUỐC DÂN TU TRI
Sào Nam Tiên Sinh
CHƯƠNG THỨ III
N. 3.― Tính người
Bề ngoài hình chất, ai khác gì ai. Vì có tính người, khác hơn mọi giống. Da hùm lông phụng, nó cũng vẻ vang. Bởi không thiên lương, mới ra cầm thú. Tính ta trời phú, có trí có nhân. Nhân biết yêu người, trí hay học thánh. Lại thêm dũng mãnh, chẳng rụt chẳng kinh. Đủ mọi tính lành, là người cao thượng.
THIÊN LƯƠNG: tính lành. CAO THƯỢNG: tốt bực nhất.
"Virtue is relative to the actions and ages of each of us in all that we do."
― Plato
Câu chuyện quả táo
Một em bé đáng yêu đang cầm hai quả táo trong tay. Mẹ em bước vào phòng và mỉm cười hỏi cô con gái nhỏ: “Con yêu, con có thể cho mẹ một quả táo được không?”.
Em bé ngước nhìn mẹ trong một vài giây, rồi sau đó lại nhìn xuống từng quả táo trên hai tay mình. Bất chợt, em cắn một miếng trên quả táo ở tay phải, rồi lại cắn thêm một miếng trên quả táo bên tay trái.
Nụ cười trên gương mặt bà mẹ bỗng trở nên gượng gạo. Bà cố gắng không để lộ nỗi thất vọng của mình.
Sau đó, cô gái nhỏ giơ lên một trong hai quả táo vừa bị cắn lúc nãy và rạng rỡ nói: “Quả táo này dành cho mẹ nhé, nó ngọt hơn đấy ạ!”.
“Nothing is good or bad, but thinking makes it so.”
— William Shakespeare
Hãy tha thứ để nhẹ tâm
Một thiền sinh hỏi: "Thưa sư phụ, con đau khổ vì cha mẹ tàn nhẫn, vợ con ruồng bỏ, anh em phản bội, bạn bè phá hoại… Con phải làm sao để rũ bỏ được oán hờn và thù ghét đây?"
Vị sư phụ đáp: "Con ngồi xuống tịnh tâm, tha thứ hết cho họ".
Vài hôm sau, người đệ tử trở lại: "Con đã tha thứ cho họ sư phụ ạ. Nhẹ cả người! Coi như xong".
Sư phụ đáp: "Chưa xong, con về tịnh tâm, mở hết lòng ra và thương yêu họ".
Người đệ tử gải đầu "Tha thứ thôi cũng đã quá khó, lại phải thương họ thì...Thôi được con sẽ làm".
Một tuần sau, người đệ tử trở lại, mặt vui vẻ hẳn khoe với sư phụ là đã làm được việc thương những người mà trước đây đã từng đối xử tệ bạc với mình.
Sư phụ gật gù bảo: "Tốt! Bây giờ con về tịnh tâm, ghi ơn họ. Nếu không có họ đóng những vai trò đó thì con đâu có cơ hội tiến hóa tâm linh như vậy".
Lần sau người đệ tử trở lại, lần này tin tưởng rằng mình đã học xong bài vở. Người đệ tử hớm hở thưa rằng mình đã ghi ơn hết mọi người vì nhờ họ mà anh đã học được sự tha thứ!
Sư phụ cười: "Vậy thì con về tịnh tâm lại đi nhé. Họ đã đóng đúng vai trò của họ chứ họ có lầm lỗi gì mà con tha thứ hay không tha thứ?".
“The virtues are lost in self-interest as rivers are lost in the sea.”
― Franklin D. Roosevelt
“You must not lose faith in humanity. Humanity is an ocean; if a few drops of the ocean are dirty, the ocean does not become dirty.”
― Mahatma Gandhi
“….Đức Phật có nói: “được làm người rất quý” vì con người có ý chí biết cải sửa nhân quả thành nghiệp, chuyển nghiệp ác thành thiện cho đến thuần thiện, nếu đủ duyên sẽ dứt nghiệp. Vậy, nếu hiểu rõ nhân quả, cách chuyển nghiệp và sẽ chuyển ngay trong hiện tại: cái quả hiện tại đang nhận chịu, mình có quyền dùng ý chí kinh nghiệm cải sửa “quả xấu thành quả tốt, quả tốt thành quả tốt hơn”, hoặc ngay trong nhân quả và nghiệp lặng lẽ thấy rõ mọi tiến trình diễn biến của nó thì “bất muội nhân quả và nghiệp mà phi nghiệp”….”
― Hòa Thượng Thích Giác Khang, NHẬN THỨC VỀ NHÂN QUẢ VÀ NGHIỆP
“These virtues are formed in man by his doing the actions ... The good of man is a working of the soul in the way of excellence in a complete life.”
― Aristotle, The Nicomachean Ethics
“Mót thời gian để tu, đừng bỏ qua, gặp việc thì làm; rảnh việc thì nhiếp tâm: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.”
― Hoà Thượng Thích Trí Tịnh
"By education I mean an all-round drawing out of the best in the child and man-body, mind and spirit."
― Mahatma Gandhi
Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Chương V - Năm Pháp
XVIII. Phẩm Nam Cư Sĩ
(I) (171) Sợ Hãi
1. Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
2. - Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, nam cư sĩ rơi vào sợ hãi. Thế nào là năm? Sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, đắm say rượu men, rượu nấu.
Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, nam cư sĩ rơi vào sợ hãi.
3. - Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, nam cư sĩ không có sợ hãi. Thế nào là năm? Từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu.
Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, nam cư sĩ không có sợ hãi.
“- Không sát sinh chính là Nhân.
- Không trộm cướp chính là Nghĩa.
- Không tà dâm chính là Lễ.
- Không uống rượu chính là Trí.
- Không nói dối chính là Tín."
― Hòa Thượng Thích Thiện Hoa, TÁM QUYỂN SÁCH QUÝ - QUYỂN TÁM: NĂM YẾU TỐ HÒA BÌNH CỦA PHẬT GIÁO
"Never, never be afraid to do what’s right. Especially if the well-being of a person or animal is at stake. Society’s punishments are small compared to the ones we inflict on our soul when we look the other way."
― Martin Luther King, Jr.
"Ethical axioms are found and tested not very differently from the axioms of science: truth is what stands the test of experience."
― Albert Einstein
春晚
年少何曾了色空,
一春心在百花中。
如今勘破東皇面,
禪板蒲團看墜紅。
Xuân vãn
Sơ Tổ Trúc Lâm
Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,
Nhất xuân tâm tại bách hoa trung.
Như kim khám phá đông hoàng diện,
Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng.
Hòa Thượng Thích Thanh Từ dịch:
CUỐI XUÂN
Thuở bé chưa từng rõ sắc không,
Xuân về hoa nở rộn trong lòng.
Chúa Xuân nay bị ta khám phá,
Thiền bản, bồ đoàn, ngắm cánh hồng.
“"Bản nguyên tự tánh thiên chân Phật", chữ thiên này không phải trời, mà thiên là sẵn có. Nói bản nguyên tức là nói nguồn gốc ban đầu. Nguồn gốc ban đầu của chúng ta chính là ông Phật sẵn có từ muôn đời đó."
― Hòa Thượng Thích Thanh Từ, Tánh Không và Chân Không
234 được trích từ XVIII. PHẨM CẤU UẾ (MALAVAGGA) trong Kinh Pháp Cú – Dhammapada, Hòa Thượng Thích Thiện Siêu dịch.
234. Trong thế gian này ai hay sát sinh, hay nói dối, hay lấy cắp, hay phạm dâm, hay say đắm rượu chè; ai có các hành vi đó tức là đã tự đào bỏ thiện căn của mình ngay ở cõi đời này.
The Other Pair
https://www.youtube.com/watch?v=gkWdyZFyvO8
Nhân chi sơ, tính bổn thiện.
Trích từ Tam Tự Kinh
何期自性本自清淨
Hà kỳ tự tánh bổn tự thanh tịnh.
Trích từ Pháp Bảo Đàn Kinh
心王
心王無相亦無形,
眼似驪珠也不明。
欲識這般真面目,
呵呵日午打三更。
Tâm vương
Tuệ Trung Thượng Sĩ
Tâm vương vô tướng diệc vô hình,
Nhãn tự ly châu dã bất minh.
Dục thức giá ban chân diện mục,
Ha ha nhật ngọ đả tam canh.
Hòa Thượng Thích Thanh Từ dịch:
Tâm vương không tướng cũng không hình
Mắt tợ ly châu vẫn chẳng minh.
Muốn biết loại này chân diện mục
Ha! ha! giữa ngọ là canh ba.
"The moment you transcend the limitations of your logical mind, there is no such thing as time and space."
― Sadhguru
"Trong nhà Phật thường nói Chân tâm là cái thường biết rõ ràng, tỉnh táo sáng suốt chớ không mờ mờ. Như vậy khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần mình biết rõ ràng, làm sao dừng ở chặng đầu, đó là điều quan trọng. Ngồi gẫm thật kỹ, tôi thấy bây giờ mình nên đặt thành phương tiện. Vừa nhìn chưa cần thấy cái gì, tự nhủ mắt biết thấy là Chân tâm. Biết là tâm. Thấy được cảnh, ngay niệm đầu đừng có niệm thứ hai thứ ba. Thấy biết là Chân tâm, còn thêm cái gì nữa thì quá Chân tâm rồi.
Ngay nơi sáu căn, mắt thấy - biết - dừng. Tai nghe - biết - dừng. Thân xúc chạm - biết - dừng, không cho đi qua niệm thứ hai thứ ba. Tôi sử dụng như thế thấy có hiệu nghiệm. Khi thấy nói Chân tâm, nó dừng lại. Khi nghe nói Chân tâm, nó dừng lại. Vừa khởi phân biệt nói Chân tâm, nó dừng lại. Nếu để nó đi thì nó đi luôn một mạch, chớ không dừng. Muốn nó dừng phải chận lại, bằng cách đem Ông chủ ra chận. Vừa thấy là Chân tâm, vừa nghe là Chân tâm, sáu căn vừa tiếp xúc với sáu trần, vừa ở niệm đầu là Chân tâm. Mới thấy Chân tâm ở sẵn nơi mình, tại vì chúng ta cứ cho qua hoài nên không thấy. Bây giờ ngay nơi niệm đầu nhận là Chân tâm thì các niệm khác không xen vào. Tôi ứng dụng tu phương pháp này thấy có hiệu nghiệm."
― Hòa Thượng Thích Thanh Từ, TIẾN THẲNG VÀO THIỀN TÔNG - KHÁM PHÁ ÔNG CHỦ
“….Khi ta nói dài ngắn tự nhiên ta thấy nó có tướng dài ngắn thay đổi theo nhận thức của ta, nhưng cái tướng vô tướng của chính nó thì không thay đổi, ở đâu cũng vậy, thời gian không gian nào cũng vậy, nhất như bình đẳng. Sở dĩ chúng ta thấy nó có tướng là do biến kế phân biệt, biến kế sở chấp của chúng ta mà nó hình thành ra tướng nọ tướng kia, nên trong kinh nói:
"Nhất nhơn phát chơn quy nguyên,
Thập phương thế giới tận thành tiêu vẫn".
Một người phát tâm trở về bản tánh chơn thật thì cảnh giới của họ, cảnh giới do biến kế sở chấp phân biệt vọng tưởng hiện ra đó, tiêu mất không còn tồn tại. Giống như khi ta nằm mộng thấy vạn cảnh (thập phương thế giới) nhưng khi ta tỉnh thức thì thập phương thế giới rơi rụng hết (tận thành tiêu vẫn). Thành thử cảnh giới đó, thật tướng đó bình đẳng, nó không tùy thuộc ai hết, không tùy thuộc không gian, thời gian, vô thỉ vô chung, vô biến vô trung….”
― Hoà Thượng Thích Thiện Siêu, LƯỢC GIẢNG KINH PHÁP HOA - ĐẠI THỪA DIỆU PHÁP LIÊN HOA KINH
“I see somebody dying, I pick him up. I find somebody hungry, I give him food. He can love and be loved. I don’t look at his color, I don’t look at his religion. I don’t look at anything. Every person whether he is Hindu, Muslim or Buddhist, he is my brother, my sister.”
― Mother Teresa
“There can be no greater gift than that of giving one’s time and energy to help others without expecting anything in return.”
― Nelson Mandela
道意
明月照古井,
井水無波濤。
不被人牽扯,
此心終不搖。
縱被人牽扯,
一搖還復止。
湛湛一片心,
明月古井水。
Đạo ý
Tố Như tiên sinh
Minh nguyệt chiếu cổ tỉnh,
Tỉnh thuỷ vô ba đào.
Bất bị nhân khiên xả,
Thử tâm chung bất dao.
Túng bị nhân khiên xã,
Nhất dao hoàn phục chỉ.
Trạm trạm nhất phiến tâm,
Minh nguyệt cổ tỉnh thuỷ.
Dịch nghĩa
Trăng sáng chiếu giếng xưa,
Nước giếng không nổi sóng.
Không bị người khuấy lên,
Lòng này không xao động.
Dù bị khuấy lên,
Dao động một lúc lại lặng ngay.
Tấm lòng trong vằng vặc,
Như ánh trăng sáng chiếu giếng nước năm xưa.
Tâm nguyệt
Thiền Sư Thích Nhất Hạnh
xôn xao, trời dậy hoàng hôn mới
mắt biếc, chim chuyền lá thủy tinh
thức giấc lãng quên
hồn rựng sáng
hồ Tâm lặng chiếu Nguyệt thanh bình
"Thường người ta cứ lầm, mình là con người này, thân này thể xác này là mình. Nhưng khi tôi đặt câu hỏi "Mình là cái gì?" thì tôi thấy không phải vậy.
Tôi thấy rõ mình là cái thường biết rõ ràng, thanh tịnh, sáng suốt, không có tướng mạo, không có hình dung. Cái đó mới là cái mình."
― Hòa Thượng Thích Thanh Từ, Mình là cái gì?
NAM QUỐC DÂN TU TRI
Sào Nam Tiên Sinh
CHƯƠNG THỨ III
N. 3.― Tính người
Bề ngoài hình chất, ai khác gì ai. Vì có tính người, khác hơn mọi giống. Da hùm lông phụng, nó cũng vẻ vang. Bởi không thiên lương, mới ra cầm thú. Tính ta trời phú, có trí có nhân. Nhân biết yêu người, trí hay học thánh. Lại thêm dũng mãnh, chẳng rụt chẳng kinh. Đủ mọi tính lành, là người cao thượng.
THIÊN LƯƠNG: tính lành. CAO THƯỢNG: tốt bực nhất.
"Virtue is relative to the actions and ages of each of us in all that we do."
― Plato
Câu chuyện quả táo
Một em bé đáng yêu đang cầm hai quả táo trong tay. Mẹ em bước vào phòng và mỉm cười hỏi cô con gái nhỏ: “Con yêu, con có thể cho mẹ một quả táo được không?”.
Em bé ngước nhìn mẹ trong một vài giây, rồi sau đó lại nhìn xuống từng quả táo trên hai tay mình. Bất chợt, em cắn một miếng trên quả táo ở tay phải, rồi lại cắn thêm một miếng trên quả táo bên tay trái.
Nụ cười trên gương mặt bà mẹ bỗng trở nên gượng gạo. Bà cố gắng không để lộ nỗi thất vọng của mình.
Sau đó, cô gái nhỏ giơ lên một trong hai quả táo vừa bị cắn lúc nãy và rạng rỡ nói: “Quả táo này dành cho mẹ nhé, nó ngọt hơn đấy ạ!”.
“Nothing is good or bad, but thinking makes it so.”
— William Shakespeare
Hãy tha thứ để nhẹ tâm
Một thiền sinh hỏi: "Thưa sư phụ, con đau khổ vì cha mẹ tàn nhẫn, vợ con ruồng bỏ, anh em phản bội, bạn bè phá hoại… Con phải làm sao để rũ bỏ được oán hờn và thù ghét đây?"
Vị sư phụ đáp: "Con ngồi xuống tịnh tâm, tha thứ hết cho họ".
Vài hôm sau, người đệ tử trở lại: "Con đã tha thứ cho họ sư phụ ạ. Nhẹ cả người! Coi như xong".
Sư phụ đáp: "Chưa xong, con về tịnh tâm, mở hết lòng ra và thương yêu họ".
Người đệ tử gải đầu "Tha thứ thôi cũng đã quá khó, lại phải thương họ thì...Thôi được con sẽ làm".
Một tuần sau, người đệ tử trở lại, mặt vui vẻ hẳn khoe với sư phụ là đã làm được việc thương những người mà trước đây đã từng đối xử tệ bạc với mình.
Sư phụ gật gù bảo: "Tốt! Bây giờ con về tịnh tâm, ghi ơn họ. Nếu không có họ đóng những vai trò đó thì con đâu có cơ hội tiến hóa tâm linh như vậy".
Lần sau người đệ tử trở lại, lần này tin tưởng rằng mình đã học xong bài vở. Người đệ tử hớm hở thưa rằng mình đã ghi ơn hết mọi người vì nhờ họ mà anh đã học được sự tha thứ!
Sư phụ cười: "Vậy thì con về tịnh tâm lại đi nhé. Họ đã đóng đúng vai trò của họ chứ họ có lầm lỗi gì mà con tha thứ hay không tha thứ?".
“The virtues are lost in self-interest as rivers are lost in the sea.”
― Franklin D. Roosevelt
“You must not lose faith in humanity. Humanity is an ocean; if a few drops of the ocean are dirty, the ocean does not become dirty.”
― Mahatma Gandhi
“….Đức Phật có nói: “được làm người rất quý” vì con người có ý chí biết cải sửa nhân quả thành nghiệp, chuyển nghiệp ác thành thiện cho đến thuần thiện, nếu đủ duyên sẽ dứt nghiệp. Vậy, nếu hiểu rõ nhân quả, cách chuyển nghiệp và sẽ chuyển ngay trong hiện tại: cái quả hiện tại đang nhận chịu, mình có quyền dùng ý chí kinh nghiệm cải sửa “quả xấu thành quả tốt, quả tốt thành quả tốt hơn”, hoặc ngay trong nhân quả và nghiệp lặng lẽ thấy rõ mọi tiến trình diễn biến của nó thì “bất muội nhân quả và nghiệp mà phi nghiệp”….”
― Hòa Thượng Thích Giác Khang, NHẬN THỨC VỀ NHÂN QUẢ VÀ NGHIỆP
“These virtues are formed in man by his doing the actions ... The good of man is a working of the soul in the way of excellence in a complete life.”
― Aristotle, The Nicomachean Ethics
“Mót thời gian để tu, đừng bỏ qua, gặp việc thì làm; rảnh việc thì nhiếp tâm: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.”
― Hoà Thượng Thích Trí Tịnh
"By education I mean an all-round drawing out of the best in the child and man-body, mind and spirit."
― Mahatma Gandhi
Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Chương V - Năm Pháp
XVIII. Phẩm Nam Cư Sĩ
(I) (171) Sợ Hãi
1. Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
2. - Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, nam cư sĩ rơi vào sợ hãi. Thế nào là năm? Sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, đắm say rượu men, rượu nấu.
Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, nam cư sĩ rơi vào sợ hãi.
3. - Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, nam cư sĩ không có sợ hãi. Thế nào là năm? Từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu.
Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, nam cư sĩ không có sợ hãi.
“- Không sát sinh chính là Nhân.
- Không trộm cướp chính là Nghĩa.
- Không tà dâm chính là Lễ.
- Không uống rượu chính là Trí.
- Không nói dối chính là Tín."
― Hòa Thượng Thích Thiện Hoa, TÁM QUYỂN SÁCH QUÝ - QUYỂN TÁM: NĂM YẾU TỐ HÒA BÌNH CỦA PHẬT GIÁO
"Never, never be afraid to do what’s right. Especially if the well-being of a person or animal is at stake. Society’s punishments are small compared to the ones we inflict on our soul when we look the other way."
― Martin Luther King, Jr.
"Ethical axioms are found and tested not very differently from the axioms of science: truth is what stands the test of experience."
― Albert Einstein
春晚
年少何曾了色空,
一春心在百花中。
如今勘破東皇面,
禪板蒲團看墜紅。
Xuân vãn
Sơ Tổ Trúc Lâm
Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,
Nhất xuân tâm tại bách hoa trung.
Như kim khám phá đông hoàng diện,
Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng.
Hòa Thượng Thích Thanh Từ dịch:
CUỐI XUÂN
Thuở bé chưa từng rõ sắc không,
Xuân về hoa nở rộn trong lòng.
Chúa Xuân nay bị ta khám phá,
Thiền bản, bồ đoàn, ngắm cánh hồng.
“"Bản nguyên tự tánh thiên chân Phật", chữ thiên này không phải trời, mà thiên là sẵn có. Nói bản nguyên tức là nói nguồn gốc ban đầu. Nguồn gốc ban đầu của chúng ta chính là ông Phật sẵn có từ muôn đời đó."
― Hòa Thượng Thích Thanh Từ, Tánh Không và Chân Không
234 được trích từ XVIII. PHẨM CẤU UẾ (MALAVAGGA) trong Kinh Pháp Cú – Dhammapada, Hòa Thượng Thích Thiện Siêu dịch.
234. Trong thế gian này ai hay sát sinh, hay nói dối, hay lấy cắp, hay phạm dâm, hay say đắm rượu chè; ai có các hành vi đó tức là đã tự đào bỏ thiện căn của mình ngay ở cõi đời này.
The Other Pair
https://www.youtube.com/watch?v=gkWdyZFyvO8
-
KMD
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 2391
- Tham gia: 11:03, 25/04/14
Vi diệu
Khởi phát nguồn tâm
Hòa Thượng Thích Thiện Siêu
I. Bồ-đề tâm
“Trong các Pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác. Nếu nói hay làm với tâm ô nhiễm, thì sự khổ sẽ theo nghiệp kéo đến như bánh xe lăn theo chân con vật kéo”. “Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác… Nếu nói hoặc làm với tâm thanh tịnh, sự vui vẻ sẽ theo nghiệp kéo đến như bóng theo hình”. “Vậy, chế ngự tâm vào một chỗ, không việc gì chẳng nên” (Pháp Cú 1,2).
Đức Phật dạy những lời này để khuyên chúng ta phải luôn luôn tu tâm, nhận rõ tâm, phát huy hết khả năng tốt đẹp của tâm.
Kinh Tịnh Danh có dạy: “Bồ-đề tâm là cõi Tịnh độ của Bồ-tát”. Tịnh độ của Bồ-tát xây dựng bởi Bồ-đề tâm, nếu không có Bồ-đề tâm thì không xây dựng được Tịnh độ. Lại nữa, Kinh Hoa Nghiêm viết: “Bỏ mất Bồ-đề tâm mà làm các thiện pháp thì đều thành ma nghiệp”. Tại sao vậy? Vì làm các thiện pháp tuy là việc tốt, nhưng nếu hành giả làm việc thiện đó xuất phát từ Bồ-đề tâm thì nó dẫn đưa hành giả tiến đến quả vị giải thoát ngoài vòng chấp ngã, chấp nhơn, chấp chúng sanh, chấp thọ giả, tức ngoài vòng hữu vi sanh tử. Ngược lại, hành giả làm việc thiện mà không xuất phát từ Bồ-đề tâm thì không khỏi vướng vào tâm vì ngã, vì danh lợi, vì ích kỷ, và kết cuộc chỉ đưa đến quả báo là thọ sự an lạc trong cõi trời, cõi người, chứ không đưa đến giải thoát an lạc hoàn toàn. Khi việc thiện đó hết năng lực rồi thì quả báo trong cõi trời cũng hết và quay trở lại làm các loài thấp hơn để chịu cảnh trầm luân đau khổ. Đấy gọi là ma nghiệp (chữ ma ở đây nên hiểu theo nghĩa rộng là ở trong vòng lục đạo tam giới).
Vậy Bồ-đề tâm là gì? Bồ-đề tâm là phiên âm từ chữ Bodhicitta, có nghĩa là tâm giác ngộ, Chánh giác hay là Giác - tức không còn vô minh. Ngôn ngữ học Ấn Độ thường có phức âm, tiếp vĩ ngữ, ý nghĩa của nó cũng thay đổi theo. Ví dụ Bodhi gọi là Bồ-đề nhưng Buddha là đấng Giác Ngộ. Chữ Buddha, Bodhi đều có nghĩa Giác, nhưng khi biến thành Bodhisattva thì đọc là Bồ-đề-tát-đỏa. Chữ Sattva gọi là hữu tình, là một loài sinh vật; loài này được phân biệt theo cao, thấp, lớn, nhỏ, ngu, trí, trời, người, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh… đều nằm trong hữu tình, nhưng khi Giác ngộ thì gọi Bodhisattva và dịch là Bồ-đề-tát-đỏa, là giác hữu tình hay hữu tình giác, tức là loài hữu tình đã có sự giác ngộ, có sự phát tâm Bồ-đề và muốn dẫn dắt kẻ khác giác ngộ nên gọi là Bồ-đề-tát-đỏa, gọi tắt là Bồ-tát.
Khi nói đến Bồ-tát, trong kinh thường chỉ cho người có hạnh tự độ và độ tha, hạnh này phát nguồn từ Bồ đề tâm, cho nên nói không có Bồ-đề tâm thì không có Bồ-tát và Bồ-tát là sự nghiệp tạo thành đưa đến quả Chánh Đẳng Giác và độ thoát chúng sanh.
Hữu tình này có phát Bồ-đề tâm thì gọi là Bồ-tát. Do đó, người muốn thọ giới Bồ-tát, điều quan trọng trước tiên là phát Bồ-đề tâm. Trong giới Bồ-tát, người nào bỏ mất Bồ-đề tâm thì mất giới, nếu không bỏ mất Bồ-đề tâm thì dù có phạm giới còn có thể theo luật phát lộ sám hối được.
Người phát Bồ-đề tâm là người thế nào? Trong kinh Phật dạy: “Người phát Bồ-đề tâm là người phát tâm tỉnh giác, nguyện trên cầu thành Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh” (Cầu thành Phật đạo là tự lợi, hóa độ chúng sanh là lợi tha).
Chư Phật ra đời cốt chỉ cho chúng sanh con đường thoát vòng luân hồi sanh tử, dứt hết nghiệp hữu lậu và tâm hữu lậu, tức là tâm chấp ngã, chấp nhơn, chấp chúng sanh, chấp thọ giả. Người chấp như vậy, dù có tu và làm việc thiện nhưng tâm còn vướng ngã thì việc thiện ấy chỉ là việc thiện hữu lậu, kết quả chỉ được hưởng phước báo ở cõi người, cõi trời. Vậy nên, muốn hưởng quả vô lậu giải thoát thì phải tu và hành thiện theo tâm vô lậu, tâm vô lậu tức là tâm Bồ-đề, là không chấp ngã, chấp nhơn, chấp chúng sanh, chấp thọ giả.
Người chấp ngã là chấp thân thể và tâm niệm vô thường là ta. Khi đã chấp ngã thì thấy ngã của mình là ngã của một con ngưởi, có nhân cách, chứ không phải là súc sanh hay loài địa ngục, ngạ quỷ, thế là chấp nhơn tướng. Lại tự mình thấy mình là một con người, là loài chúng sanh, chứ không phải là loài vô tri vô giác. Đó là chấp chúng sanh tướng. Khi đã chấp mình là một chúng sanh, thì thấy chúng sanh này đang sống trên cõi đời trong khoảng thời gian mấy chục năm gọi là một đời người, chấp như thế gọi là chấp thọ giả tướng. Khi tâm còn vướng vào các vọng tưởng chấp tướng thì ấy là tâm hữu lậu, cấu uế, hẹp hòi, chỉ phát sanh những phiền não và đọa lạc trong tam giới. Chỉ khi nào hành thiện, như Kinh Kim Cang nói: “Với cái tâm không chấp ngã, không chấp nhơn, không chấp chúng sanh, không chấp thọ giả mà làm tất cả việc thiện thì sẽ được kết quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác” mới là sự hành thiện đáo bỉ ngạn.
II. Bốn hoằng thệ nguyện
Căn cứ Bồ-đề tâm mới có Bồ-tát hạnh, không có Bồ đề tâm thì không có Bồ-tát hạnh. Bồ-đề tâm có khi còn gọi là Bồ-đề nguyện, cả hai đều cùng một nghĩa, phát Bồ-đề tâm, hay phát Bồ-đề nguyện cũng đều là tâm thượng cầu, hạ hóa. Vậy hành tướng của Bồ-đề tâm như thế nào? Đó là bốn hoằng thệ nguyện:
Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.
Bốn lời nguyện trên cũng bắt nguồn nơi giáo lý cơ bản của Đức Phật mà khai triển ra. Đức Phật sau khi thành đạo, trước tiên chuyển Pháp luân tại Lộc Uyển, Ngài dạy về pháp Tứ đế cho năm Thầy Kiều-trần-như… gọi là Sơ chuyển pháp luân, đó là Khổ, Tập, Diệt và Đạo đế.
Hành giả Thanh văn tu tập Tứ đế thì đạt được quả vị A-la-hán, dứt trừ ái thủ, ái thủ được dứt là Diệt đế, chứng Hữu dư y Niết-bàn, Vô dư y Niết-bàn. Các vị Bồ tát thì đi xa hơn một bước, cũng từ nơi Tứ đế, nhưng hiểu rõ mục đích siêu việt của Đức Phật trong lời dạy đó mà phát bốn thệ nguyện rộng lớn:
Duyên Khổ đế phát ra lời nguyện: Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ.
Duyên Tập đế phát ra lời nguyện: Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.
Duyên Diệt đế phát ra lời nguyện: Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.
Duyên Đạo đế phát ra lời nguyện: Pháp môn vô lượng thệ nguyện học.
Bốn lời thệ nguyện này rất quan trọng, cần xét đến tác dụng và kết quả của nó để hiểu rõ và áp dụng trong bước đường tu tập.
Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ
Trong câu này có chữ “chúng sanh” cần cắt nghĩa. Trong Kinh Kim Cang nêu ra các loại noãn sanh, thai sanh, thấp sanh và hóa sanh, hữu tưởng, vô tưởng, phi hữu tưởng, phi vô tưởng, hữu sắc, vô sắc. Kinh Từ bi còn nêu chúng sanh hai chân, bốn chân, nhiều chân, đã sanh, sắp sanh, hay hiện có, hoặc lớn, hoặc nhỏ. Chúng sanh giữa thế giới này vô cùng vô tận không sao kể xiết, nếu phân thành sáu nẻo thì gồm có chúng sanh cõi Trời, Người, A-tu-la, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh. Nếu chia theo loại sanh thì gồm có bốn loại: noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh. Vậy mà người tu hành phát nguyện độ tất cả là nhờ hiểu biết giáo lý và lòng từ bi của Phật, thấy chúng sanh tuy vô lượng nhưng đều là như huyễn, nên mới phát nguyện được như vậy.
“Độ chúng sanh” là danh từ đặc biệt của Phật giáo. “Chúng đa sanh tử” là loại hữu tình đang còn ở trong vòng luân hồi, nhiều lần sanh tử vì mắc nhiều nghiệp hữu lậu. Khi còn nghiệp hữu lậu thì phải thọ sanh thân hữu lậu trong tam giới và gọi là chúng sanh. Như vậy, hễ còn một chút vô minh, một niệm tham ái, một chút hữu lậu thì còn là một chúng sanh. Chúng sanh có tướng chúng sanh và tánh chúng sanh. Tướng chúng sanh là chúng sanh mang thân hình của tứ đại vô thường. Tánh chúng sanh là những tánh chấp ngã, chấp nhơn, phân biệt mình, người. Nếu còn mắc hình tướng chúng sanh, nhưng không còn tánh chúng sanh là vô minh, thì giờ phút đó không còn là chúng sanh nữa.
Tự bản tánh không là chúng sanh, nhưng nếu còn móng niệm vọng tưởng là còn chúng sanh. Móng niệm tham thì thành chúng sanh của niệm tham, cho nên móng niệm sân, si, chấp ngã, thì thành chúng sanh của các niệm ấy. Nhưng nếu ngộ nhập lý Vô ngã, tức là vô lậu, thì không còn luân hồi và bấy giờ không còn là chúng sanh nữa.
Đức Phật mặc dầu Ngài hiện diện trên thế giới chúng ta, Ngài có sanh tử như chúng ta, nhưng không thể gọi Ngài là chúng sanh được, mà gọi Ngài là một vị Phật. Vì sao? Vì Ngài đã hết vô minh, hết chấp ngã, cái tướng chúng sanh vẫn còn nhưng tính chúng sanh nơi Ngài không còn nữa. Khi nhìn một chúng sanh, ta thấy người ấy vừa là tính vừa là tướng, cho nên khi nào ta độ cho ta và cho người giải thoát khỏi sự ràng buộc của tham, sân, si thì đó là độ sanh.
Như vậy, việc độ sanh rất đa dạng và tế nhị, nếu có Bồ-đề tâm thì lúc nào cũng có thể độ sanh.
Người Phật tử phải theo học hạnh từ bi của Phật, phát nguyện độ vô biên chúng sanh. Lời nguyện đó không phải là lời nguyện suông không thể thực hành được trong hàng ngày.
Phật dạy có nhiều cách độ sanh: Không phá hoại sự sống của muôn loài, đó là độ sanh. Bảo vệ sự sống, phóng thích sự sống cho muôn loài, đó là độ sanh. Làm cho chúng sanh được giác ngộ giải thoát khỏi vô minh ái thủ, đó là cách độ sanh cao thượng nhất. Ta có thể thực hành hạnh bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự hoặc thực hành lục độ Ba-la-mật để độ sanh.
Hiểu như vậy, mới thấy rõ lời dạy của Phật vô cùng thấm thía. Khi nào biết nghĩ tới tự độ và độ tha, khi đó là Bồ-tát, là ý nghĩa của câu chúng sanh vô biên thệ nguyện độ.
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn
Kinh nói phiền não có 88 thứ hoặc vô lượng vô biên phiền não, nhưng tóm lại không ngoài vô minh, ái và thủ.
Vô minh là sự chấp ngã, chấp mình có một cái ta riêng khác với mọi người, mọi vật. Nhưng ngã không phải là một cái gì độc lập riêng rẽ với cái khác mà chỉ là sự tương quan tương duyên với cái khác mà có. Tôi hiện hữu nhờ có anh, anh hiện hữu nhờ có tôi.
Tôi hiện hữu được nhờ những yếu tố khác như cha mẹ, cơm áo, ánh sáng, không khí, đất, nước, gió, lửa và nhiều sự vật xung quanh, chứ không phải tách ngoài các cái đó mà có sự hiện hữu của tôi. Người khác cũng thế, không phải tách ngoài mọi người, mọi vật mà có sự hiện hữu tồn tại ngoài cái khác để bảo đó là ta. Ai còn thấy mình khác với người khác thì người đó còn vô minh, chính vì sự thấy ấy không đúng với thực tại. Như vậy, ta chỉ nói ngã trên những cái phi ngã, ngã chính là phi ngã, nên ngã chỉ là giả danh. Thực tại, là đạo lý duyên khởi mà nếu nghĩ khác đi thì đó là vô minh, vì vô minh mới sinh ra ái thủ. Chúng ta lấy ví dụ, có hai người lúc đi ngang qua một cánh đồng, cả hai người cùng thấy hoa, một trong hai người thấy hoa, tự nhiên không để ý đến nó và cứ tiếp tục đi, còn người kia thấy hoa lại cho là đẹp mà không biết bản chất của hoa là không đẹp không xấu, bởi nó nở là nở tự nhiên. Nhưng anh ta vọng tưởng cho hoa là đẹp và ưa hoa đó, muốn hái hoa đó, muốn sở hữu hoa đó cho bằng được. Khi đã yêu thích nó thì ban ngày hái không được sẽ chờ hái ban đêm, đêm hái không được thì ăn cắp cho được. Như vậy là anh ta vô minh cho nên mới có ái, có ái cho nên có thủ, dẫn đến hành động tạo nghiệp. Chúng sanh vì ái thủ mà tạo nghiệp nên có luân hồi.
Đức Phật dạy chúng sanh muốn không bị luân hồi thì phải đoạn ái thủ. Ai ngộ được chân lý đó thì bớt đau khổ, ai không ngộ được thì đau khổ lâu dài. Song muốn đoạn tận gốc ái thủ thì phải đoạn vô minh, muốn đoạn vô minh thì phải hiểu rõ thực tướng của vạn pháp là duyên sanh vô tướng, duyên sanh vô tác… Đạo lý Thập nhị nhân duyên Đức Phật dạy rõ ràng như vậy. Muốn đoạn phiền não thì phải có một tâm tỉnh giác. Cho nên, trong phép tu Thiền luôn luôn dùng hai chữ tỉnh giác. Tỉnh giác trong khi đi, đứng, nằm, ngồi, khi ăn, khi mặc, khi ngủ, khi thức… cho đến khi không tham, không sân, không si, cũng biết mình không có ba thứ ấy xâm chiếm. Cách đối trị các phiền não thì nhiều nhưng cách tỉnh giác vẫn là phương pháp hữu hiệu nhất. Ví dụ khi mình khởi tâm tham liền biết và dặn lòng đừng tham, ngay khi ấy lòng tham sẽ lắng xuống. Phép tỉnh giác trong Thiền định giúp ta tĩnh tâm trong những công việc và cử động hàng ngày. Nếu luôn luôn tỉnh giác thì vô minh, ái thủ không làm sao xâm nhập được, tợ như cây bị đốn trụi cành lá, không phát triển được tất sẽ chết.
Tóm lại, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, chủ yếu là đoạn vô minh, ái thủ, vì nó là một mắt xích rất kiên cố, đoạn nó thì phải dùng đến tâm tỉnh giác.
Pháp môn vô lượng thệ nguyên học
Trong suốt 45 năm giảng dạy cho chúng sanh, Đức Phật không đưa ra một pháp môn nhứt định nào hết, nhưng chúng sanh thấy lời Ngài dạy thì thật vô lượng, nó như một phương thuốc trị bệnh. Chúng sanh bệnh khổ. Nguyên nhân khổ của chúng sanh là vô minh, ái và thủ gây ra. Ba thứ giặc phiền não này biến ra muôn hình vạn trạng, nên pháp của Phật cũng có nhiều cách để đối trị. Ví dụ, người có tâm tham dục nhiều thì Phật dạy tu pháp quán bất tịnh, người có tâm sân hận nhiều thì Phật dạy tu phép quán từ bi, người có tâm trì độn nhiều thì Phật dạy tu pháp quán giới phân biệt, quán nhân duyên.
Tóm lại, pháp môn của Phật tùy theo căn bệnh của chúng sanh mà biến chế ra, chứ không có một phương thức gì nhất định. Trong kinh Phật có nêu 37 Pháp trợ đạo, Tứ nhiếp, Lục độ… cũng y như những phương thuốc trị bệnh cho chúng sanh mà thôi.
Trong thời Đức Phật tại thế, có một lần, các Tỳ-kheo trong khi đi hóa đạo, có dạy cho hai đệ tử cư sĩ thợ rèn và thợ giặt, tu hai pháp môn quán bất tịnh và quan sổ tức, cả hai đều tu mà không có kết quả. Họ đi đến hầu Phật trình bày việc trên. Phật hỏi: “Ông ở nhà sống về nghề gì?”. Ông cư sĩ thợ rèn thưa: “Con sống về nghề thợ rèn”. Phật hỏi tiếp: “Các Tỳ-kheo dạy ông tu pháp gì?”. “Dạ! Các Thầy dạy con tu phép quán bất tịnh”. Phật cũng hỏi ông cư sĩ thợ giặt sống nghề gì; ông ta thưa: “Làm nghề thợ giặt”. Phật hỏi: “Các Tỳ-kheo dạy ông tu phép gì?”. Ông đáp: “Dạ! Các Thầy dạy con tu phép quán sổ tức”. Đức Phật dạy: Thôi được, bây giờ Ta chỉ thay đổi phương pháp tu một chút để cho hợp căn cơ hai ông”. Ngài liền dạy: “Ông thợ rèn nên tu phép quán sổ tức, vì hàng ngày thợ rèn phải thụt ống lò hợp với hơi thở vô hơi thở ra của phép quán sổ tức. Còn ông thợ giặt thì nên tu phép quán bất tịnh, vì hàng ngày thợ giặt phải giặt đồ nhơ thì quán bất tịnh dễ thành”. Phật đổi cho họ phương pháp tu như vậy, họ tu một thời gian sau đó có kết quả. Như thế, pháp môn của Phật chỉ là phương thuốc để cứu chúng sanh thoát khổ theo đúng căn cơ, Do vậy, người học đạo phải tìm minh sư, nếu không gặp minh sư thì cố gắng lựa chọn cho được pháp môn thích hợp mà tu thì mới dễ có kết quả.
Tóm lại, dù Phật có vô lượng pháp môn nhưng không ngoài ba pháp môn căn bản nhất đó là Giới, Định, Tuệ.
Giới là gì? Là điều để ngăn chặn tai hại xảy ra. Có giới để giúp ta nhận thức rõ hành động của mình như thế nào là đúng, như thế nào là sai để ngăn chặn sự sai quấy của ba nghiệp, bởi vì tâm và ba nghiệp của ta như ngựa không cương, khi buông ra sẽ chạy rong khắp chốn, tức nhiên là tai họa. Giới cũng như dây cương, ngựa như người hành giả, ngựa có cương đó là ngựa tốt, có lợi ích; người tu hành, có giới cũng vậy, sẽ có lợi ích lớn.
Định là gì? Là tập trung tư tưởng. Tư tưởng có ổn định thì việc làm mới có hiệu quả. Pháp môn Thiền định là pháp môn tu rất quý đã có từ xưa tại Ấn Độ, được Đức Phật sửa đổi bổ sung tạo thành pháp môn ưu việt, đưa thẳng đến giác ngộ cứu cánh, đồng thời cũng từng bước đem lại lợi lạc, hạnh phúc cho hành giả.
Tuệ là gì? Là trí tuệ. Tuệ có ba thứ là Văn tuệ, Tư tuệ, Tu tuệ. Văn tuệ là nhờ chú tâm nghe đọc là hiểu rõ được ý nghĩa của câu văn, lời nói. Tư tuệ là nhờ suy nghĩ hiểu rõ câu văn, lời nói. Nhờ đó mà ta hiểu rõ vấn đề trong thực tế. Tu tuệ là thực hành ngay cả cái Tư tuệ, tức những gì mình đã suy nghĩ, đúng đắn, liền thực hành ngay theo sự suy nghĩ đó. Thí dụ như có một người quá nghèo, không bố thí được nhiều nhưng với tâm từ bi, họ đem một hạt cơm để bố thí cho kiến, cũng là một cách Tu tuệ. Tóm lại, pháp môn nào của Phật, nếu cố gắng suy tư thật kỹ và sau đó áp dụng từng bước hay từng hoàn cảnh cụ thể, tự nhiên thấy khai tâm mở trí và ngay khi đó hưởng được sự an lạc.
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành
Lời nguyện này có hai chừng mực áp dụng: Thành Phật đạo một cách viên mãn như Đức Phật và thành đạo từng phần một như những người đang tu. Nếu mỗi ngày mình có độ sanh, có đoạn phiền não, có hành thiện pháp thì cũng là mỗi ngày mình có thành Phật đạo, chứ không hẳn phải chờ một ngày nào đó ngồi dưới cội Bồ-đề mới gọi là thành Phật đạo. Đây là ý nghĩa câu: “Chư Phật là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”. Vậy trong việc tu tập, giờ phút nào mình không còn tham ái, không còn sân si, không còn vô minh, thì giờ đó mình cũng thành Phật đạo, tức thành tựu lời dạy của Phật, thành tựu sự giải thoát giác ngộ từng phần.
Tóm lại, bốn lời nguyện trên là hành tướng của Bồ đề tâm, ai thành tựu bốn lời nguyện đó là thành tựu Bồ-đề tâm.
Bốn lời nguyện này có thể nói là thâu tóm tất cả các nguyện lực khác. Phật tử tụng kinh hàng ngày với bao nhiêu lời nguyện cũng đều là thực hiện Bồ-đề tâm. Thí dụ như tụng:
Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não
Nguyện đắc trí tuệ chơn minh liễu
Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ
Thế thế thường hành Bồ-tát đạo.
Hoặc:
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
Đây là những thể hiện Bồ-đề tâm qua bốn lời thệ nguyện.
Hòa Thượng Thích Thiện Siêu
I. Bồ-đề tâm
“Trong các Pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác. Nếu nói hay làm với tâm ô nhiễm, thì sự khổ sẽ theo nghiệp kéo đến như bánh xe lăn theo chân con vật kéo”. “Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác… Nếu nói hoặc làm với tâm thanh tịnh, sự vui vẻ sẽ theo nghiệp kéo đến như bóng theo hình”. “Vậy, chế ngự tâm vào một chỗ, không việc gì chẳng nên” (Pháp Cú 1,2).
Đức Phật dạy những lời này để khuyên chúng ta phải luôn luôn tu tâm, nhận rõ tâm, phát huy hết khả năng tốt đẹp của tâm.
Kinh Tịnh Danh có dạy: “Bồ-đề tâm là cõi Tịnh độ của Bồ-tát”. Tịnh độ của Bồ-tát xây dựng bởi Bồ-đề tâm, nếu không có Bồ-đề tâm thì không xây dựng được Tịnh độ. Lại nữa, Kinh Hoa Nghiêm viết: “Bỏ mất Bồ-đề tâm mà làm các thiện pháp thì đều thành ma nghiệp”. Tại sao vậy? Vì làm các thiện pháp tuy là việc tốt, nhưng nếu hành giả làm việc thiện đó xuất phát từ Bồ-đề tâm thì nó dẫn đưa hành giả tiến đến quả vị giải thoát ngoài vòng chấp ngã, chấp nhơn, chấp chúng sanh, chấp thọ giả, tức ngoài vòng hữu vi sanh tử. Ngược lại, hành giả làm việc thiện mà không xuất phát từ Bồ-đề tâm thì không khỏi vướng vào tâm vì ngã, vì danh lợi, vì ích kỷ, và kết cuộc chỉ đưa đến quả báo là thọ sự an lạc trong cõi trời, cõi người, chứ không đưa đến giải thoát an lạc hoàn toàn. Khi việc thiện đó hết năng lực rồi thì quả báo trong cõi trời cũng hết và quay trở lại làm các loài thấp hơn để chịu cảnh trầm luân đau khổ. Đấy gọi là ma nghiệp (chữ ma ở đây nên hiểu theo nghĩa rộng là ở trong vòng lục đạo tam giới).
Vậy Bồ-đề tâm là gì? Bồ-đề tâm là phiên âm từ chữ Bodhicitta, có nghĩa là tâm giác ngộ, Chánh giác hay là Giác - tức không còn vô minh. Ngôn ngữ học Ấn Độ thường có phức âm, tiếp vĩ ngữ, ý nghĩa của nó cũng thay đổi theo. Ví dụ Bodhi gọi là Bồ-đề nhưng Buddha là đấng Giác Ngộ. Chữ Buddha, Bodhi đều có nghĩa Giác, nhưng khi biến thành Bodhisattva thì đọc là Bồ-đề-tát-đỏa. Chữ Sattva gọi là hữu tình, là một loài sinh vật; loài này được phân biệt theo cao, thấp, lớn, nhỏ, ngu, trí, trời, người, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh… đều nằm trong hữu tình, nhưng khi Giác ngộ thì gọi Bodhisattva và dịch là Bồ-đề-tát-đỏa, là giác hữu tình hay hữu tình giác, tức là loài hữu tình đã có sự giác ngộ, có sự phát tâm Bồ-đề và muốn dẫn dắt kẻ khác giác ngộ nên gọi là Bồ-đề-tát-đỏa, gọi tắt là Bồ-tát.
Khi nói đến Bồ-tát, trong kinh thường chỉ cho người có hạnh tự độ và độ tha, hạnh này phát nguồn từ Bồ đề tâm, cho nên nói không có Bồ-đề tâm thì không có Bồ-tát và Bồ-tát là sự nghiệp tạo thành đưa đến quả Chánh Đẳng Giác và độ thoát chúng sanh.
Hữu tình này có phát Bồ-đề tâm thì gọi là Bồ-tát. Do đó, người muốn thọ giới Bồ-tát, điều quan trọng trước tiên là phát Bồ-đề tâm. Trong giới Bồ-tát, người nào bỏ mất Bồ-đề tâm thì mất giới, nếu không bỏ mất Bồ-đề tâm thì dù có phạm giới còn có thể theo luật phát lộ sám hối được.
Người phát Bồ-đề tâm là người thế nào? Trong kinh Phật dạy: “Người phát Bồ-đề tâm là người phát tâm tỉnh giác, nguyện trên cầu thành Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh” (Cầu thành Phật đạo là tự lợi, hóa độ chúng sanh là lợi tha).
Chư Phật ra đời cốt chỉ cho chúng sanh con đường thoát vòng luân hồi sanh tử, dứt hết nghiệp hữu lậu và tâm hữu lậu, tức là tâm chấp ngã, chấp nhơn, chấp chúng sanh, chấp thọ giả. Người chấp như vậy, dù có tu và làm việc thiện nhưng tâm còn vướng ngã thì việc thiện ấy chỉ là việc thiện hữu lậu, kết quả chỉ được hưởng phước báo ở cõi người, cõi trời. Vậy nên, muốn hưởng quả vô lậu giải thoát thì phải tu và hành thiện theo tâm vô lậu, tâm vô lậu tức là tâm Bồ-đề, là không chấp ngã, chấp nhơn, chấp chúng sanh, chấp thọ giả.
Người chấp ngã là chấp thân thể và tâm niệm vô thường là ta. Khi đã chấp ngã thì thấy ngã của mình là ngã của một con ngưởi, có nhân cách, chứ không phải là súc sanh hay loài địa ngục, ngạ quỷ, thế là chấp nhơn tướng. Lại tự mình thấy mình là một con người, là loài chúng sanh, chứ không phải là loài vô tri vô giác. Đó là chấp chúng sanh tướng. Khi đã chấp mình là một chúng sanh, thì thấy chúng sanh này đang sống trên cõi đời trong khoảng thời gian mấy chục năm gọi là một đời người, chấp như thế gọi là chấp thọ giả tướng. Khi tâm còn vướng vào các vọng tưởng chấp tướng thì ấy là tâm hữu lậu, cấu uế, hẹp hòi, chỉ phát sanh những phiền não và đọa lạc trong tam giới. Chỉ khi nào hành thiện, như Kinh Kim Cang nói: “Với cái tâm không chấp ngã, không chấp nhơn, không chấp chúng sanh, không chấp thọ giả mà làm tất cả việc thiện thì sẽ được kết quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác” mới là sự hành thiện đáo bỉ ngạn.
II. Bốn hoằng thệ nguyện
Căn cứ Bồ-đề tâm mới có Bồ-tát hạnh, không có Bồ đề tâm thì không có Bồ-tát hạnh. Bồ-đề tâm có khi còn gọi là Bồ-đề nguyện, cả hai đều cùng một nghĩa, phát Bồ-đề tâm, hay phát Bồ-đề nguyện cũng đều là tâm thượng cầu, hạ hóa. Vậy hành tướng của Bồ-đề tâm như thế nào? Đó là bốn hoằng thệ nguyện:
Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.
Bốn lời nguyện trên cũng bắt nguồn nơi giáo lý cơ bản của Đức Phật mà khai triển ra. Đức Phật sau khi thành đạo, trước tiên chuyển Pháp luân tại Lộc Uyển, Ngài dạy về pháp Tứ đế cho năm Thầy Kiều-trần-như… gọi là Sơ chuyển pháp luân, đó là Khổ, Tập, Diệt và Đạo đế.
Hành giả Thanh văn tu tập Tứ đế thì đạt được quả vị A-la-hán, dứt trừ ái thủ, ái thủ được dứt là Diệt đế, chứng Hữu dư y Niết-bàn, Vô dư y Niết-bàn. Các vị Bồ tát thì đi xa hơn một bước, cũng từ nơi Tứ đế, nhưng hiểu rõ mục đích siêu việt của Đức Phật trong lời dạy đó mà phát bốn thệ nguyện rộng lớn:
Duyên Khổ đế phát ra lời nguyện: Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ.
Duyên Tập đế phát ra lời nguyện: Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.
Duyên Diệt đế phát ra lời nguyện: Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.
Duyên Đạo đế phát ra lời nguyện: Pháp môn vô lượng thệ nguyện học.
Bốn lời thệ nguyện này rất quan trọng, cần xét đến tác dụng và kết quả của nó để hiểu rõ và áp dụng trong bước đường tu tập.
Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ
Trong câu này có chữ “chúng sanh” cần cắt nghĩa. Trong Kinh Kim Cang nêu ra các loại noãn sanh, thai sanh, thấp sanh và hóa sanh, hữu tưởng, vô tưởng, phi hữu tưởng, phi vô tưởng, hữu sắc, vô sắc. Kinh Từ bi còn nêu chúng sanh hai chân, bốn chân, nhiều chân, đã sanh, sắp sanh, hay hiện có, hoặc lớn, hoặc nhỏ. Chúng sanh giữa thế giới này vô cùng vô tận không sao kể xiết, nếu phân thành sáu nẻo thì gồm có chúng sanh cõi Trời, Người, A-tu-la, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh. Nếu chia theo loại sanh thì gồm có bốn loại: noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh. Vậy mà người tu hành phát nguyện độ tất cả là nhờ hiểu biết giáo lý và lòng từ bi của Phật, thấy chúng sanh tuy vô lượng nhưng đều là như huyễn, nên mới phát nguyện được như vậy.
“Độ chúng sanh” là danh từ đặc biệt của Phật giáo. “Chúng đa sanh tử” là loại hữu tình đang còn ở trong vòng luân hồi, nhiều lần sanh tử vì mắc nhiều nghiệp hữu lậu. Khi còn nghiệp hữu lậu thì phải thọ sanh thân hữu lậu trong tam giới và gọi là chúng sanh. Như vậy, hễ còn một chút vô minh, một niệm tham ái, một chút hữu lậu thì còn là một chúng sanh. Chúng sanh có tướng chúng sanh và tánh chúng sanh. Tướng chúng sanh là chúng sanh mang thân hình của tứ đại vô thường. Tánh chúng sanh là những tánh chấp ngã, chấp nhơn, phân biệt mình, người. Nếu còn mắc hình tướng chúng sanh, nhưng không còn tánh chúng sanh là vô minh, thì giờ phút đó không còn là chúng sanh nữa.
Tự bản tánh không là chúng sanh, nhưng nếu còn móng niệm vọng tưởng là còn chúng sanh. Móng niệm tham thì thành chúng sanh của niệm tham, cho nên móng niệm sân, si, chấp ngã, thì thành chúng sanh của các niệm ấy. Nhưng nếu ngộ nhập lý Vô ngã, tức là vô lậu, thì không còn luân hồi và bấy giờ không còn là chúng sanh nữa.
Đức Phật mặc dầu Ngài hiện diện trên thế giới chúng ta, Ngài có sanh tử như chúng ta, nhưng không thể gọi Ngài là chúng sanh được, mà gọi Ngài là một vị Phật. Vì sao? Vì Ngài đã hết vô minh, hết chấp ngã, cái tướng chúng sanh vẫn còn nhưng tính chúng sanh nơi Ngài không còn nữa. Khi nhìn một chúng sanh, ta thấy người ấy vừa là tính vừa là tướng, cho nên khi nào ta độ cho ta và cho người giải thoát khỏi sự ràng buộc của tham, sân, si thì đó là độ sanh.
Như vậy, việc độ sanh rất đa dạng và tế nhị, nếu có Bồ-đề tâm thì lúc nào cũng có thể độ sanh.
Người Phật tử phải theo học hạnh từ bi của Phật, phát nguyện độ vô biên chúng sanh. Lời nguyện đó không phải là lời nguyện suông không thể thực hành được trong hàng ngày.
Phật dạy có nhiều cách độ sanh: Không phá hoại sự sống của muôn loài, đó là độ sanh. Bảo vệ sự sống, phóng thích sự sống cho muôn loài, đó là độ sanh. Làm cho chúng sanh được giác ngộ giải thoát khỏi vô minh ái thủ, đó là cách độ sanh cao thượng nhất. Ta có thể thực hành hạnh bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự hoặc thực hành lục độ Ba-la-mật để độ sanh.
Hiểu như vậy, mới thấy rõ lời dạy của Phật vô cùng thấm thía. Khi nào biết nghĩ tới tự độ và độ tha, khi đó là Bồ-tát, là ý nghĩa của câu chúng sanh vô biên thệ nguyện độ.
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn
Kinh nói phiền não có 88 thứ hoặc vô lượng vô biên phiền não, nhưng tóm lại không ngoài vô minh, ái và thủ.
Vô minh là sự chấp ngã, chấp mình có một cái ta riêng khác với mọi người, mọi vật. Nhưng ngã không phải là một cái gì độc lập riêng rẽ với cái khác mà chỉ là sự tương quan tương duyên với cái khác mà có. Tôi hiện hữu nhờ có anh, anh hiện hữu nhờ có tôi.
Tôi hiện hữu được nhờ những yếu tố khác như cha mẹ, cơm áo, ánh sáng, không khí, đất, nước, gió, lửa và nhiều sự vật xung quanh, chứ không phải tách ngoài các cái đó mà có sự hiện hữu của tôi. Người khác cũng thế, không phải tách ngoài mọi người, mọi vật mà có sự hiện hữu tồn tại ngoài cái khác để bảo đó là ta. Ai còn thấy mình khác với người khác thì người đó còn vô minh, chính vì sự thấy ấy không đúng với thực tại. Như vậy, ta chỉ nói ngã trên những cái phi ngã, ngã chính là phi ngã, nên ngã chỉ là giả danh. Thực tại, là đạo lý duyên khởi mà nếu nghĩ khác đi thì đó là vô minh, vì vô minh mới sinh ra ái thủ. Chúng ta lấy ví dụ, có hai người lúc đi ngang qua một cánh đồng, cả hai người cùng thấy hoa, một trong hai người thấy hoa, tự nhiên không để ý đến nó và cứ tiếp tục đi, còn người kia thấy hoa lại cho là đẹp mà không biết bản chất của hoa là không đẹp không xấu, bởi nó nở là nở tự nhiên. Nhưng anh ta vọng tưởng cho hoa là đẹp và ưa hoa đó, muốn hái hoa đó, muốn sở hữu hoa đó cho bằng được. Khi đã yêu thích nó thì ban ngày hái không được sẽ chờ hái ban đêm, đêm hái không được thì ăn cắp cho được. Như vậy là anh ta vô minh cho nên mới có ái, có ái cho nên có thủ, dẫn đến hành động tạo nghiệp. Chúng sanh vì ái thủ mà tạo nghiệp nên có luân hồi.
Đức Phật dạy chúng sanh muốn không bị luân hồi thì phải đoạn ái thủ. Ai ngộ được chân lý đó thì bớt đau khổ, ai không ngộ được thì đau khổ lâu dài. Song muốn đoạn tận gốc ái thủ thì phải đoạn vô minh, muốn đoạn vô minh thì phải hiểu rõ thực tướng của vạn pháp là duyên sanh vô tướng, duyên sanh vô tác… Đạo lý Thập nhị nhân duyên Đức Phật dạy rõ ràng như vậy. Muốn đoạn phiền não thì phải có một tâm tỉnh giác. Cho nên, trong phép tu Thiền luôn luôn dùng hai chữ tỉnh giác. Tỉnh giác trong khi đi, đứng, nằm, ngồi, khi ăn, khi mặc, khi ngủ, khi thức… cho đến khi không tham, không sân, không si, cũng biết mình không có ba thứ ấy xâm chiếm. Cách đối trị các phiền não thì nhiều nhưng cách tỉnh giác vẫn là phương pháp hữu hiệu nhất. Ví dụ khi mình khởi tâm tham liền biết và dặn lòng đừng tham, ngay khi ấy lòng tham sẽ lắng xuống. Phép tỉnh giác trong Thiền định giúp ta tĩnh tâm trong những công việc và cử động hàng ngày. Nếu luôn luôn tỉnh giác thì vô minh, ái thủ không làm sao xâm nhập được, tợ như cây bị đốn trụi cành lá, không phát triển được tất sẽ chết.
Tóm lại, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, chủ yếu là đoạn vô minh, ái thủ, vì nó là một mắt xích rất kiên cố, đoạn nó thì phải dùng đến tâm tỉnh giác.
Pháp môn vô lượng thệ nguyên học
Trong suốt 45 năm giảng dạy cho chúng sanh, Đức Phật không đưa ra một pháp môn nhứt định nào hết, nhưng chúng sanh thấy lời Ngài dạy thì thật vô lượng, nó như một phương thuốc trị bệnh. Chúng sanh bệnh khổ. Nguyên nhân khổ của chúng sanh là vô minh, ái và thủ gây ra. Ba thứ giặc phiền não này biến ra muôn hình vạn trạng, nên pháp của Phật cũng có nhiều cách để đối trị. Ví dụ, người có tâm tham dục nhiều thì Phật dạy tu pháp quán bất tịnh, người có tâm sân hận nhiều thì Phật dạy tu phép quán từ bi, người có tâm trì độn nhiều thì Phật dạy tu pháp quán giới phân biệt, quán nhân duyên.
Tóm lại, pháp môn của Phật tùy theo căn bệnh của chúng sanh mà biến chế ra, chứ không có một phương thức gì nhất định. Trong kinh Phật có nêu 37 Pháp trợ đạo, Tứ nhiếp, Lục độ… cũng y như những phương thuốc trị bệnh cho chúng sanh mà thôi.
Trong thời Đức Phật tại thế, có một lần, các Tỳ-kheo trong khi đi hóa đạo, có dạy cho hai đệ tử cư sĩ thợ rèn và thợ giặt, tu hai pháp môn quán bất tịnh và quan sổ tức, cả hai đều tu mà không có kết quả. Họ đi đến hầu Phật trình bày việc trên. Phật hỏi: “Ông ở nhà sống về nghề gì?”. Ông cư sĩ thợ rèn thưa: “Con sống về nghề thợ rèn”. Phật hỏi tiếp: “Các Tỳ-kheo dạy ông tu pháp gì?”. “Dạ! Các Thầy dạy con tu phép quán bất tịnh”. Phật cũng hỏi ông cư sĩ thợ giặt sống nghề gì; ông ta thưa: “Làm nghề thợ giặt”. Phật hỏi: “Các Tỳ-kheo dạy ông tu phép gì?”. Ông đáp: “Dạ! Các Thầy dạy con tu phép quán sổ tức”. Đức Phật dạy: Thôi được, bây giờ Ta chỉ thay đổi phương pháp tu một chút để cho hợp căn cơ hai ông”. Ngài liền dạy: “Ông thợ rèn nên tu phép quán sổ tức, vì hàng ngày thợ rèn phải thụt ống lò hợp với hơi thở vô hơi thở ra của phép quán sổ tức. Còn ông thợ giặt thì nên tu phép quán bất tịnh, vì hàng ngày thợ giặt phải giặt đồ nhơ thì quán bất tịnh dễ thành”. Phật đổi cho họ phương pháp tu như vậy, họ tu một thời gian sau đó có kết quả. Như thế, pháp môn của Phật chỉ là phương thuốc để cứu chúng sanh thoát khổ theo đúng căn cơ, Do vậy, người học đạo phải tìm minh sư, nếu không gặp minh sư thì cố gắng lựa chọn cho được pháp môn thích hợp mà tu thì mới dễ có kết quả.
Tóm lại, dù Phật có vô lượng pháp môn nhưng không ngoài ba pháp môn căn bản nhất đó là Giới, Định, Tuệ.
Giới là gì? Là điều để ngăn chặn tai hại xảy ra. Có giới để giúp ta nhận thức rõ hành động của mình như thế nào là đúng, như thế nào là sai để ngăn chặn sự sai quấy của ba nghiệp, bởi vì tâm và ba nghiệp của ta như ngựa không cương, khi buông ra sẽ chạy rong khắp chốn, tức nhiên là tai họa. Giới cũng như dây cương, ngựa như người hành giả, ngựa có cương đó là ngựa tốt, có lợi ích; người tu hành, có giới cũng vậy, sẽ có lợi ích lớn.
Định là gì? Là tập trung tư tưởng. Tư tưởng có ổn định thì việc làm mới có hiệu quả. Pháp môn Thiền định là pháp môn tu rất quý đã có từ xưa tại Ấn Độ, được Đức Phật sửa đổi bổ sung tạo thành pháp môn ưu việt, đưa thẳng đến giác ngộ cứu cánh, đồng thời cũng từng bước đem lại lợi lạc, hạnh phúc cho hành giả.
Tuệ là gì? Là trí tuệ. Tuệ có ba thứ là Văn tuệ, Tư tuệ, Tu tuệ. Văn tuệ là nhờ chú tâm nghe đọc là hiểu rõ được ý nghĩa của câu văn, lời nói. Tư tuệ là nhờ suy nghĩ hiểu rõ câu văn, lời nói. Nhờ đó mà ta hiểu rõ vấn đề trong thực tế. Tu tuệ là thực hành ngay cả cái Tư tuệ, tức những gì mình đã suy nghĩ, đúng đắn, liền thực hành ngay theo sự suy nghĩ đó. Thí dụ như có một người quá nghèo, không bố thí được nhiều nhưng với tâm từ bi, họ đem một hạt cơm để bố thí cho kiến, cũng là một cách Tu tuệ. Tóm lại, pháp môn nào của Phật, nếu cố gắng suy tư thật kỹ và sau đó áp dụng từng bước hay từng hoàn cảnh cụ thể, tự nhiên thấy khai tâm mở trí và ngay khi đó hưởng được sự an lạc.
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành
Lời nguyện này có hai chừng mực áp dụng: Thành Phật đạo một cách viên mãn như Đức Phật và thành đạo từng phần một như những người đang tu. Nếu mỗi ngày mình có độ sanh, có đoạn phiền não, có hành thiện pháp thì cũng là mỗi ngày mình có thành Phật đạo, chứ không hẳn phải chờ một ngày nào đó ngồi dưới cội Bồ-đề mới gọi là thành Phật đạo. Đây là ý nghĩa câu: “Chư Phật là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”. Vậy trong việc tu tập, giờ phút nào mình không còn tham ái, không còn sân si, không còn vô minh, thì giờ đó mình cũng thành Phật đạo, tức thành tựu lời dạy của Phật, thành tựu sự giải thoát giác ngộ từng phần.
Tóm lại, bốn lời nguyện trên là hành tướng của Bồ đề tâm, ai thành tựu bốn lời nguyện đó là thành tựu Bồ-đề tâm.
Bốn lời nguyện này có thể nói là thâu tóm tất cả các nguyện lực khác. Phật tử tụng kinh hàng ngày với bao nhiêu lời nguyện cũng đều là thực hiện Bồ-đề tâm. Thí dụ như tụng:
Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não
Nguyện đắc trí tuệ chơn minh liễu
Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ
Thế thế thường hành Bồ-tát đạo.
Hoặc:
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
Đây là những thể hiện Bồ-đề tâm qua bốn lời thệ nguyện.
- begauhn
- Thất đẳng

- Bài viết: 7025
- Tham gia: 19:03, 29/12/12
- Đến từ: Zalo O942842751
TL: Vi diệu
Hiểu dc pháp thì dễ , hành đc pháp mới khó .
Nó giống như hiểu tập thể dục là tốt , nhưng ko phải ai cũng duy trì đc , họ đều có lý do riêng của mình .
Hầu hết người bán hàng ăn uống cũng biết cái j nên và ko nên , nhưng chuyện ăn bớt hay dùng chất kích thích vẫn luôn xảy ra .
Bởi vậy nên chư phật ko cứu độ ngay . Vì người ta hiểu nhưng ko hành động .
Để cho bệnh tật nguy kịch , mới biết sợ mà kêu cầu quay đầu . Nguyện làm thiện cả đời ..v..v...
Có nghĩa pháp thì hầu hết ai cũng hiểu , nhưng phải lâm cảnh cùng cực , quyền lợi , sự sống bản thân sắp bị tước bỏ , người ta mới thực sự chuyển hóa .
Số người chuyển hóa khi chỉ nghe kinh , đang là giang hồ , nghe vài quyển kinh ông ta hiểu và xả thân vì đời đc luôn , họa chăng có 0,5% mà thôi . Ngẫm 1 tý thì có khi là 0.1%
Nó giống như hiểu tập thể dục là tốt , nhưng ko phải ai cũng duy trì đc , họ đều có lý do riêng của mình .
Hầu hết người bán hàng ăn uống cũng biết cái j nên và ko nên , nhưng chuyện ăn bớt hay dùng chất kích thích vẫn luôn xảy ra .
Bởi vậy nên chư phật ko cứu độ ngay . Vì người ta hiểu nhưng ko hành động .
Để cho bệnh tật nguy kịch , mới biết sợ mà kêu cầu quay đầu . Nguyện làm thiện cả đời ..v..v...
Có nghĩa pháp thì hầu hết ai cũng hiểu , nhưng phải lâm cảnh cùng cực , quyền lợi , sự sống bản thân sắp bị tước bỏ , người ta mới thực sự chuyển hóa .
Số người chuyển hóa khi chỉ nghe kinh , đang là giang hồ , nghe vài quyển kinh ông ta hiểu và xả thân vì đời đc luôn , họa chăng có 0,5% mà thôi . Ngẫm 1 tý thì có khi là 0.1%
-
KMD
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 2391
- Tham gia: 11:03, 25/04/14
Vi diệu
"Số người chuyển hóa khi chỉ nghe kinh , đang là giang hồ , nghe vài quyển kinh ông ta hiểu và xả thân vì đời đc luôn , họa chăng có 0,5% mà thôi . Ngẫm 1 tý thì có khi là 0.1%"
Dân số thế giới hiện nay khoảng 8,000,000,000. Để cho đơn giản, chúng ta hãy cho tất cả "đang là giang hồ".
8,000,000,000 x 0.1% = 8,000,000 "Số người chuyển hóa khi chỉ nghe kinh"
Chúng ta có khoảng 8 triệu người trên khắp thế giới "xả thân vì đời" như Khổng Tử, Lão Tử, Chúa hay Phật rồi. Thật là vi diệu.
Dân số Việt Nam hiện nay khoảng 99,000,000. Để cho đơn giản, chúng ta hãy cho tất cả người Việt Nam "đang là giang hồ".
99,000,000 x 0.1% = 99,000 "Số người chuyển hóa khi chỉ nghe kinh"
Ngài Minh Tuệ là 1 trong 99,000 người Việt Nam vi diệu vậy.
Dân số thế giới hiện nay khoảng 8,000,000,000. Để cho đơn giản, chúng ta hãy cho tất cả "đang là giang hồ".
8,000,000,000 x 0.1% = 8,000,000 "Số người chuyển hóa khi chỉ nghe kinh"
Chúng ta có khoảng 8 triệu người trên khắp thế giới "xả thân vì đời" như Khổng Tử, Lão Tử, Chúa hay Phật rồi. Thật là vi diệu.
Dân số Việt Nam hiện nay khoảng 99,000,000. Để cho đơn giản, chúng ta hãy cho tất cả người Việt Nam "đang là giang hồ".
99,000,000 x 0.1% = 99,000 "Số người chuyển hóa khi chỉ nghe kinh"
Ngài Minh Tuệ là 1 trong 99,000 người Việt Nam vi diệu vậy.
- begauhn
- Thất đẳng

- Bài viết: 7025
- Tham gia: 19:03, 29/12/12
- Đến từ: Zalo O942842751
TL: Vi diệu
Mình đồng ý câu "xả thân vì đời như Khổng tử , lão tử , chúa , phật" của bạn .KMD đã viết: 06:56, 22/09/24 "Số người chuyển hóa khi chỉ nghe kinh , đang là giang hồ , nghe vài quyển kinh ông ta hiểu và xả thân vì đời đc luôn , họa chăng có 0,5% mà thôi . Ngẫm 1 tý thì có khi là 0.1%"
Dân số thế giới hiện nay khoảng 8,000,000,000. Để cho đơn giản, chúng ta hãy cho tất cả "đang là giang hồ".
8,000,000,000 x 0.1% = 8,000,000 "Số người chuyển hóa khi chỉ nghe kinh"
Chúng ta có khoảng 8 triệu người trên khắp thế giới "xả thân vì đời" như Khổng Tử, Lão Tử, Chúa hay Phật rồi. Thật là vi diệu.
Dân số Việt Nam hiện nay khoảng 99,000,000. Để cho đơn giản, chúng ta hãy cho tất cả người Việt Nam "đang là giang hồ".
99,000,000 x 0.1% = 99,000 "Số người chuyển hóa khi chỉ nghe kinh"
Ngài Minh Tuệ là 1 trong 99,000 người Việt Nam vi diệu vậy.
Nhưng bạn đưa ngài Tuệ vào vế này là ko chính xác .
Ngài Tuệ ko tham sân si , sẵn sàng khổ hạnh để giác ngộ thì hoàn toàn đồng ý .
Nhưng nói ngài xả thân vì đời , như kiểu độ hóa chúng sinh hay cứu giúp ai như các đấng bạn vừa liệt kê thì nó lại ko chính xác .
Vì thực tế khi bộ hành , ngài Tuệ lại cần sự tương trợ , hơn là có đủ điều kiện , năng lực mà tương trợ cho kẻ khác .
Nên bản thân cho rằng ngài Tuệ thoát tục , và là người tốt , đáng học hỏi , chứ chưa đến mức "xả thân hay cứu độ chúng sinh"
-
KMD
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 2391
- Tham gia: 11:03, 25/04/14
TL: Vi diệu
“Tự bản tánh không là chúng sanh, nhưng nếu còn móng niệm vọng tưởng là còn chúng sanh. Móng niệm tham thì thành chúng sanh của niệm tham, cho nên móng niệm sân, si, chấp ngã, thì thành chúng sanh của các niệm ấy. Nhưng nếu ngộ nhập lý Vô ngã, tức là vô lậu, thì không còn luân hồi và bấy giờ không còn là chúng sanh nữa.begauhn đã viết: 10:45, 22/09/24Mình đồng ý câu "xả thân vì đời như Khổng tử , lão tử , chúa , phật" của bạn .KMD đã viết: 06:56, 22/09/24 "Số người chuyển hóa khi chỉ nghe kinh , đang là giang hồ , nghe vài quyển kinh ông ta hiểu và xả thân vì đời đc luôn , họa chăng có 0,5% mà thôi . Ngẫm 1 tý thì có khi là 0.1%"
Dân số thế giới hiện nay khoảng 8,000,000,000. Để cho đơn giản, chúng ta hãy cho tất cả "đang là giang hồ".
8,000,000,000 x 0.1% = 8,000,000 "Số người chuyển hóa khi chỉ nghe kinh"
Chúng ta có khoảng 8 triệu người trên khắp thế giới "xả thân vì đời" như Khổng Tử, Lão Tử, Chúa hay Phật rồi. Thật là vi diệu.
Dân số Việt Nam hiện nay khoảng 99,000,000. Để cho đơn giản, chúng ta hãy cho tất cả người Việt Nam "đang là giang hồ".
99,000,000 x 0.1% = 99,000 "Số người chuyển hóa khi chỉ nghe kinh"
Ngài Minh Tuệ là 1 trong 99,000 người Việt Nam vi diệu vậy.
Nhưng bạn đưa ngài Tuệ vào vế này là ko chính xác .
Ngài Tuệ ko tham sân si , sẵn sàng khổ hạnh để giác ngộ thì hoàn toàn đồng ý .
Nhưng nói ngài xả thân vì đời , như kiểu độ hóa chúng sinh hay cứu giúp ai như các đấng bạn vừa liệt kê thì nó lại ko chính xác .
Vì thực tế khi bộ hành , ngài Tuệ lại cần sự tương trợ , hơn là có đủ điều kiện , năng lực mà tương trợ cho kẻ khác .
Nên bản thân cho rằng ngài Tuệ thoát tục , và là người tốt , đáng học hỏi , chứ chưa đến mức "xả thân hay cứu độ chúng sinh"
Đức Phật mặc dầu Ngài hiện diện trên thế giới chúng ta, Ngài có sanh tử như chúng ta, nhưng không thể gọi Ngài là chúng sanh được, mà gọi Ngài là một vị Phật. Vì sao? Vì Ngài đã hết vô minh, hết chấp ngã, cái tướng chúng sanh vẫn còn nhưng tính chúng sanh nơi Ngài không còn nữa. Khi nhìn một chúng sanh, ta thấy người ấy vừa là tính vừa là tướng, cho nên khi nào ta độ cho ta và cho người giải thoát khỏi sự ràng buộc của tham, sân, si thì đó là độ sanh.
Như vậy, việc độ sanh rất đa dạng và tế nhị, nếu có Bồ-đề tâm thì lúc nào cũng có thể độ sanh.”
― Hòa Thượng Thích Thiện Siêu, Khởi phát nguồn tâm
Chúng ta hãy quan sát thì sẽ không khó để nhận ra Ngài Minh Tuệ đã "Khởi phát nguồn tâm" của bao người Việt Nam và trên thế giới.
- begauhn
- Thất đẳng

- Bài viết: 7025
- Tham gia: 19:03, 29/12/12
- Đến từ: Zalo O942842751
TL: Vi diệu
Vậy phải nóiKMD đã viết: 11:14, 22/09/24“Tự bản tánh không là chúng sanh, nhưng nếu còn móng niệm vọng tưởng là còn chúng sanh. Móng niệm tham thì thành chúng sanh của niệm tham, cho nên móng niệm sân, si, chấp ngã, thì thành chúng sanh của các niệm ấy. Nhưng nếu ngộ nhập lý Vô ngã, tức là vô lậu, thì không còn luân hồi và bấy giờ không còn là chúng sanh nữa.begauhn đã viết: 10:45, 22/09/24Mình đồng ý câu "xả thân vì đời như Khổng tử , lão tử , chúa , phật" của bạn .KMD đã viết: 06:56, 22/09/24 "Số người chuyển hóa khi chỉ nghe kinh , đang là giang hồ , nghe vài quyển kinh ông ta hiểu và xả thân vì đời đc luôn , họa chăng có 0,5% mà thôi . Ngẫm 1 tý thì có khi là 0.1%"
Dân số thế giới hiện nay khoảng 8,000,000,000. Để cho đơn giản, chúng ta hãy cho tất cả "đang là giang hồ".
8,000,000,000 x 0.1% = 8,000,000 "Số người chuyển hóa khi chỉ nghe kinh"
Chúng ta có khoảng 8 triệu người trên khắp thế giới "xả thân vì đời" như Khổng Tử, Lão Tử, Chúa hay Phật rồi. Thật là vi diệu.
Dân số Việt Nam hiện nay khoảng 99,000,000. Để cho đơn giản, chúng ta hãy cho tất cả người Việt Nam "đang là giang hồ".
99,000,000 x 0.1% = 99,000 "Số người chuyển hóa khi chỉ nghe kinh"
Ngài Minh Tuệ là 1 trong 99,000 người Việt Nam vi diệu vậy.
Nhưng bạn đưa ngài Tuệ vào vế này là ko chính xác .
Ngài Tuệ ko tham sân si , sẵn sàng khổ hạnh để giác ngộ thì hoàn toàn đồng ý .
Nhưng nói ngài xả thân vì đời , như kiểu độ hóa chúng sinh hay cứu giúp ai như các đấng bạn vừa liệt kê thì nó lại ko chính xác .
Vì thực tế khi bộ hành , ngài Tuệ lại cần sự tương trợ , hơn là có đủ điều kiện , năng lực mà tương trợ cho kẻ khác .
Nên bản thân cho rằng ngài Tuệ thoát tục , và là người tốt , đáng học hỏi , chứ chưa đến mức "xả thân hay cứu độ chúng sinh"
Đức Phật mặc dầu Ngài hiện diện trên thế giới chúng ta, Ngài có sanh tử như chúng ta, nhưng không thể gọi Ngài là chúng sanh được, mà gọi Ngài là một vị Phật. Vì sao? Vì Ngài đã hết vô minh, hết chấp ngã, cái tướng chúng sanh vẫn còn nhưng tính chúng sanh nơi Ngài không còn nữa. Khi nhìn một chúng sanh, ta thấy người ấy vừa là tính vừa là tướng, cho nên khi nào ta độ cho ta và cho người giải thoát khỏi sự ràng buộc của tham, sân, si thì đó là độ sanh.
Như vậy, việc độ sanh rất đa dạng và tế nhị, nếu có Bồ-đề tâm thì lúc nào cũng có thể độ sanh.”
― Hòa Thượng Thích Thiện Siêu, Khởi phát nguồn tâm
Chúng ta hãy quan sát thì sẽ không khó để nhận ra Ngài Minh Tuệ đã "Khởi phát nguồn tâm" của bao người Việt Nam và trên thế giới.
Chúng sinh nhìn tấm gương ngài Tuệ , nên đem lòng trắc ẩn và tự chúng sinh chuyển hóa tâm tính từ trong tâm 1 cách "nhẹ nhàng"
Chứ ko thể dùng từ "xả thân" đc .
Nó giống như thấy bạn kia học giỏi dc khen thưởng , thì các bạn khác trong lớp phấn đấu theo 1 cách tự nguyên .
Ở góc tiềm thức thức thì bạn học giỏi đó đã giúp cả lớp tốt lên .
Nhưng ở góc độ thực tế , thì bạn học giỏi đó ko hề tác động gì đến những người khác , mà là họ tự nhìn tự theo .
Nếu nói con tôi giỏi nó đã xả thân giúp con anh giỏi lên đấy thì nó lại ko logic .
Mà phải là con anh giỏi , nên con tôi học hỏi theo
-
KMD
- Ngũ đẳng

- Bài viết: 2391
- Tham gia: 11:03, 25/04/14
TL: Vi diệu
“Tự bản tánh không là chúng sanh, nhưng nếu còn móng niệm vọng tưởng là còn chúng sanh."begauhn đã viết: 11:30, 22/09/24Vậy phải nóiKMD đã viết: 11:14, 22/09/24“Tự bản tánh không là chúng sanh, nhưng nếu còn móng niệm vọng tưởng là còn chúng sanh. Móng niệm tham thì thành chúng sanh của niệm tham, cho nên móng niệm sân, si, chấp ngã, thì thành chúng sanh của các niệm ấy. Nhưng nếu ngộ nhập lý Vô ngã, tức là vô lậu, thì không còn luân hồi và bấy giờ không còn là chúng sanh nữa.begauhn đã viết: 10:45, 22/09/24
Mình đồng ý câu "xả thân vì đời như Khổng tử , lão tử , chúa , phật" của bạn .
Nhưng bạn đưa ngài Tuệ vào vế này là ko chính xác .
Ngài Tuệ ko tham sân si , sẵn sàng khổ hạnh để giác ngộ thì hoàn toàn đồng ý .
Nhưng nói ngài xả thân vì đời , như kiểu độ hóa chúng sinh hay cứu giúp ai như các đấng bạn vừa liệt kê thì nó lại ko chính xác .
Vì thực tế khi bộ hành , ngài Tuệ lại cần sự tương trợ , hơn là có đủ điều kiện , năng lực mà tương trợ cho kẻ khác .
Nên bản thân cho rằng ngài Tuệ thoát tục , và là người tốt , đáng học hỏi , chứ chưa đến mức "xả thân hay cứu độ chúng sinh"
Đức Phật mặc dầu Ngài hiện diện trên thế giới chúng ta, Ngài có sanh tử như chúng ta, nhưng không thể gọi Ngài là chúng sanh được, mà gọi Ngài là một vị Phật. Vì sao? Vì Ngài đã hết vô minh, hết chấp ngã, cái tướng chúng sanh vẫn còn nhưng tính chúng sanh nơi Ngài không còn nữa. Khi nhìn một chúng sanh, ta thấy người ấy vừa là tính vừa là tướng, cho nên khi nào ta độ cho ta và cho người giải thoát khỏi sự ràng buộc của tham, sân, si thì đó là độ sanh.
Như vậy, việc độ sanh rất đa dạng và tế nhị, nếu có Bồ-đề tâm thì lúc nào cũng có thể độ sanh.”
― Hòa Thượng Thích Thiện Siêu, Khởi phát nguồn tâm
Chúng ta hãy quan sát thì sẽ không khó để nhận ra Ngài Minh Tuệ đã "Khởi phát nguồn tâm" của bao người Việt Nam và trên thế giới.
Chúng sinh nhìn tấm gương ngài Tuệ , nên đem lòng trắc ẩn và tự chúng sinh chuyển hóa tâm tính từ trong tâm 1 cách "nhẹ nhàng"
Chứ ko thể dùng từ "xả thân" đc .
Nó giống như thấy bạn kia học giỏi dc khen thưởng , thì các bạn khác trong lớp phấn đấu theo 1 cách tự nguyên .
Ở góc tiềm thức thức thì bạn học giỏi đó đã giúp cả lớp tốt lên .
Nhưng ở góc độ thực tế , thì bạn học giỏi đó ko hề tác động gì đến những người khác , mà là họ tự nhìn tự theo .
Nếu nói con tôi giỏi nó đã xả thân giúp con anh giỏi lên đấy thì nó lại ko logic .
Mà phải là con anh giỏi , nên con tôi học hỏi theo
Tâm là gốc. Ngài Minh Tuệ đã "Khởi phát nguồn tâm" cho chúng ta rồi thì việc còn lại sẽ do chúng ta.
Chúng ta cũng nên biết không phải ai các Ngài cũng độ được cả nhưng chủng tử Phật có trong A lai da thì thành tựu chỉ là vấn đề thời gian vì chúng ta biết dừng những suy nghĩ lại thì chúng ta không còn là chúng sanh nữa rồi như lời Ngài dạy. Đó là chúng ta tự độ chúng ta vậy.
Đang trực tuyến
Đang xem chuyên mục này: Claude [Bot] và 33 khách.